Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ việt nam

  • 91 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của
người phụ nữ Việt Nam hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ Việt Nam là một lực lượng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách
mạng và trong sản xuất. Với tinh thần yêu nước sâu sắc, phụ nữ Việt Nam đã dũng
cảm tham gia vào các phong trào giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng
chính mình. Ngày nay, trong không khí sôi động của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất
nước, phụ nữ Việt Nam phát huy truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ hăng hái
tham gia vào các hoạt động xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Quá
trình đó cùng với đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh
tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
với nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động. Cơ chế kinh tế mới đã làm cho mọi
hoạt động của người dân Việt Nam nói chung, phụ nữ nói riêng càng trở nên năng
động, sáng tạo hơn, đồng thời ở họ từng bước hình thành những chuẩn mực, những
quan hệ đạo đức mới trong xã hội.
Qua 15 năm đổi mới chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng được giữ vững, quan hệ đối ngoại
được mở rộng, đời sống của nhân dân từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, trên bước
đường thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập khu vực và quốc tế, sự phát
triển của nền kinh tế thị trường với những mặt trái của nó đã tác động đến các tầng lớp
xã hội, trong đó có phụ nữ. Vấn đề việc làm, sự nghèo đói, các tệ nạn xã hội có xu
hướng gia tăng, nạn mại dâm, ma túy, hiện tượng bạo lực đối với phụ nữ đang là
những vấn đề bức bách; những giá trị đạo đức truyền thống ít được chú trọng, có nơi,
có lúc còn bị mai một. Trong xã hội xuất hiện những thái độ, hành vi đạo đức không
lành mạnh trong các quan hệ xã hội, một bộ phận người dân nói chung, phụ nữ nói
riêng suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống. Tình trạng đó lan tràn ở nhiều nơi, ảnh
hưởng tới đạo đức người phụ nữ. Do vậy, việc kế thừa, giữ gìn, phát huy các giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống phụ nữ nói riêng trong việc xây
dựng đạo đức mới của người phụ nữ là công việc rất cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn đối với sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc từ trước tới nay đã có
nhiều công trình nghiên cứu như: "Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam" của GS
Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội, 1980); "Tìm hiểu tính cách dân tộc" của GS
Nguyễn Hồng Phong (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963). Trong các công trình
nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc được hình thành trong lịch sử và vận động tới ngày nay.
Giá trị đạo đức truyền thống phụ nữ là một bộ phận của giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu về truyền thống đạo đức của phụ nữ GS Trần Quốc
Vượng đã có công trình nghiên cứu "Truyền thống phụ nữ Việt Nam" do Nxb Văn hóa
- dân tộc phát hành năm 2000. Ngoài ra còn có nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu về
truyền thống đạo đức người phụ nữ.
Trước những đổi thay không ngừng của đất nước, nhiều chuẩn mực đạo đức
mới ra đời, nhưng cũng nhiều giá trị đạo đức truyền thống dân tộc bị mai một, suy
thoái. Vì vậy, việc nghiên cứu, xác định các giá trị đạo đức truyền thống cần được kế
thừa, phát huy trong điều kiện mới có nhiều công trình khoa học nghiên cứu như: Hội
nghị khoa học "Giá trị văn hóa tinh thần Việt Nam" do Viện Mác - Lênin và Tạp chí
Cộng sản tổ chức năm 1982 được in trong hai tập sách có tên "Về giá trị văn hóa tinh
thần Việt Nam" do Nhà xuất bản Thông tin lý luận ấn hành năm 1983. Công trình khoa
học công nghệ cấp Nhà nước "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội" (KX-07) trong đó có kết quả của đề tài "Các giá trị truyền thống
và con người Việt Nam hiện nay" (KX-07-02) khẳng định các giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc cần được phát huy trong giai đoạn cách mạng mới.
Cùng với việc nghiên cứu các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc có nhiều
công trình nghiên cứu về đạo đức như "Đạo đức mới" của GS Vũ Khiêu (Nxb Khoa học
xã hội, 1974); "Chủ động và tích cực xây dựng đạo đức mới" của GS Tương Lai (Nxb
Sự thật, 1983), và Hội nghị khoa học "Về việc nghiên cứu những vấn đề đạo đức trong
thời kỳ quá độ" do Ban Đạo đức học - Viện Triết học và ủy ban Khoa học xã hội nhân
văn tổ chức năm 1983, với các chủ đề: Phụ nữ và vấn đề hình thành đạo đức mới, văn hóa
đạo đức và vấn đề giáo dục con người mới, truyền thống và hiện đại trên lĩnh vực đạo
đức...
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí Trung ương và
địa phương đề cập đến vấn đề kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc như "Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất
nước, dân tộc" của PGS Nguyễn Văn Huyên (Tạp chí Triết học, số 4, 1998); "Sự biến
đổi của thang giá trị đạo đức trong xã hội ta hiện nay và việc nâng cao phẩm chất đạo
đức của cán bộ" của PGS Nguyễn Chí Mỳ và Nguyễn Thế Kiệt (Tạp chí Cộng sản, số
15, 1998)...; một số công trình nghiên cứu của cá nhân như "Kế thừa giá trị đạo đức
truyền thống của phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay" (Luận văn thạc sĩ của Lê Thị
Minh Hiệp, 2000). Các bài viết về vấn đề phẩm chất đạo đức mới của người phụ nữ
hiện nay như "Phụ nữ Việt Nam với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước" của Trương Mỹ Hoa, Tạp chí Cộng sản, số 20, 1996; "Phụ nữ Việt Nam bước
vào thế kỷ XXI" của GS Lê Thi (Tạp chí Cộng sản, số 20, 2000)...
Như vậy, vấn đề kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc,
truyền thống phụ nữ, vấn đề đạo đức mới của toàn dân nói chung, phụ nữ nói riêng đã
được nhiều người, nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu. Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu về vấn đề phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc trong
việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam hiện nay .
3. Mục đích của luận văn
Từ những nội dung, yêu cầu của việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ
hiện nay; qua tìm hiểu thực trạng và một số vấn đề nảy sinh trong việc phát huy giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc ở tỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ sở đó đề xuất một số phương
hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong việc xây
dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay.
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên luận văn phải giải quyết ba nhiệm vụ, đó
là:
- Chỉ ra được những nhân tố tác động tới đạo đức người phụ nữ hiện nay.
- Xác định được các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần phát huy; những
yêu cầu, nội dung của các chuẩn mực đạo đức mới của người phụ nữ trong giai đoạn
phát triển hiện nay của đất nước.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy hơn nữa giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ
hiện nay ở nước ta.
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức truyền thống phụ nữ cần
được kế thừa, phát huy ở đây về mặt tích cực.
Luận văn chủ yếu tập trung phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến đạo đức của
người phụ nữ hiện nay, được nảy sinh từ khi Đảng ta chủ trương tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước (1986), qua khảo sát thực tế tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phát huy giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc, vấn đề xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ.
Phương pháp chủ yếu để thực hiện luận văn này là tổng hợp các nguyên tắc
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
trong đó chủ yếu là phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, trừu tượng - cụ
thể. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để so sánh đối
chiếu, sử dụng những số liệu của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Vĩnh Phúc đã được công
bố.
6. Cái mới và ý nghĩa của luận văn
Luận văn xác định được những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần phát
huy đối với người phụ nữ Việt Nam; những yêu cầu, nội dung cơ bản về chuẩn mực
đạo đức mới của người phụ nữ Việt Nam trong tình hình hiện nay.
Luận văn đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm phát huy giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ
Việt Nam hiện nay.
Luận văn góp phần vào việc nhận thức vai trò lâu dài của việc phát huy các giá
trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước hiện nay.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy,
học tập về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, truyền thống phụ nữ, về đạo đức mới
của người phụ nữ trong trường Đảng và các trường học ở Vĩnh Phúc.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được trình bày trong hai chương, bốn tiết.
Chương 1
Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc với việc
xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay
1.1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và giá trị đạo đức truyền thống
phụ nữ
1.1.1. Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
Giá trị là khái niệm trung tâm của giá trị học với tính cách là một khoa học và
được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn như
triết học, tâm lý học, đạo đức học, xã hội học, kinh tế học... với những nội dung rộng
hẹp, cụ thể khác nhau.
Giá trị là ý nghĩa của những hiện tượng vật chất hay tinh thần có khả năng
thỏa mãn nhu cầu tích cực của con người, là những thành tựu góp phần vào sự phát
triển xã hội, phục vụ cho lợi ích và hạnh phúc của con người.
Giá trị có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người. Nó là cơ sở để con
người căn cứ vào đó mà xác định mục đích, phương hướng sống cho hoạt động của
mình. Vì vậy, "nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện,
nghĩa là đã bao hàm cả quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái
đẹp, là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và nỗ lực vươn tới" [7,
tr. 16]. Như vậy, có những giá trị chung toàn nhân loại, cũng có giá trị lâu bền được kế
thừa qua nhiều thời đại và được nâng cao lên, nhưng cũng có những giá trị có phạm vi
ảnh hưởng và thời gian tồn tại ít hơn. Có những giá trị sẽ mất đi hoặc mờ nhạt dần khi
hoàn cảnh lịch sử thay đổi và có những giá trị mới được hình thành. Những giá trị
chung, phổ biến được coi như phương tiện cơ bản tạo nên sự liên kết các thành viên
trong cộng đồng.
Trong việc nghiên cứu giá trị, ở cấp độ chung nhất giá trị được chia thành giá
trị vật chất và giá trị tinh thần. Giá trị tinh thần được chia thành các loại giá trị cơ bản
như: giá trị khoa học, giá trị đạo đức, giá trị chính trị, giá trị thẩm mỹ... Giá trị đạo đức
được hình thành từ trong lịch sử và trường tồn đến hiện đại, tạo thành giá trị truyền
thống và giá trị hiện đại. Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình do lịch sử để lại.
Truyền thống dân tộc là những đức tính, những lề thói, phong tục đã trở nên ổn định
được đông đảo thừa nhận và đã ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội, được nối dài theo
nhiều thế hệ, qua nhiều đời của dân tộc. Từng dân tộc khác nhau có truyền thống khác
nhau, "giá trị truyền thống dân tộc được cô đúc nên trong suốt quá trình hình thành,
tồn tại và phát triển của dân tộc... cho nên có thể nói, giá trị truyền thống là cái thể
hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất cốt lõi văn hóa
dân tộc" [39, tr. 9].
Dân tộc Việt Nam với các điều kiện địa lý, môi trường, lịch sử và xã hội đã
hình thành nên những nét giá trị truyền thống riêng.
Giá trị đạo đức truyền thống là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của dân
tộc Việt Nam, nó là một dòng chảy liên tục nảy sinh, phát triển trong suốt tiến trình
dựng nước, giữ nước của cha ông ta, và được tích lũy, lưu truyền, chắt lọc, chuyển
giao, tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ đời này qua đời khác. Giá trị đạo đức
truyền thống là cái tồn tại mãi mãi với dân tộc "sau tất cả những gì đã mất đi trong quá
trình vận động" [46, tr. 103].
Từ trước tới nay, việc nghiên cứu để xác định các giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc đã được nhiều người, nhiều nhà khoa học quan tâm.
GS Trần Văn Giàu cho rằng, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt
Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa
[25, tr. 94].
GS Vũ Khiêu đưa ra quan điểm, trong những truyền thống quý báu của dân
tộc, nổi bật nhất là truyền thống đạo đức và khẳng định, truyền thống đạo đức của dân
tộc ta bao gồm: lòng yêu nước; truyền thống đoàn kết; lao động cần cù và sáng tạo;
tinh thần nhân đạo lòng yêu thương và quý trọng con người, trong đó yêu nước là bậc
thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [42, tr. 74-86].
Kết quả nghiên cứu của Chương trình Khoa học công nghệ cấp Nhà nước:
"Con người Việt Nam - và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) cũng
khẳng định: cốt lõi của các giá trị truyền thống là đạo đức, phẩm chất, nhân cách con
người Việt Nam bao gồm: tinh thần yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người [8, tr. 32-
34].
Những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cũng được đề cập đến trong một số
Văn kiện của Đảng và các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết 09 của Bộ
Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay khẳng định:
"Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt Nam là lòng yêu nước
nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc. Đạo lý "thương người như thể thương thân", đức
tính cần cù, vượt khó, sáng tạo trong lao động" [14, tr. 19]. Nghị quyết Hội nghị lần
thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, có viết:
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng
ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn,
ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá
nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái; khoan dung, trọng nghĩa
tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng
xử; tính giản dị trong lối sống... [16, tr. 56].
Từ cách tiếp cận về giá trị, giá trị đạo đức truyền thống và từ quan điểm của
Đảng ta cũng như của các nhà khoa học, có thể khẳng định các giá trị đạo đức truyền
thống cơ bản của dân tộc ta bao gồm:
- Chủ nghĩa yêu nước.
- Lòng thương người.
- Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc.
- Cần cù, tiết kiệm.
Trong hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, chủ nghĩa yêu nước là
"động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất
trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc ta" [42, tr. 74]. Chủ nghĩa yêu nước là tình
yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành
động tích cực để phục vụ và đem lại lợi ích cho Tổ quốc và nhân dân. Nó trở thành
một giá trị, một động lực tinh thần vô cùng mạnh mẽ thúc đẩy biết bao thế hệ kiên
cường, anh dũng hy sinh để giành lại và giữ gìn nền độc lập Tổ quốc, bảo vệ những
phẩm giá của chính con người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không chỉ là một giá trị
mà nó còn là cội nguồn, là cơ sở của các giá trị khác, nhất là các giá trị văn hóa.
Yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi con người Việt Nam, nó là thước đo giá
trị nhân phẩm của con người, chi phối mỗi người trong suy nghĩ và hành động. Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý
báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại
sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua
mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước
[60, tr. 171].
Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, yêu nước đối với
nhân dân ta trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn
hóa để tạo sức mạnh bên trong bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc.
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được thể hiện cụ thể ở lòng dũng cảm và ý chí
bất khuất, đó là chủ nghĩa anh hùng. Là những người hết mực yêu hòa bình, yêu tự do,
nên khi bờ cõi bị xâm chiếm, nhân dân bị nô lệ, người Việt Nam "thà hy sinh tất cả
chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" [59, tr. 480]. Chủ
nghĩa yêu nước là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện
đại" [25, tr. 100], nó trở thành đạo lý và lẽ sống của mỗi người được sinh ra và lớn lên
trên đất nước Việt Nam.
Truyền thống yêu nước của người Việt Nam luôn gắn bó chặt chẽ với lòng
thương yêu và quý trọng con người, nhất là người lao động.
Lòng thương người của dân tộc ta thấm đượm trong các mối quan hệ giữa các
thành viên trong gia đình, trong làng xóm và trong cả cộng đồng dân tộc. Người Việt
coi trọng tình nghĩa hơn lễ nghĩa. Tình ở đây là tình cảm sâu sắc "máu chảy ruột
mềm", thương nhau giữa những người trong một nước. Nghĩa ở đây là trách nhiệm của
mỗi người trước sự sống còn của đất nước, tình nghĩa ở đây cũng là thái độ thủy chung
trong tình yêu, tình bạn. Vì vậy, mà trong lịch sử dân tộc, những tấm gương vì nghĩa
được ngợi ca, còn những hiện tượng "vô nhân đạo", "phụ tình bạc nghĩa" thường bị dư
luận xã hội lên án phản đối. Cũng với tình nghĩa ấy, dân tộc ta còn có thái độ nhân đạo
khoan dung đối với cả quân thù, khi chúng đã hạ súng, bại trận thì "cấp ngựa cấp
thuyền" cho lui về nước. Tinh thần nhân ái trong truyền thống của dân tộc ta cũng
không hoàn toàn giống với nội dung "nhân", "nghĩa" của Nho giáo, chữ "nhân", "nghĩa"
đó thông qua lăng kính nhân sinh quan của người Việt đã mang một nội dung mới, nó
không còn giữ nguyên nghĩa như quan niệm của Khổng giáo; nó cũng khác với quan
niệm "từ ", "bi" của Phật giáo hướng con người đi tu hành để mong giải thoát khỏi "bể
khổ" nơi trần thế.
Lòng thương người là một trong những truyền thống rất đáng tự hào của dân
tộc ta, truyền thống này đã được Đảng ta khẳng định:
Người Việt Nam vẫn có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần dân
chủ bình đẳng trong quan hệ giữa người với người. "Thương nước thương
nhà, thương người, thương mình" là truyền thống đậm đà của nhân dân ta.
Nhờ có tinh thần yêu nước và dân chủ ấy mà suốt quá trình lịch sử 4000
năm, dân tộc ta đã làm nên những chiến công oanh liệt. Từ ngày có Đảng
dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, truyền thống yêu nước và
dân chủ của nhân dân ta được nâng lên một trình độ mới và phát huy mạnh
mẽ hơn bao giờ hết [16, tr. 94].
Tinh thần nhân ái của dân tộc được kết tinh trong con người Chủ tịch Hồ Chí
Minh, ở Người đạo đức truyền thống và đạo đức cách mạng được kết hợp một cách hài
hòa.
Tính thần đoàn kết, ý thức cộng đồng là một giá trị được tạo nên từ trong sâu
thẳm văn hóa dân tộc. Truyền thuyết Âu Cơ - Lạc Long Quân đẻ ra "bọc trăm trứng"
nói rất rõ tinh thần cùng chung Tổ quốc và tình đồng bào. Trong lịch sử dựng xây đất
nước, người Việt đã phải chung lưng đấu cật, tương trợ hợp tác, giúp đỡ nhau tạo ra
sức mạnh vật chất phi thường chiến thắng thiên tai. Chính từ thực tế các cuộc đấu
tranh với thiên tai và chống giặc ngoại xâm, cha ông ta đã nhận thấy rằng "đoàn kết thì
sống, chia rẽ thì chết", và "một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi
cao". Cho nên, có thể nói, tinh thần đoàn kết là nguồn sức mạnh lớn lao giúp nhân dân
ta vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên và đánh thắng mọi thế lực
xâm lược.
Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng bắt nguồn từ chủ nghĩa yêu nước và là
biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước, là động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp cách mạng
giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đoàn kết là một truyền
thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta", Người căn dặn mỗi cán bộ đảng viên
"... cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt
mình" [63, tr. 510]. Tinh thần đoàn kết cộng đồng là nét quan trọng trong ý thức và
tâm hồn của người Việt Nam. Những lễ hội truyền thống với niềm hân hoan và sự
đồng cảm được tổ chức hàng năm lại thắt chặt thêm mối quan hệ cộng đồng. Cộng
đồng là điểm tựa của người Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày, trong hòa bình và
trong chiến tranh.
Cần cù và tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, nó được
hình thành do điều kiện sản xuất và đấu tranh xã hội trong lịch sử dân tộc. Nó thể hiện
ý thức trách nhiệm của mỗi người trong cuộc sống, trong sự nghiệp phát triển đất
nước. Cần cù gắn liền với tiết kiệm, cần mà không kiệm thì cuộc sống trở nên "ăn xổi",
bấp bênh. Kiệm mà không cần thì không có gì để kiệm. Do đó, trong cuộc sống phải
biết khéo léo lo toan, sắp xếp hợp lý, tránh những lãng phí không cần thiết. Chính với
truyền thống cần cù và tiết kiệm ấy, cha ông ta đã phát huy được sức mạnh của mình
trong những cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại và đã đạt được những thành quả to lớn
để lại cho chúng ta ngày nay.
Ngoài những giá trị chủ yếu trên, trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc còn có những đức tính phổ biến như lòng dũng cảm, tính khiêm tốn, trung
thực, giản dị, lạc quan... Nhờ có những phẩm chất đó, dân tộc ta mới dám đương đầu
và đã giành thắng lợi với mọi thiên tai, địch họa nhiều khi tưởng không vượt qua nổi.
Người Việt Nam khiêm tốn nhưng không hạ thấp mình; giản dị nên không ưa cầu kỳ,
phô trương hình thức; trung thực nên ghét những sự thay lòng đổi dạ; lạc quan và niềm
tin đã giúp dân tộc ta đứng vững, tồn tại được trước những thử thách gian nguy của
lịch sử để phát triển.
Các giá trị đạo đức truyền thống đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của cả dân
tộc qua các thế hệ và chính chúng đã làm nên sức mạnh Việt Nam suốt nhiều thế kỷ,
tạo nên dáng vóc Việt Nam với bản sắc riêng. Nhiệm vụ của chúng ta là phải giữ gìn
và phát huy hơn nữa những giá trị đạo đức mà cha ông ta đã tạo nên trong lịch sử.
1.1.2. Những nét tiêu biểu của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ở đạo
đức truyền thống của phụ nữ
Truyền thống đạo đức phụ nữ là một bộ phận hữu cơ của truyền thống đạo đức
dân tộc, truyền thống ấy đã được Bác Hồ viết trong thư gửi phụ nữ toàn quốc nhân dịp
kỷ niệm 50 năm ngày phụ nữ Quốc tế: "Phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống đấu
tranh anh dũng và lao động cần cù" [61, tr. 85].
Tại Đại hội đại biểu Phụ nữ Việt Nam lần thứ VIII năm 1997, Tổng Bí thư Đỗ
Mười cũng khẳng định:
Truyền thống và phẩm giá của phụ nữ nước ta được hình thành qua hàng
nghìn năm lịch sử. Đó là lòng yêu nước, tình nhân ái, đức hy sinh, trí thông
minh, tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam. Tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất,
trung hậu, đảm đang" mà Bác Hồ kính yêu và nhân dân trao tặng phụ nữ nước
ta, chính là sự đúc kết một cách sâu sắc truyền thống vẻ vang và phẩm giá cao
đẹp đó [88, tr. 90-91].
Từ cách tiếp cận về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ở phần trước và từ
những nhận định trên về truyền thống đạo đức phụ nữ Việt Nam. Có thể rút ra những
nét tiêu biểu của giá trị đạo đức truyền thống dân tộc biểu hiện ở phụ nữ Việt Nam là:
- Yêu nước, anh hùng, bất khuất.
- Đảm đang.
- Yêu thương chồng con.
- Phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc.
- Trung hậu.
Truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
lên vị trí hàng đầu những giá trị đạo đức cao cả của người phụ nữ Việt Nam. Hai Bà
Trưng và các nữ tướng của Hai Bà là những phụ nữ Việt Nam đã dựng nên tấm gương
"anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang" ngay từ thế kỷ đầu Công nguyên. Cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã "có tác dụng mở đường, đặt phương hướng cho cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc về sau này. Bất kỳ tình huống nào, nhân dân ta quyết giành
độc lập hoàn toàn. Nó là một biểu hiện của sức sống mãnh liệt của dân tộc, và đã góp
phần chỉ rõ con đường sống và tiến bộ của dân tộc ta" [86, tr. 60]. Tiếp nối gương Hai
Bà, những người phụ nữ như bà Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân, bà Ba Cai Vàng,
Nguyễn Thị Minh Khai... mãi mãi ghi tên trong sử xanh dân tộc.
Trong kháng chiến chống Mỹ phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc,
phụ nữ Việt Nam đã kiên cường, anh dũng đấu tranh với kẻ thù trên các mặt trận sản
xuất, chiến đấu. ở miền Bắc, chị em hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu
nước, đóng góp cao nhất sức người, sức của để xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa, hậu phương vững chắc của miền Nam. Hàng chục nghìn phụ nữ trực tiếp
chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên các mặt trận theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí
Minh: "Tất cả vì miền Nam ruột thịt". ở miền Nam, chị em phụ nữ đã đoàn kết cùng
nhau đánh địch dưới mọi hình thức: đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị, binh vận,
biểu tình,... "Đội quân tóc dài" - một biểu tượng tinh thần độc đáo đã dũng cảm, mưu
trí, linh hoạt trong đấu tranh cách mạng của phụ nữ Việt Nam. Có thể nói, phụ nữ ở
hậu phương cũng như tiền tuyến đã đóng góp to lớn vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc,
giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thành tích vẻ vang và phẩm chất cao đẹp
của phụ nữ Việt Nam thời kỳ này xứng đáng với tám chữ vàng mà Bác Hồ khen tặng.
Phụ nữ Việt Nam không chỉ đánh giặc giỏi mà họ còn rất cần cù, đảm đang
trong sản xuất, trong công việc gia đình và tham gia hoạt động xã hội.
Từ xưa tới nay, phụ nữ giữ vị trí không thể thiếu trong gia đình. Họ lo toan chi
phí kinh tế, đảm nhận những công việc rất đặc trưng của nữ giới, đó là "nữ công gia
chánh". Trong lịch sử, phụ nữ nước ta luôn khẳng định vai trò quan trọng và có những
đóng góp to lớn, vào quá trình phát triển của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: "Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà
thêm tốt đẹp, rực rỡ" [60, tr. 432]. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam đã in đậm trong
lịch sử chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc hàng chục thế kỷ. Bên cạnh
các tướng lĩnh như Bà Trưng, Bà Triệu, đô đốc Bùi Thị Xuân... còn có các vị chấp
chính tài ba như Thái hậu Dương Vân Nga, Nguyên phi ỷ Lan, cô Nhu (vợ ba Đề
Thám)... Tiếp bước các nữ anh hùng dân tộc là các thế hệ phụ nữ chiến sĩ cách mạng
như Nguyễn Thị Minh Khai, lãnh tụ đầu tiên của phong trào phụ nữ sau khi Đảng
Cộng sản Việt Nam được thành lập; Hoàng Ngân, Bí thư đoàn phụ nữ cứu quốc Bắc
Bộ; trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước là các bà Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Định,
Nguyễn Thị Bình và còn nhiều phụ nữ khác tham gia hoạt động chính trị xã hội vì sự
tồn vong và phát triển của dân tộc.
Cùng với những đức tính cần cù, đảm đang, phụ nữ Việt Nam còn có lòng yêu
thương chồng con hết mực. Là người vợ, người phụ nữ hết lòng yêu thương chồng,
chăm lo cho chồng, cùng chồng chia sẻ mọi công việc trong sản xuất, chăm sóc giáo
dục con cái, trong đánh giặc bảo vệ Tổ quốc và trong sinh hoạt cộng đồng.
Trong gia đình người nông dân Việt Nam hình ảnh vợ chồng cùng nhau gánh
vác công việc chung, được phản ánh trong các câu ca dao về lao động sản xuất, về
cuộc sống sinh hoạt hàng ngày...
Dưới chế độ cũ, bao nhiêu nỗi lo chồng chất trên đôi vai mềm mại mà vô cùng
đảm đang của người mẹ, người vợ. Tuy vất vả, nhưng người phụ nữ vẫn dịu dàng,
thương yêu, thủy chung quan tâm chăm sóc đến chồng, đến con. Sự nghèo khổ không
làm giảm đi tình yêu của người vợ đối với chồng, hình ảnh bà Tú Xương cũng là hình
ảnh của người vợ, người mẹ Việt Nam thế kỷ XIX - XX:
Quanh năm buôn bán ở ven sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng [89].
Những người phụ nữ tần tảo đó sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng của mình cho
gia đình. Họ chỉ mong góp phần cho sự sống và thăng tiến của chồng con, mà không
có yêu cầu cho riêng mình.
Không chỉ yêu chồng, phụ nữ Việt Nam còn là người mẹ hiền. Là người vợ, họ
thực hiện chức năng thiêng liêng của người phụ nữ, là điều mà Mác - Ăngghen gọi là
"Sự phân công lao động đầu tiên là sự phân công giữa đàn ông và đàn bà trong việc
sinh con đẻ cái" [58, tr. 104].
Trong gia đình, cùng với người chồng, người phụ nữ là người thường xuyên
trực tiếp nuôi dạy con cái, họ dịu hiền và khéo léo. Hình ảnh người mẹ với những lời
mẹ dạy có ảnh hưởng lâu bền đối với quá trình phát triển của con cái, đặc biệt là trong
lĩnh vực thẩm mỹ, văn hóa gia đình, vai trò của người mẹ chiếm ưu thế tuyệt đối.
Người phụ nữ chính là người thầy, nhà giáo dục đầu tiên của con cái mình.
Chính những lời dạy bảo con cái của người mẹ, những lời ru, câu hát của các
thế hệ bà mẹ Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển tinh
hoa của nền văn hóa dân tộc. Bà mẹ Việt Nam nuôi dạy các con theo tinh thần và ngôn
ngữ Việt. Từ những lời ru, tiếng nói hàng ngày, đến những câu chuyện cổ tích phản
ánh cuộc sống và tâm hồn người Việt đưa con vào giấc ngủ, người mẹ đã truyền cho
con tình yêu quê hương, đất nước, đạo lý làm người... nền văn hóa dân tộc đã được
người phụ nữ truyền cho thế hệ mai sau một cách thường xuyên tự giác.
Phụ nữ Việt Nam trong lịch sử dân tộc còn thể hiện tài năng của mình trong
văn chương, học thuật nước nhà. Thế kỷ XV, Nguyễn Thị Lộ, vợ nhà anh hùng dân tộc
Nguyễn Trãi là người có tài năng văn học tuyệt vời nên được mời vào triều làm chức
Lễ nghi học sĩ. Bà Ngô Chi Lan giỏi văn chương được Lê Thánh Tông vời vào triều
dạy cung nữ. Đoàn Thị Điểm đã mở trường dạy học cho Nho sinh. Hồ Xuân Hương
người tài dùng thơ văn chiến đấu chống lại lễ giáo và đạo đức phong kiến, đấu tranh
cho quyền sống và hạnh phúc của phụ nữ...
Phụ nữ Việt Nam cũng là người khai sinh, xây dựng một số loại hình nghệ
thuật dân tộc như, bà Phạm Thị Trân - bà tổ nghề chèo, một loại hình nghệ thuật lấy
tích truyện rút ra từ cuộc sống, thể hiện sự khéo léo kết hợp giữa việc giáo dục nghệ
thuật và việc cổ vũ tinh thần chiến đấu vì độc lập dân tộc cho quân lính của bà thời vua
Đinh (thế kỷ X)...
Những phẩm chất quý báu: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, thủy
chung của phụ nữ Việt Nam truyền thống đã được phụ nữ cả nước kế thừa phát huy
trong thời kỳ lịch sử mới, nó là sự biểu hiện của những giá trị đạo đức truyền thống
cao quý của dân tộc trong giới nữ. Đó là những giá trị như lòng yêu nước, tinh thần
đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng thương người, cần kiệm... vẫn luôn được các thế hệ
phụ nữ kế tiếp nhau trong lịch sử trân trọng giữ gìn, phát huy và tùy theo những hoàn
cảnh lịch sử của từng thời đại mà được phát triển, bổ sung những phẩm chất mới làm
phong phú và bền vững thêm các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.
1.2. Nội dung, yêu cầu của việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc trong việc xây dựng đạo đức mới của người phụ nữ hiện nay
1.2.1. Những nhân tố tác động đến sự biến đổi những giá trị đạo đức của
phụ nữ hiện nay
* Sự tác động của nền kinh tế thị trường
Năm 1986, với đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta bước đầu
chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. ở nước ta, việc chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước đi tất yếu,
hợp quy luật quan hệ sản xuất phù hợp tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất.
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và cơ chế thị trường đã tác động tích
cực đến tính sáng tạo của mọi người trong việc mưu lợi cho đất nước và cho bản thân.
Kinh tế thị trường với sự tác động mạnh mẽ của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh...
nó tạo ra không gian giao tiếp rộng lớn và phong phú cho từng cá nhân có dịp bộc lộ
mình, thay đổi phương thức và nội dung tư duy cho phù hợp với cơ chế mới. Kinh tế
thị trường đem lại cái nhìn mới về mối quan hệ giữa kinh tế với đạo đức; khắc phục
quan niệm tách rời đạo đức với kinh tế. Dĩ nhiên, không phải đời sống kinh tế được
nâng cao thì đời sống đạo đức tự nó trở nên tốt đẹp hơn, mà còn tùy thuộc vào cách
giải quyết các quan hệ lợi ích thông qua việc thực thi các chính sách kinh tế, xã hội
cho phù hợp quy luật phát triển xã hội.
Việt Nam là nước vốn có lịch sử lâu đời với truyền thống đạo đức của người
phương Đông, lại vừa trải qua mấy chục năm phát triển kinh tế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp nên khi đi vào kinh tế thị trường có người cho rằng, kinh tế thị trường và đạo
đức là hai mặt luôn đối lập, nó không thể dung hòa. Nếu như kinh tế thị trường phát
triển thì đạo đức truyền thống sẽ bị suy thoái. Có người đưa ra ý kiến rằng, kinh tế thị
trường làm cho con người hoạt động năng động, sáng tạo hơn, sẽ thúc đẩy sự tiến bộ
trong đời sống đạo đức.
Cả hai ý kiến trên đều tuyệt đối hóa mặt tích cực hoặc tiêu cực của kinh tế thị
trường tác động đến đạo đức mà không thấy được mối quan hệ qua lại, tác động lẫn
nhau giữa chúng. Kinh tế thị trường là phương tiện hữu hiệu để phát triển kinh tế, là
một nhân tố tác động tích cực đến sự phát triển đạo đức. Nhưng bản thân kinh tế thị
trường tự nó không thể giải quyết được các vấn đề xã hội, thậm chí còn làm nảy sinh
những tiêu cực, suy thoái đạo đức xã hội. Vì vậy, khi nói đến tác động của kinh tế thị
trường đối với đạo đức phải thấy được tính tích cực và tiêu cực của nó đối với đời
sống xã hội nói chung, đời sống đạo đức nói riêng.
Sự tác động của kinh tế thị trường trong lĩnh vực đạo đức nói chung, đạo đức
phụ nữ nói riêng làm biến đổi các giá trị đạo đức. Bên cạnh những biến đổi mang ý
nghĩa tích cực, tiến bộ, cũng xuất hiện không ít những hiện tượng xuống cấp về đạo
đức đáng báo động. Sự tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức của người phụ nữ
được thể hiện:
Kinh tế thị trường làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế
nhưng nó cũng đẩy nhanh sự phân hóa giàu nghèo, làm sâu sắc thêm những bất bình
đẳng xã hội, phá vỡ sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Trong nền
kinh tế đó sự phân công lao động theo ngành nghề, lĩnh vực, theo giới và theo trình độ
phân cực rõ nét. Phụ nữ thường lao động trong những ngành nghề, lĩnh vực có thu
nhập thấp. Trong điều kiện như vậy, việc phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc, truyền thống đạo đức phụ nữ trong quá trình hình thành đạo đức mới của người
phụ nữ không tránh khỏi những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với đạo
đức của người phụ nữ hiện nay.
Kinh tế thị trường bằng lợi ích vật chất, kích thích mọi sự suy nghĩ, tìm tòi và
sáng tạo, điều này có ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, những suy nghĩ cá nhân, những tâm
trạng ích kỷ cũng đang tạo ra tâm lý tiêu cực, khát vọng làm giàu dẫn đến sự thoái hóa
trong quan hệ giữa người với người trong xã hội nói chung, phụ nữ nói riêng. Kinh tế
thị trường đã thúc đẩy không ít cán bộ, kể cả cán bộ có chức có quyền rơi vào tình
trạng tha hóa biến chất, dùng quyền lực mưu lợi riêng, lợi dụng sơ hở trong quản lý
nhà nước để vơ vét tiền của nhân dân chi cho tiêu dùng ăn chơi sa đọa, trác táng, kéo
theo một bộ phận phụ nữ vào con đường ăn chơi, đua đòi, sống hưởng lạc, đang làm
xói mòn truyền thống đạo đức, lối sống lành mạnh, quan hệ tình nghĩa của dân tộc.
Mặc dù, không phải kinh tế thị trường là nguyên nhân duy nhất tác động đến đạo đức,
nhưng ảnh hưởng của nó tới những tiêu cực trên là rất lớn, nhất là trong điều kiện nền
kinh tế thị trường ở nước ta còn đang ở giai đoạn đầu, khi mà hệ thống pháp luật của ta
chưa hoàn thiện thì những hiện tượng tiêu cực đó càng có nguy cơ phát triển.
Mặt trái của kinh tế thị trường dẫn tới sự tha hóa về phẩm cách, đạo đức, lối
sống của một bộ phận phụ nữ nước ta, từ chỗ đề cao các giá trị tinh thần sang coi trọng
các giá trị vật chất, coi trọng cá nhân, tôn sùng đồng tiền, lấy đồng tiền là thước đo giá
trị của con người, thay cho các giá trị đạo đức truyền thống. Đồng tiền thâm nhập vào
các mối quan hệ xã hội, thậm chí chi phối các nguyên tắc ứng xử trong giao tiếp của
không ít người. Đồng tiền vốn chỉ là phương tiện của cuộc sống, giờ đây trở thành mục
đích, lý tưởng của một số người. Họ xem tiền có thế lực vạn năng, có giá trị gạt bỏ mọi
giá trị khác, tiền là giá trị chân thực duy nhất dùng để đo giá trị của bản thân và của
người khác, "có tiền thì có tất cả". Với tư tưởng đó làm cho không ít phụ nữ nước ta
đánh mất nhân phẩm của mình, chạy theo đồng tiền bất chấp luân thường đạo lý, toan
tính làm sao để có tiền. Nhiều phụ nữ có quan niệm về giá trị nằm ở những đồ vật và
tiện nghi sang trọng mà đồng tiền đem tới. Vì thế, ngay trong quan niệm về tình yêu,
và hôn nhân vấn đề được xem là thiêng liêng, cao cả thì ngày nay, ở họ nó không còn
có ý nghĩa truyền thống như trước mà đã mai một trước sức mạnh của đồng tiền.
* Sự giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế