Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về văn hóa đời sống vào việc giáo dục đạo đức mới, lối sống mới, nếp sống mới cho học sinh, sinh viên hiện nay

  • 24 trang
  • file .docx
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
KHOA BẢO HIỂM
----------------
TIỂU LUẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đời sống vào việc giáo dục đạo
đức mới, lối sống mới, nếp sống mới cho học sinh, sinh viên hiện nay
Giảng viên hướng dẫn : VŨ THỊ TỐ VÂN
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ KIM NGÂN
Lớp : C14-BH1
HÀ NỘI, Tháng 02 Năm 2013
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................1
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.......................3
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản.
...........................................................................................................................................3
1.1.1. Cơ sở lý luận........................................................................................................3
1.1.2. Cơ sở thực tiễn.....................................................................................................3
1.2. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về sự ra đời và vai trò của Đảng
Cộng sản Việt Nam..........................................................................................................4
1.2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.........4
1.2.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam....................6
1.3. Vấn đề bản chất giai cấp công nhân của Đảng.........................................................7
1.3.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp công nhân của Đảng..................7
1.3.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt
Nam. 8
1.4. Quan điểm Hồ Chí Minh về nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng..........................8
1.4.1. Tập trung dân chủ................................................................................................8
1.4.2. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách...................................................................9
1.4.3 Tự phê bình và phê bình.......................................................................................9
1.4.4. Kỷ luật nghiêm minh tự giác................................................................................9
1.4.6. Tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân......................................10
1.5. Quan điểm Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng..........................10
1.5.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về cán bộ...................................................................10
1.5.2 Về công tác cán bộ..............................................................................................11
1.6. Đảng Cộng sản Việt Nam phải thường xuyên chỉnh đốn, tự đổi mới cho Đảng
thật sự trong sạch, vững mạnh........................................................................................12
II. VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN.
............................................................................................................................................12
2.1. Công tác Đảng trong thời gian qua.....................................................................12
2.1.1. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, hoàn thiện đường lối đổi mới và
nâng cao năng lực tổ chức thực hiện...........................................................................12
2.1.2. Tăng cường công tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng.
13
2.1.3. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí.....................13
2.1.4. Đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và của hệ thống chính trị......14
2.1.5. Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ..............15
2.1.6. Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát......................................16
2.1.7. xây dựng và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân........16
2.1.8. Đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng...............................17
2.2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng vào công cuộc xây dựng, chỉnh
đốn Đảng hiện nay.........................................................................................................18
KẾT LUẬN.......................................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................22
Tư tưởng Hồ Chí Minh
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những di sản cực kì quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại
cho dân tộc ta là tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã có công to lớn trong việc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn và
là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công
nhân, lãnh đạp dẫn dắt dân tộc ta đi theo con đường mà Người đã chọn. Là
người sáng lập ra Đảng Cộng sảm Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây
dựng rèn luyện Đảng thành một Đảng macxit chân chính.
Để Đảng làm tròn sứ mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong suốt cuộc
đời mình Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng chỉnh đốn,
đổi mới Đảng để Đảng mãi xứng đáng là người lãnh đạo và đầy tớ trung thành
của nhân dân.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung
và về luận điểm “Đảng phải thường xuyên chăm lo, xây dựng, chỉnh đốn đảng”
nói riêng không chỉ có ý nghĩa lý luận - khẳng định những cống hiến của Người
đối với sự phát triển học thuyết Mác-lênin về Đảng Cộng sản, đặc biệt là đảng
cộng sản ở những nước thuộc địa, phụ thuộc, kinh tế chậm phát triển, mà còn có
ý nghĩa thực tiễn to lớn, nhằm vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người làm cho
Đảng thực sự trong sạch vững mạnh xứng đáng là lực lượng chính trị lãnh đạo
toàn xã hội, thực hiện những nhiệm vụ mà cách mạng nước ta đã đặt ra hiện nay.
Trong bối cảnh quốc tế cũng như trong nước hết sức phức tạp và công cuộc
đổi mới đất nước hiện nay, công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng ở nước ta hiện
nay cũng được nâng lên một bước. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh
đốn, thường xuyên chăm lo công tác chính trị, tư tưởng, đảm bảo sự thống nhất
trong Đảng về nhận thức và hành động.
Do đó, việc nghiên cứu Đảng phải thường xuyên chăm lo, xây dụng và
chỉnh đốn Đảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong việc xây dựng chỉnh đốn Đảng ở nước ta hiện nay.
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 1
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Chính vì vậy, em chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc
xây dựng và chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận của mình.
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc, kết cấu đề tài gồm 2 phần chính:
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam.
II. Vận dụng vào công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Do kiến thức còn hạn chế nên bài làm của em không tránh khỏi những
thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của cô VŨ THỊ TỐ VÂN để
bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 2
Tư tưởng Hồ Chí Minh
I. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM.
Cách mạng Việt Nam đi từ tự phát đến tự giác, có tổ chức, có đường
lối giác ngộ của chủ nghĩa Mác-lênin, giành được thắng lợi to lớn là nhờ có
Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về
Đảng Cộng sản.
1.1.1. Cơ sở lý luận.
Hồ Chí Minh hình thành và phát triển trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin,
trong đó có tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản.
Mác-Angen đã phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhâm gắn
với sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử
giai cấp công nhân cần phải tổ chức ra chính đáng cách mạng của mình. Tuy
nhiên thời kỳ đó chưa có một Đảng Cộng sảm nào được hình thành.
Kế tục sự nghiệp của Mác Angen, Lênin đã nêu lên những quan điểm cơ
bản về Đảng Cộng sản và xây dựng Đảng Cộng sản - Đảng của giai cấp công
nhân.
Đặc biệt Lênin đã đề ra những quan điểm về cách mạng giải phóng dân tộc
theo con đường cách mạng vô sản, trong đó có vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản ở những nước thuộc địa.
Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có lý luận về xây
dựng Đảng Cộng Sản ở những nước thuộc địa để lãnh đạo giai cấp công nhân.
1.1.2. Cơ sở thực tiễn.
Năm 1918, Hồ Chí Minh đã giác ngộ cách mạng và gia nhập Đảng Xã hội
Pháp.
Tháng 12/1920 Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Hồ Chí Minh bỏ phiếu tán
thành gia nhập Quốc tế cộng sản và trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản và lãnh
tụ sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh đã giác ngộ
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 3
Tư tưởng Hồ Chí Minh
sâu sắc và thấu hiểu những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng
Cộng sản.
Sau khi trở thành người Cộng sản, Hồ Chí Minh tích cực truyền bá chủ
nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam và các nước thuộc địa, chuẩn bị cho việc ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến,
kinh tế lạc hậu, giai cấp công nhân còn non trẻ, số lượng chưa nhiều.
Cách mạng tháng 8 thành công, Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng cầm
quyền, Hồ Chí Minh là lãnh tụ Đảng 24 năm. Người hiểu sâu sắc yêu cầu và đề
ra những quyết định đúng đắn về xây dựng Đảng cầm quyền.
Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn lý luận và thực tiễn trong sáng lập
và lãnh đạo Đảng cầm quyền ở Việt Nam.
1.2. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về sự ra đời và vai trò
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Trong tác phẩm "Đường Cách Mệnh" Người nêu: Để làm Cách Mệnh trước
hết phải có cái gì? Người khẳng định: phải có Đảng Cách Mệnh để trong thì vận
động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản
mọi nơi, Đảng có vững thì cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái
có vững thì thuyền mới chạy.
Tác phẩm Đường Cách Mệnh đóng vai trò lý luận và tổ chức để chuẩn bị
cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng tác phẩm này Người đã tập
hợp, giáo dục, giác ngộ lý tưởng cộng sản cho những người yêu nước tiến bối
Việt Nam.
Người về Trung Quốc cải tổ Tâm Tâm Xã thành Việt Nam Thanh niên
cách mạng Đồng chí hội, mở các lớp bồi dưỡng cán bộ đưa về nước hoạt động,
3 tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời ở 3 miền (Đông Dương cộng sản Đảng, An
Nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản Liên đoàn ra đời). Ba tổ chức này
không thống nhất về tư tưởng, tổ chức. Trước tình hình đó, đòi hỏi phải hợp nhất
3 Đảng thành một Đảng duy nhất. Được sự chỉ đạo của Quốc tế cộng sản, từ
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 4
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thái Lan Người về Trung Quốc tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng ở
Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930.
Như vậy quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam có khác gì so với
các Đảng Cộng sản và Đảng của giai cấp công nhân khác?
Xuất phát từ đặc điểm của Châu Âu, Lênin nêu luận điểm về sự ra đời của
Đảng Cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân.
Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam, Người cho rằng:
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước
Việt Nam với chủ nghĩa Mác-Lênin và phong trào công nhân Việt Nam. Trong 3
yếu tố đó Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin là "cơ sở", "nền tảng lý
luận", là "cái cẩm nang thần kỳ", là yếu tố tự giác dẫn đường cho phong trào chủ
nghĩa phát triển từ tự phát đến tự giác. Phong trào công nhân Việt Nam thế kỷ
20 là cái "cốt vật chất", nếu thiếu cái cốt Vật chất đó thì chủ nghĩa Mác-Lênin
cũng không thể phát huy tác dụng được trên mảnh đất Việt Nam. Sự kết hợp này
làm cho cả hai yếu tố trở nên vững chắc. Ngoài 2 yếu tố nêu trên, Người còn nêu
thêm cả phong trào yêu nước Việt Nam. Bởi vì:
- Phong trào yêu nước Việt Nam có từ lâu đời, đã thành truyền thống của
dân tộc Việt Nam. Khi có giai cấp công nhân và phong trào công nhân thì phong
trào yêu nước và phong trào công nhân kết hợp được với nhau ngay từ đầu,
không bài xích nhau như một số nước. Sở dĩ như vậy vì cả hai phong trào này
đều có mục tiêu chung là giải phóng dân tộc và xây dựng một nước Việt Nam
hùng cường.
- Phong trào yêu nước ở Việt Nam chính là phong trào nông dân, vì ở Việt
Nam nông dân chiếm trên 90% dân số, giai cấp công nhân ra đời từ nông dân, 2
giai cấp này là bạn đồng minh tự nhiên của nhau trong cuộc cách mạng giải
phóng và xây dựng đất nước.
- Ở Việt Nam phong trào yêu nước còn có phong trào của Tri thức và Tư
sản dân tộc, những phong trào này đều hướng vào mục tiêu đấu tranh cho độc
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 5
Tư tưởng Hồ Chí Minh
lập, tự do của tổ quốc nên cũng kết hợp dễ dàng với phong trào công nhân. Thực
tế, lịch sử đã chứng minh điều đó.
Như vậy quan điểm Hồ Chí Minh về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam thể hiện sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về Đảng Cộng sản vào
thực tiễn Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu phát triển của cách mạng, thể hiện sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa vấn đề giai cấp với vấn đề dân tộc. Ở Việt Nam cơ
sở giai cấp và xã hội của Đảng Cộng sản không chỉ là giai cấp công nhân mà
còn cả nông dân, tri thức, tiểu tư sản, cả dân tộc. Đảng không chỉ đại biểu cho
lợi ích giai cấp công nhân mà còn đại biểu cho lợi ích cả nhân dân lao động và
cả dân tộc. Ở Việt Nam, giai cấp công nhân đã thật sự trở thành giai cấp dân tộc,
tự mình trở thành dân tộc theo chủ nghĩa Mác-Lênin.
1.2.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nan ra đời để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Sự ra
đời đấu tranh trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam xuất phát từ yêu cầu
này. Mọi giai tầng thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng nhưng không phải là sự lãnh
đạo bất biến nếu Đảng không trong sạch vững mạnh. Vì thế Đảng phải luôn tự
đổi mới, tự chỉnh đốn để ngang tầm yêu cầu cách mạng.
Đảng lãnh đạo là phải đề ra nhiệm vụ chính trị, làm công tác tư tưởng, công
tác tổ chức, đạt mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống
nhất, dân chủ và giàu mạnh.
Như vậy sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi
của cách mạng Việt Nam. Đảng có vai trò lớn đồng thời có trách nhiệm lớn với
vận mệnh dân tộc.
1.3. Vấn đề bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
1.3.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về bản chất giai cấp công nhân của Đảng.
Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân. Điều này được Hồ Chí Minh
khẳng định trong nhiều tác phẩm. Đồng thời Người cũng luôn khẳng định Đảng
Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân, của dân tộc
Việt Nam. Tại Đại hội 2, báo cáo chính trị Người nêu rõ: "Trong giai đoạn hiện
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 6
Tư tưởng Hồ Chí Minh
na, quyền lợi của giai cấp công nhân - nhân dân lao động - dân tộc thống nhất là
một. Chính vì Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam". Tuy cách thể hiện có
khác nhau, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là Đảng của giai cấp Công
Nhân. Khi Đảng mang những tên gọi khác nhau nhưng Đảng ta chỉ mang bản
chất của giai cấp công nhân. Khi khẳng định Đảng ta là Đảng của nhân dân lao
động và của dân tộc thì toàn bộ nguyên tắc tổ chức sinh hoạt, cơ sở lý luận của
Đảng vẫn tuân thủ chặt chẽ học thuyết Mác-Lênin về Đảng kiểu mới của giai
cấp công nhân. Người nhấn mạnh: Về lý luận Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin,
về nguyên tắc Đảng theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng theo đường lối tự
phê bình và phê bình, thi hành kỷ luật sắt nghiêm minh tự giác. Đảng kết nạp,
huấn luyện đoàn viên mới,...
Người khẳng định: Tuy giai cấp công nhân Việt Nam số lượng ít so với dân
số nhưng nó có đủ phẩm chất và năng lực lãnh đạo các giai tầng khác làm cách
mạng để xoá bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Các giai tầng khác tuy đông
đảo nhưng không đảm đương được vai trò lãnh đạo xã hội, mà chịu sự lãnh đạo
của giai cấp công nhân trong cuộc cách mạng giải phóng mình.
Quan niệm Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ của giai cấp công nhân mà
còn của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam có ý nghĩa to lớn đối với
cách mạng Việt Nam. Trong Đảng ngoài thành phần giai cấp công nhân còn có
các thành phần khác, nhưng tính chất giai cấp công nhân phải được tăng cường
để bảo đảm sự thống nhất giữa yếu tố giai cấp và dân tộc. Sức mạnh của Đảng
không chỉ bắt nguồn từ giai cấp công nhân mà còn từ các giai tầng khác, làm
cho Đảng ngày càng lớn mạnh và nhân dân coi Đảng là Đảng của mình.
1.3.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong tác phẩm
Đường Cách Mệnh, Người viết: Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt,
trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng không có chủ nghĩa
như người không có trí khôn, tàu không có bản chỉ nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin
là nền tảng tư tưởng là kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 7
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Bác luôn lưu ý Đảng ta trong nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin
là phải phù hợp với điều kiện từng lúc, từng nơi, từng đối tượng, phải chống
giáo điều, chống xa rời các nguyên tắc cơ bản của học thuyết ấy. Đảng phải biết
kế thừa những kinh nghiệm tốt của các Đảng bạn, khi giải quyết thành công
những vấn đề mới thì phải tổng kết để bổ sung, làm phong phú chủ nghĩa Mác-
Lênin. Đảng ta phải đấu tranh chống lại chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa cơ hội,
chủ nghĩa xét lại, phải bảo vệ tính cách mạng, tính khoa học của chủ nghĩa Mác-
Lênin.
1.4. Quan điểm Hồ Chí Minh về nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.
1.4.1. Tập trung dân chủ.
Đây là nguyên tắc cơ bản. Tập trung, dân chủ có quan hệ chặt chẽ với
nhau: Tập trung nền tàng dân chủ, dân chủ dưới sự chỉ đạo và tập trung.
Đối với tập trung thì thiểu số phải phục tùng vào đa số, cấp dưới phải phục
tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương.
Đối với dân chủ thì mọi người phải bày tỏ hết ý kiến của mình, trong Đảng
phải thực hiện dân chủ rộng rãi. Thực hiện tập trung dân chủ thì "Đảng ta tuy
nhiều người nhưng khi tiến hành thì chỉ như một người thôi. Mọi Đảng viên
phải tuyệt đối chấp hành Nghị quyết của Đảng.
Thực hiện dân chủ trong Đảng là cơ sở để thực hiện dân chủ ngoài xã hội.
Muốn thực hiện dân chủ tốt thì tổ chức Đảng phải trong sạch, vững mạnh, nếu
không sẽ dẫn đến tập trung quan liêu và dân chủ quá trớn.
1.4.2. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách là tập trung dân chủ. Tại sao phải tập thể lãnh đạo? Vì
một người dù khôn ngoan, tài giỏi mấy cũng không thể thấy hết mọi mặt của vấn
đề. Vì thế cần phải có nhiều người, người thấy mặt này, người thấy mặt khác sẽ
tránh được sai lầm.
Vì sao phải có người phụ trách? việc gì bàn kỹ rồi phải giao cho 1 hoặc vài
người chuyên trách, có chuyên trách công việc mới chạy. Nếu không sẽ sinh ra
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 8
Tư tưởng Hồ Chí Minh
dựa dẫm, ỷ lại giống như kiểu nhiều sãi nhưng không ai đóng cửa chùa. Thực
hiện nguyên tắc này phải chống lại bệnh độc đoán, chuyên quyền, vi phạm dân
chủ, dựa dẫm tập thể, không dám quyết đoán, không dám chịu trách nhiệm, hoặc
bao biện,...
1.4.3 Tự phê bình và phê bình.
Đây là quy luật phát triển Đảng. Bởi vì Đảng ta cũng ở trong xã hội. Con
người không phải thần thánh, ai cũng phải có khuyết điểm cả, nên phải tự phê
bình và phê bình như rửa mặt hàng ngày làm cho phần tốt ngày càng nảy nở,
phần xấu ngày càng ít đi. Một Đảng mà dấu khuyết điểm là một Đảng hỏng, có
gan thừa nhận những khuyết điểm, tìm cách sửa chữa để tiến bộ sẽ là một Đảng
chân chính.
Thái độ tự phê bình và phê bình là phải chân thành, thẳng thắn, không nể
nang, không giấu giếm, không thêm bớt, phải có tình đồng chí thương yêu lần
nhau.
1.4.4. Kỷ luật nghiêm minh tự giác.
Hồ Chí Minh yêu cầu, mỗi đảng viên dù ở cương vị nào, làm bất cứ việc gì
cũng phải chấp hành tốt kỷ luật của Đảng. Chỉ khi nào nguyên tắc này thực hiện
tốt thì Đảng mới thực sự là một tổ chức chiến đấu chặt chẽ để giành thắng lợi
cho sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tính nghiêm minh của kỷ luật Đảng đòi hỏi tất cả mọi tổ chức đảng, mọi
đảng viên đều phải bình đẳng trước Điều lệ Đảng, trước pháp luật nhà nước,
trước mọi nghị quyết của Đảng.
Kỷ luật Đảng là kỷ luật sắc, nghiêm minh tự giác. Việc coi thường kỷ luật
Đảng, không tự giác chấp hành kỷ luật sẽ làm suy yếu và tan rã Đảng.
1.4.5. Đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Người nhấn mạnh: Đảng viên phải biết giữ gìn sự đoàn kết thống nhất
trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Đảng không thể thống nhất sẽ
rơi vào bè phái, chia rẽ và tan rã.
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 9
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Muốn đoàn kết phải thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình
và phê bình, tu dưỡng đạo đức, chống chủ nghĩa cá nhân.
1.4.6. Tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân.
Sức mạnh của Đảng là ở nơi dân, Đảng lãnh đạo nhưng dân là chủ nên
Đảng phải biết lắng nghe học hỏi thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của dân, phải
vận động nhân dân xây dựng Đảng. Đảng phải chăm lo nâng cao dân trí, không
được theo đuổi quần chúng. Đảng là người đầy tớ nhưng là người lãnh đạo
người dân. Nếu có chức vụ thì đó là do sự uỷ thác của dân, cần phải làm tốt như
người lính vâng mệnh quốc dân ra mặt trận.
1.5. Quan điểm Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.
1.5.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về cán bộ.
Cán bộ là cái gốc của công việc, muốn việc thành công hay thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém. Người nêu 2 yêu cầu với cán bộ như sau:
Cán bộ phải có đạo đức cách mạng: đạo đức là cái gốc của con người.
Ngoài đạo đức ra cán bộ còn phải có tài, có tài mà không có đức là người vô
dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.
Cán bộ phải có lòng trung thành với Đảng, tổ chức, nhân dân. Cán bộ phải
giữ quan hệ máu thịt với nhâu dân phải là người giàu sang không quyến rũ,
nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục. Phải lo trước thiên hạ,
vui sau thiên hạ, đứng mũi chịu sào, hy sinh lợi ích riêng để phục vụ nhân dân.
- Cán bộ phải luôn học tập nâng cao trình độ, học trong mọi môi trường,
mọi hoàn cảnh.
- Cán bộ phải có năng lực tổ chức thực hiện đường lối, biến chủ trương
đường lối của Đảng thành hiện thực.
- Cán bộ phải có phong cách tốt, nói đi đôi với làm, không quan liêu mệnh
lệnh, phô trương hình thức, phải làm tốt công tác dân vận: Chân đi, tai nghe, mắt
thấy, miệng nói, tay làm.
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 10
Tư tưởng Hồ Chí Minh
1.5.2 Về công tác cán bộ.
Công tác cán bộ có vai trò hết sức quan trọng. Cần làm tốt các việc sau
đây:
Đảng phải hiểu và đánh giá đối với cán bộ. Phải có những chuẩn mực về
cán bộ phù hợp với từng thời kỳ, từng địa phương, từng ngành, từng cấp, từng
lĩnh vực. Tránh đánh giá cán bộ theo lối bè cánh, phe phái cục bộ. Đánh giá cán
bộ phải công minh, đúng đắn.
Phải khéo dùng cán bộ, người ta ai cũng có chỗ hay, chỗ dỡ, cần dùng chỗ
hay, giúp họ sửa chữa chỗ dở, dụng nhân như dụng mộc, gỗ to, nhỏ, thẳng, cong
đều tuỳ chỗ mà dùng được.
Khéo kết hợp cán bộ già và trẻ.
Tích cực đào tạo cán bộ tại chỗ, chiêu hiền đãi sỹ, cầu người hiền tại, có
gan cất nhắc cán bộ, cần kiểm tra, giúp cán bộ trưởng thành.
1.6. Đảng Cộng sản Việt Nam phải thường xuyên chỉnh đốn, tự đổi mới
cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh.
Đảng là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm
của dân tộc. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới trong điều kiện Đảng cầm
quyền. Chỉnh đốn Đảng cần chú ý những vấn đề sau:
- Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là
người lãnh đạo của nhân dân.
- Cán bộ đảng viên phải toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ
Quốc, Có đức, có tài.
- Chú ý khắc phục tiêu cực, luôn giữ gìn Đảng trong sạch, vững mạnh.
- Đảng phải vươn lên đáp ứng yêu cầu tình hình và nhiệm vụ mới.
II. VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN
ĐẢNG HIỆN.
2.1. Công tác Đảng trong thời gian qua.
2.1.1. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, hoàn thiện đường lối đổi
mới và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện.
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 11
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Cụ thể hóa, pháp luật hóa và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối
chính trị, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ Quốc, gắn kết chặt
chẽ và đồng bộ các nhiệm vụ pháp triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là
then chốt và phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội.
Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác –
lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, tri thức mới của thời đại, nâng cao
năng lực trí tuệ, phải xuất phát từ thực tiễn của đất nước. Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ tư duy lý luận, kiên định về nguyên tắc, chiến lược, linh hoạt, sáng tạo về
sách lược, phương pháp. Chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc đổi mới vô
nguyên tắc, chủ quan nóng vội.
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức để nhân dân tham gia xây
dựng đường lối, chủ trương, quyết sách quan trọng của Đảng, Nhà nước. Coi
trọng nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, thường xuyên
bám sát và kịp thời tổng kết thực tiễn làm sáng tỏ những vấn đề mới, bổ sung
hoàn thiện và phát triển đường lối.
Xúc tiến bổ sung, phát triển Cương lĩnh của Đảng phù hợp với yêu cầu,
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
2.1.2. Tăng cường công tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách
mạng.
 Tăng cường công tác tư tưởng:
Đảng chủ động hơn trong công tác tư tưởng. Nghiên cứu xây dựng chiến
lược công tác tư tưởng trong tình hình mới.
Đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Bồi dưỡng lòng yêu nước, yêu
nhân dân, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tăng cường giáo dục
phẩm chất đạo đức cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là đối với thế
hệ trẻ. Chăm lo củng cố đoàn kết, thống nhất và tình đồng chí trong Đảng, sự
đồng thuận trong xã hội. Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên tự phê bình
và phê bình.
 Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân:
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 12
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để mỗi cán bộ,
đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hết lòng
vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng.
Học tập, quán triệt, làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của chủ tịch
Hồ Chí Minh. Đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt đảng bộ, chi bộ. Thường
xuyên lấy ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng
viên. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật nghiêm những cán bộ, đảng
viên vi phạm những quy định về trách nhiệm, phẩm chất, đạo đức, lối sống.
2.1.3. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí.
Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm
của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội. Các cấp ủy và tổ chức đảng phải nhận thức sâu sắc tính
cấp thiết, lâu dài, phức tạp và khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí. Có quyết tâm chính trị cao, đấu tranh kiên quyết, kiên trì, liên
tục, có hiệu quả từ trung ương đến cơ sở, trong Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.
Tăng cường chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy công tác
kiểm tra và kỷ luật của Đảng. Củng cố, kiện toàn, nâng cao hiệu lực của hệ
thống thanh tra các cấp, các cơ quan bảo vệ pháp luật và sự phối hợp chặt chẽ
giữa các cơ quan có liên quan.
Xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai theo kỷ luật Đảng và pháp luật
của Nhà nước đối với những cán bộ, công chức tham nhũng, bao che cho tham
nhũng, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của nhân dân, dù người đó ở chức
vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu. Tịch thu tài sản có nguồn gốc từ tham
nhũng.
Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị phải lãnh đạo
chặt chẽ cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, không để nhũng
phần tử xấu, các thế lực thù địch lợi dụng cuộc đấu tranh này kích động, gây rối.
Thành lập các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng trung ương và địa
phương đủ mạnh, có thực quyền, hoạt động có hiệu quả. Đẩy mạnh hợp tác quốc
tế về phòng, chống tham nhũng.
2.1.4. Đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và của hệ thống
chính trị.
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 13
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, quy chế hóa nguyên tắc tập trung dân chủ
và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Hoàn thiện quy chế, quy trình
về công tác tổ chức bảo đảm mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng.
Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và của hệ thống
chính trị. Xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu bộ máy, cơ chế vận
hành, lề lối làm việc.
Cải tiến lề lối làm việc, nâng cao chất lượng nghiên cứu, đề xuất, tham
mưu, hướng dẫn, kiểm tra của các cơ quan tham mưu của Đảng các cấp.
Tổng kết về tổ chức và hoạt động của ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng
ủy khối cả về lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó Ban chấp hành trung ương, Bộ
chính trị sẽ xem xét, quyết định về mô hình và phương thức hoạt động của tổ
chức bộ này.
Tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp trong sạch,
vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Nâng cao
chất lượng hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, bảo
đảm thực hiện đúng thẩm quyền và tự chịu trách nhiệm trong phạm vi được
phân cấp.
2.1.5. Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
 Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ:
Quán triệt và thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công
tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổ
chức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu tổ chức. Xác định rõ trách
nhiệm của tập thể và trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng
đầu trong công tác cán bộ. Có chính sách, quy chế tôn vinh những người có
công, bố trí, sử dụng đúng những người có năng lực, hết lòng vì dân, vì nước.
Khuyến khích những người năng động, sáng tạo, có sáng kiến, có ý tưởng mới.
Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bội các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào
tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiện chính sách
cán bộ. Đánh giá cán bộ phải công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và
công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất
và năng lực cán bộ.
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 14
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Ban chấp hành trung ương cần có hội nghị chuyên đề bàn về công tác xây
dựng Đảng, về cán bộ và công tác cán bộ trong thời kỳ mới.
 Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ:
Hết sức chú trọng công tác bảo vệ Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ
chức. Bảo vệ chính trị nội bộ là trách nhiệm của toàn Đảng, trước hết là của các
cấp ủy đảng. Bảo vệ chính trị nội bộ phải trên cơ sở chủ nghĩa Mác – lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh, bảo vệ Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của Đảng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, bảo vệ
cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành, trung thực với Đảng,
không giấu giếm, khai man lịch sử chính trị bản thân và gia đình.
Củng cố, kiện toàn cơ quant ham mưu của Đảng về công tác bảo vệ chính
trị nội bộ, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, tăng cường cán bộ có chất lượng, xây
dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ
quan liên quan.
2.1.6. Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát với nhận thức và yêu cầu mới:
Công tác kiểm tra, giám sát phải góp phần phát hiện và khắc phục được những
khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha. Bên cạnh việc tiếp tục thực hiện kiểm
tra tổ chức và cá nhân đảng viên có dấu hiệu vi phạm, phải tăng cường chủ động
giám sát, kiểm tra về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ
chức đảng, cán bộ, đảng viên, về nhận thức và chấp hành đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và bảo vệ chấp hành Điều lệ
Đảng.
Xây dựng quy chế tiếp nhận, xử lý ý kiến của Mặt trận, các đoàn thể và
của nhân dân nhận xét, phê bình tổ chức đảng và cán bộ đảng viên.
Kiện toàn tổ chức, tăng cường cán bộ có chất lượng, cải thiện điều kiện,
phương tiện làm việc của ủy ban kiểm tra các cấp.
2.1.7. xây dựng và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân
dân.
Phải quán triệt và thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những
quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân: thực hiện đại
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 15
Tư tưởng Hồ Chí Minh
đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đội ngũ trí thức. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào
nhân dân để xây dựng Đảng, Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý là để bảo đảm
quyền làm chủ của nhân dân. Cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là
công bộc của nhân dân.
Chăm lo thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, xử lý đúng đắn,
kịp thời các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Điều hòa hợp lý lợi ích xã hội của
các tầng lớp dân cư, các vùng, miền, lĩnh vực. chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân, nhất là bộ phận có nhiều khó khăn trong công nhân, nông
dân, đồng bào các dân tộc thiểu số, ở vùng sâu, vùng xa.
Hoàn thiện những thiết chế thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, bảo
đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thực hiện có hiệu quả quy chế
dân chủ ở cơ sở, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ
đại diện.
Phát huy vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Phát huy trí tuệ và năng lực của đội ngũ
tri thức, trọng dụng nhân tài. Tạo điều kiện và phát huy tiềm năng, vai trò của
doanh nhân, của người Việt Nam ở nước ngoài trong việc phát triển sản xuất,
kinh doanh, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tăng cường các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tương thân, tương ái và
công tác vận động đồng bào ta định cư ở nước ngoài.
2.1.8. Đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế.
Nghiên cứu, tổng kết, tiếp tục làm rõ quan điểm về Đảng lãnh đạo và
Đảng cầm quyền làm cơ sở đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách
cơ bản, toàn diện.
Cụ thể hóa cương lĩnh, Hiến pháp và điều lệ Đảng về phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội. Xác định rõ chức năng,
nhiệm vụ, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân
dân.
SV: Nguyễn Thị Lan Anh-C14BH1 Trang 16