Vai trò của nhtw trong nền kinh tế thị trường

  • 46 trang
  • file .doc
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, tiền trở thành một phương tiện đảm
bảo cho mọi hoạt động kinh tế diễn ra một cách bỡnh thường. Hoạt động
của tiền trong nền kinh tế luôn gắn liền với các hiện tượng kinh tế như:
lạm phát, chu kỳ kinh doanh, thâm hụt ngân sách ... Tiền liên quan đến
các quyết định của các cá nhân và ảnh hưởng đến tỡnh trạng chung của
nền kinh tế quốc gia.
Liên quan đến sự vận động của tiền trong nền kinh tế là hoạt động
của các tổ chức tài chính (các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ
tương trợ... ) và thị trường tài chính (thị trường chứng khoán, thị trường
cổ phiếu và hối đoái). Các thị trường tài chính và các tổ chức tài chính
không chỉ tác động đến đời sống hàng ngày của mỗi cá nhân mà cũn liờn
quan đến sự luân chuyển của những dũng vốn lớn trong nền kinh tế, tỏc
động đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp và đến cả tỡnh trạng
kinh tế của một nước.
Như chúng ta đó biết, nếu vốn được coi là một trong những nguồn
lực quan trọng và đóng vai trũ quyết định đối với sự phát triển kinh tế, nó
có một tính chất khan hiếm. Vậy vấn đề đặt ra làm thế nào để sử dụng một
cách triệt để và có hiệu quả nhất nguồn vốn trong nước và ngoài nước? Để
đạt được điều này, trước hết cần phải có một hệ thống Ngân hàng phát
triển đồng bộ, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) hay Ngân hàng Trung Ương (NHTW) với các Ngân hàng
thương mại (NHTM) trong việc thực hiện chính sách tiền tệ. Ở đó, vai trũ
đặc biệt của NHTW là không thể thay thế được.
Chính vì vậy mà em chọn đề tài :
“Vai trò của NHTW trong nền kinh tế thị trường”
Do thời gian nghiờn cứu cú hạn nờn bài viết của em cú thể cũn
nhiều sai sót. Em rất mong cú được sự góp ý của cỏc thầy cụ và cỏc bạn
sinh viờn
http://tailieuhay.com 1
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
.
http://tailieuhay.com 2
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
CHƯƠNG I
VAI TRề CỦA NHTW TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. KHÁI NIỆM NHTW
Mọi quốc gia đều có NHTW, nhưng tên gọi có thể khác nhau (Ngân
hàng trung tâm, Ngân hàng Nhà nước, quỹ dự trữ liên bang...). Tiền thân
của Ngân hàng Trung ương là Ngân hàng phát hành tiền. Khi Ngân hàng
có tên là NHTW thỡ Ngừn hàng này đảm nhiệm việc độc quyền phát hành
tiền và quản lý Nhà nước.
Do tính chất hoạt động của NHTW mà Ngân hàng này đó nắm trong
tay cụng cụ quản lý chủ yếu nhất của Nhà nước trong quản lý kinh tế vĩ
mụ là chớnh sỏch tiền tệ. NHTW là một bộ phận trong bộ mỏy quản lý
của Nhà nước.
NHTW là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền (in tiền) vỡ thế
nú là Ngừn hàng duy nhất khụng có khả năng bị phá sản. Nó đóng vai trũ
chủ Ngừn hàng đối với các Ngân hàng thương mại, đảm bảo cho hệ thống
Ngân hàng hoạt động không trục trặc và cũn đóng vai trũ chủ Ngừn hàng
đối với Chính phủ, gánh trách nhiệm kiểm soát việc cung ứng tiền tệ và
việc tài trợ cho thừm hụt ngừn sỏch của Chớnh phủ.
II. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA NHTW TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1 . Chức năng của Ngân hàng trung ương.
. Hoạt động của NHNN và sự chỉ đạo chính sách tiền tệ của nó liên quan
đến các hoạt động tác động đến bảng quyết toán tài sản của nó (tài sản có và tài
sản nợ)
Tài sản cỳ TàI sản nợ
- Chứng khoán của Chính phủ - Tiền giấy của NHNN đang lưu
& cơ quan Chính phủ, hối thông
phiếu được Ngân hàng chấp - Tiền gửi Ngừn hàng
http://tailieuhay.com 3
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
nhận - Tiền gửi của kho bạc
- Tiền cho vay chiết khấu - Tiền gửi của nước ngoài và tiền gửi
- Tiền đúc khác
- Tiền mặt đang thu -Tiền mặt trả sau
- Những tàI khoản khỏc Các khoản nợ khác và tài khoản tư
bản
Bảng quyết toỏn tài sản của Ngân hàng cho thấy các nguồn vốn và
cách sử dụng vốn của Ngân hàng. Thông qua bảng quyết toán tài sản,
người ta có thể đánh giá chính xác tỡnh trạng hoạt động của Ngân hàng.
1.1 Tài sản có của NHTƯ
Gồm những chứng khoỏn mà NHTW nắm giữ gồm có trước hết là
chứng khoán kho bạc nhưng trước đây gồm cả hối phiếu được Ngân hàng
chấp nhận. Tổng kim ngạch chứng khoán do các nghiệp vụ thị trường mở
quyết định. Đây là loại tài sản có quan trọng trong bảng tổng kết và tài
sản của NHTW.
Cho vay chiết khấu: đó là những khoản tiền mà NHTW cho các
Ngân hàng vay và kim ngạch vay chịu tác động của lói suất mà NHTW
năng suất định cho những khoản vay đó (lói suất chiết khấu).
Hai tài sản có trên đóng một vai trũ quan trọng trong bảng quyết
toỏn tài sản của NHTW
Lý do thứ nhất: những thay đổi trong các khoản tài khoản có này sẽ
dẫn đến các thay đổi về tiền dự trữ và tiếp sau đó là những thay đổi về
lượng tiền cung ứng.
Thứ hai: do các tài sản này (chứng khoán Chính phủ và tiền cho vay
chiết khấu) đem lại lói suất trong khi cỏc tài sản nợ (đồng tiền lưu hành
và tiền dự trữ) không phải thanh toán lói suất. Như vậy tài sản có mang
lại thu nhập, tài sản nợ không phải tốn kém gỡ.
http://tailieuhay.com 4
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
Cỏc chứng khoỏn Chớnh phủ gồm cỏc tài khoản chứng khoỏn của
NHTW do kho bạc phỏt hành. NHTW cung cấp tiền dự trữ cho hệ thống
Ngân hàng hoạt động bằng cách mua chứng khoán do dó làm tăng tài sản
có của nó. Một sự tăng chứng khoán Chính phủ do NHTW nắm giữ dẫn
đến một sự tăng lượng tiền cung ứng. Ngoài ra, NHTW có thể cung cấp
tiền dự trữ cho hệ thống Ngân hàng bằng cách cho các Ngân hàng vay
chiết khấu. Một sự tăng tiền cho vay chiết khấu cũng có thể là một nguồn
gây ra sự tăng lượng tiền cung ứng. Khi NHTW cung cấp cho hệ thống
Ngân hàng thêm một đồng tiền gửi dự trữ thỡ tiền gửi tăng một bội số của
tiền này. Quỏ trỡnh này được gọi là tạo ra bội số tiền gửi
- Tiền giấy NHTW đang lưu thông : NHTW phát hành đồng tiền giấy.
Đồng tiên đang lưu hành là tổng số lượng tiền đang lưu thông trong tay
dân chúng (ở bên ngoài Ngân hàng). Đây là một thành phần quan trọng
của lượng tiền cung ứng (đồng tiền do các tổ chức nhận tiền gửi nắm giữ
cũng là tài sản nợ của NHTW nhưng được nộp vào khoản dự trữ).
- Tiền gửi Ngân hàng : tất cả Ngân hàng đều có một tài khoản ở
NHTW, ở đó bao gồm các khoản tiền gửi của các Ngân hàng gửi tại
NHTW. Những khoản tiền này cộng với tiền mặt tại các Ngân hàng (được
coi là tiền két bởi nó được để trong các két Ngâng hàng) được gọi là các
khoản tiền dự trữ.
Các khoản tiền dự trữ là tài sản có của các Ngân hàng như là các tài
sản nợ của NHTW. Một sự tăng các khoản tiền dự trữ dẫn đến một sự tăng
mức tiền gửi và do đó tăng lượng tiền cung ứng.
Ở đây, tiền dự trữ có thể được chia làm hai loại : tiền dự trữ mà
NHTW đũi hỏi cỏc Ngừn hàng lưu trữ (tiền dự trữ bắt buộc) và tiền dự trữ
mà các Ngân hàng lưu giữ theo ý muốn (tiền dự trữ quỏ mức)
1.2 TàI sản nợ của NHTƯ.
Hai tài sản nợ trong bảng quyết toán : đồng tiền lưu hành và các
khoản tiền dự trữ, thường được gọi là các tài sản nợ về tiền tệ của NHTW.
http://tailieuhay.com 5
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
Chúng là một phần quan trọng của lượng tiền cung ứng, bởi vỡ việc tăng
một trong hai thứ hoặc cả hai thứ sẽ dẫn đến một sự tăng lượng tiền cung
ứng (mọi thứ khác không đổi).
Tổng tài sản nợ tiền tệ của NHTW và các tài sản nợ tiền tệ của kho
bạc (tiền mặt kho bạc đang lưu hành) gọi là cơ số tiền tệ khi nói về cơ số
tiền tệ, chúng ta chỉ tập trung vào tài sản nợ tiền tệ của NHTW bởi tài sản
nợ tiền tệ của kho bạc chỉ tiêu tới không quá 10% của cơ số tiền nói trên.
Cơ số tiền tệ (MB) cũn gọi là tiền cú quyền lực cao, hỡnh thành từ
các tài sản nợ tiền trong lưu thông(C) cộng dự trữ (R).
MB = C + R.
Để có thể hiểu rừ hơn về bảng quyết toán tài sản của NHTW chúng
ta sẽ đi vào nghiên cứu các chức năng và vai trũ của NHTW trong nền
kinh tế thị trường.
Vai trũ đặc trưng nhất của NHNN là Ngân hàng phát hành, Ngân
hàng của Nhà nước và Ngân hàng của các Ngân hàng.
2.Nhiệm vụ của NHTW .
Nhiệm vụ bao trùm nhất là hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ
theo cơ chế thị trường.
2.1 Ngân hàng Nhà nước là Ngân hàng phỏt hành.
Khi Ngân hàng phát hành TW ra đời thỡ toàn bộ việc phỏt hành tiền
được tập trung vào NHTW theo chế độ độc quyền. Đây là chức năng cơ
bản và vốn có của NHTW. Tiền do NHTW phát hành là phương tiện thanh
toán hợp pháp duy nhất.
Với chức năng phát hành, NHNN không chỉ phát hành tiền mặt mà
cả phương tiện lưu thông nói chung. Trách nhiệm của NHTW là bảo đảm
cung ứng đủ, không để thiếu phương tiện thanh toán (kể cả tiền mặt), làm
sao cho tổng cung phù hợp với tổng cầu tiền tệ.
http://tailieuhay.com 6
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
Ở đây, một vấn đề có tính nguyên tắc là đũi hỏi nghiờm ngặt đối với
việc vận hành chính sách tiền tệ là không được phát hành tiền bù đắp
thiếu hụt Ngân sách.
Hoạt động tín dụng không tách riêng mà nằm trong hoạt động tiền
tệ. Phát hành tiền không cũn là nguồn vốn tớn dụng, mà chỉ là hỡnh thức
cung ứng tiền trung ương, đáp ứng nhu cầu phương tiện thanh toán của
các Ngân hàng và nền kinh tế. Tiền mặt không phải là tất cả, mà nằm
trong lượng tiền cung ứng. Trước đây, quản lý tiền mặt đó từng là cụng cụ
quản lý duy nhất, là nhiệm vụ thường xuyên hàng đầu của NHNN. Giờ
đây, tiền mặt chỉ là phương tiện thanh toán, xó hội cần bao nhiờu đều
được đáp ứng đủ. Quản lý tiền mặt được thay bằng khái niệm quản lý
lượng tiền cung ứng.
2.2. Ngân hàng của Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước không chỉ được phép thay mặt điều hành kiểm
soát hoạt động tiền tệ và toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, mà cũn làm
cỏc cụng việc Ngừn hàng của Nhà nước như in đúc tiền ,quản lý dự trữ
ngoại hối của đất nước, ký kết các hiệp định Nhà nước về Ngân hàng và
tín dụng, đại diện cho Chính phủ tại các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế,
quản lý quỹ của Ngừn sỏch Nhà nước ...
Với vai trũ là chủ Ngừn hàng của Chớnh phủ, NHTW phải đảm bảo
rằng Chính phủ có khả năng đáp ứng những khoản chi tiêu khi nó đang
thâm hụt.
Nếu không tính đến nguồn vay từ bên ngoài thỡ cú hai cỏch để tài
trợ cho thâm hụt ngân sách.
Thứ nhất, Chính phủ có thể vay tiền của dân ở trong nước bằng cách
bán ra những chứng khoán tài chính, kỳ phiếu của Chính phủ và công trái
cho dân chúng.
Chính phủ bán các chứng khoán cho NHTW lấy tiền mặt bù đắp cho
khoản thâm hụt. Đến lượt mỡnh, NHTW tiến hành một nghiệp vụ thị
http://tailieuhay.com 7
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
trường mở, bán những chứng khoán này trên thị trường mở để lấy tiền
mặt. Khi quá trỡnh này kết thỳc, những người dân giữ trong tay những
chứng khoỏn cú lói của Chớnh phủ, nhưng lượng cung ứng tiền tệ không
thay đổi. Qua việc chi dùng khoản thâm hụt, Chính phủ đó đưa trở lại nền
kinh tế số tiền mặt mà Chính phủ đó rỳt ra khi bỏn cỏc chứng khoỏn lấy
tiền mặt. Và NHTW qua việc ỏn ra cỏc chứng khoán này, đó thu hồi lại số
tiền mặt cho Chớnh phủ vay lỳc đầu.
Thứ hai, Chính phủ có thể tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách
in thêm tiền. Thực ra, Chính phủ bán chứng khoán cho NHTW lấy tiền
mặt để trang trải cho khoản chi tiêu vượt quá khoản thu thuế. Khối lượng
các chứng khoán Chính phủ nằm trong các Ngân hàng thương mại hay ở
cá nhân các công dân không thay đổi nhưng cơ số tiền đó tăng lên lượng
cung ứng tiền sẽ tăng lên nhiều hơn do có hệ số tiền.
2.3. Ngừn hàng của cỏc Ngừn hàng.
Thực hiện chức năng này, NHTW đóng vai trũ là Ngừn hàng cũn
cỏc Ngừn hàng thương mại và các trung gian tài chính (quỹ tín dụng, công
ty bảo hiểm...) là các khách hàng của NHTW.
NHTW là Ngân hàng của các Ngân hàng, được thực hiện thông qua
nhiều mối quan hệ :
a. NHNN tiến hành tỏi cấp vốn, thực hiện vai trũ người vay cuối
cùng, qua nghiệp vụ tái chiết khấu đối với các ngân hàng thương mại.
Thực chất, đây là loại tín dụng có thế chấp giấy tờ có giá ngắn hạn. Qua
nghiệp vụ này, NHTW thực hiện kiểm soát số lượng và chất lượng tín
dụng của các Ngân hàng thương mại.
Ta biết rằng, bất kỳ một hệ thống NHTM nào có nguồn dự trữ ít ỏi
cũng sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi những cơn hoảng loạn tài chính. Hoản loạn
Ngân hàng xảy ra khi các Ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu
rút ra của người gửi, khi đó Ngân hàng buộc phải chấp nhận phá sản. Để
tránh được những cơn hoảng loạn tài chính, cần phải có sự đảm bảo rằng
http://tailieuhay.com 8
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
các Ngân hàng có thể nhận được tiền mặt khi có nhu cầu thực sự. Nguy cơ
của những cơn hoảng loạn tài chính có thể tránh được hoặc ít nhất giảm
bớt được đáng kể khi biết rằng NHTW sẵn sàng đóng vai trũ cứu cỏnh cho
vay cuối cựng khi khụng cũn phương sách cứu vón nào khỏc. NHNN luụn
cú được khả năng này vỡ nú là Ngừn hàng duy nhất cỳ quyền phỏt hành
tiền. Vai trũ của NHTW là cứu cỏnh cho vay cuối cựng khụng chỉ đơn
thuần duy trỡ được hệ thống tài chính hiện đại tinh vi và gắn bó chặt chẽ
với nhau, trong đó sự thất bại của một Ngân hàng sẽ kéo theo sự sụp đổ
của nhiều Ngân hàng khác. Nó cũng làm giảm tính bất khả đoán lớn trong
quá trỡnh kiểm soỏt tiền tệ hàng ngày.
b. NHNN thực hiện có hiệu quả hơn nữa chức năng than tra kiểm
soát thông qua hai kênh :
Kiểm soát hệ tiền tệ, bảo đảm tương quan giữa tổng cung và tổng
cầu tiền tệ, vừa tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô, vừa
kiềm chế lạm phát, giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển.
Kiểm soỏt cỏc NHTM nhằm gỡn giữ và đảm bảo an toàn cho hệ
thống các tổ chức tín dụng, giúp cho hoạt động các Ngân hàng thương mại
lành mạnh, ổn định và có hiệu quả.
Việc kiểm soát các NHTM chủ yếu thông qua hệ thống các công cụ
kinh tế, không can thiệp trực tiếp, quá sân vào hoạt động kinh doanh của
họ.
c. NHNN tỡm kiếm cỏc hỡnh thức và phương tiện thanh toán thay
tiền mặt, tổ chức hệ thống thanh toán trong nền kinh tế quốc dân bao gồm
hệ thống thanh toán trong cùng một Ngân hàng, thanh toán giữa các Ngân
hàng, thanh toán bù trừ trên từng địa bàn từ trung ương đến địa phương.
d. NHTW có trách nhiệm và quan tâm trong việc thành lập và phát
triển thị trường tiền tệ và thị trường vốn dài hạn để từng bước chuyển các
quan hệ vay mượn truyền thống, trực tiếp với các NHTM qua quan hệ
http://tailieuhay.com 9
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
gián tiếp thông qua các thị trường này và cũng tạo điều kiện để NHNN
triển khai các nghiệp vụ thị trường mở.
Qua việc phừn tớch ở trờn chúng ta thấy được phần nào chức năng
cũng như vai trũ của NHTW trong nền kinh tế. Nhưng để NHTW thực sự
trở thành Ngân hàng của Nhà nước, Ngân hàng của các Ngân hàng thỡ nú
phải thực hiện tốt chớnh sỏch tiền tệ.
2.4. NHTW và việc thực hiện chớnh sỏch tiền tệ.
Chớnh sỏch tiền tệ là một bộ phận của chớnh sỏch kinh tế xó hội
của Nhà nước. Nó là công cụ quản lý vĩ mụ của Nhà nước trong lĩnh vực
tiền tệ do NHTW khởi thảo và thực hiện mục tiêu cao nhất là ổn định giá
trị đồng tiền để từ đó ổn định và tăng truưởng kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTW không chỉ độc quyền phát
hành tiền mà cũn điều tiết lượng tiền cung ứng tức là NHTW phải thực
hiện chính sách tiền tệ không gây ra lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền.
Chính vỡ vậy, sự ổn định tiền tệ là nhệm vụ thường trực của NHTW, là
định hướng chỉ đạo toàn bộ hoạt động của NHTW.
a. Chính sách tiền tệ là một phương thức theo đó NHTW kiểm soát
và điều tiết khối lượng tiền tệ cung ứng.
Sự chỉ đạo chính sách tiền tệ của NHTW tác động đến việc tăng
giảm lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Các biến chuyển trong lượng
tiền cung ứng tác động đến sức khoẻ của nền kinh tế và do đó ảnh hưởng
đến đời sống của mọi người chúng ta. Điều đó nó lên tầm quan trọng của
chính sách tiền tệ.
NHTW thực hiện chớnh sỏch tiền tệ tức là quỏ trỡnh NHTW kiểm
soỏt tiền tệ sao cho khối lượng tiền tệ cân đối với mức tăng tôngr sản
phẩm quốc dân danh nghĩa, cân đối giữa tổng cung và tổng cầu về tiền.
Một chính sách tiền tệ đúng đắn phải hướng vào việc khống chế nguồn
gốc làm tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng, làm tăng hoặc giảm khối
lượng tiền tệ nói chung chứ không phải chỉ khống chế tiền mặt.
http://tailieuhay.com 10
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
Chính sách tiền tệ của một quốc gia có thể được xác định theo hai
hướng:
Chính sách thắt chặt tiền tệ được dùng trong những thời kỳ có lạm
phát cao; với mục đích là làm giảm lượng tiền cung ứng. Từ đó dẫn tới
việc lói suất tăng, tiêu dùng và đầu tư giảm, xuất khẩu vũng giảm, GNP
giảm, việc làm giảm thất nghiệp tăng, kỡm hóm sự phỏt triển quỏ núng
của nền kinh tế.
Chớnh sỏch mở rộng tiền tệ được dùng khi nền kinh tế suy thoái.
Mục đích là tăng lượng tiền cung ứng, lói suất giảm. Và từ đó tiêu dùng
và đầu tư tăng, xuất khẩu vũng tăng, GNP tăng, việc làm tăng, thất nghiệp
giảm.
b. Mục tiờu của chớnh sỏch tiền tệ
Do chớnh sỏch tiền tệ là một phần của chớnh sỏch kinh tế vĩ mụ nờn
những mục tiờu của chớnh sỏch tiền tệ cũng là mục tiờu của chớnh sỏch
kinh tế vĩ mụ.
NHTW thường đề ra 6 mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ của
mỡnh. Đó là việc làm cao, ổn định lói suất, ổn định thị trường tài chính và
ổn định thị trường ngoại hối. Đây là những mục tiêu cuối cùng của chính
sách tiền tệ.
Nếu nền kinh tế đang diễn ra những vấn đề đó thỡ chớnh sỏch tiền
tệ nhằm làm cho mọi hoạt động kinh tế không tách rời những mục tiêu đó.
Nếu những vấn đề đó chưa có thỡ chớnh sỏch tiền tệ phải luụn hướng tới
chung.
Thử thách lớn nhất trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền
tệ thông qua các công cụ kinh tế vĩ mô chính là xử lý hài hoà hàng loạt
mối quan hệ vốn mừu thuẫn với nhau trờn tất cả cỏc cụng cụ đó: Giữa
mục tiêu kiềm chế lạm phát và mục tiêu tăng trưởng kinh tế; giữa lợi ích
chung (kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế) với lợi ích của các
NHTM và tổ chức tín dụng giữa lợi ích người gửi tiền với nhà kinh doanh
http://tailieuhay.com 11
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
tiền tệ và người vay vốn. Chính vỡ vậy cần tỡm đến những điểm dung hoà
khi tỡm ra những mục tiờu trung gian, những mục tiờu được coi là cấp
bách nhất cho từng giai đoạn cụ thể.
Việc lựa chọn cỏc mục tiờu trung gian phải xuất phỏt từ việc thiết
lập càng chặt chẽ, càng tốt mối quan hệ qua lại thật hoàn hảo giữa mục
tiêu trung gian với mục tiêu cuối cùng. Mục tiêu trung gian phải là mục
tiêu mà NHTM bằng việc sử dụng những phương tiện hiện có, có thể kiểm
soát được, giải quyết được.
Vậy những mục tiờu chớnh là mục tiờu về tỷ suất lợi tức và mục
tiêu về số lượng cung tiền, số lưọng có số tiền.
Tuy nhiên, NHTM không thẻ thực hiện đồng thời cả hai mục tiêu ổn
định lói suất và ổn định mức cung ứng tiền tệ.
Nếu đảm bảo mức cung ứng tiền tệ thỡ phải chấp nhận thay đối lói suất
MS MS1
MS2
(hỡnh a). Nếu
i muốn ổn định lái suất, thỡ
i buộc phải thay đổi lượng cung ứng tiền
tệ một khi lượng cầu tiền thay đổi (hỡnh b). Trờn thực tế, NHTM thường muốn
i2
điều chỉnh ilói suất để đảm bảo mức cung ứng1tiền. 2
1 Md2 i
Md2
Md1 Md1
M Lượng tiền M1 M2 Lượng tiền
(hỡnh a) (hỡnh b)
Từ việc xác định được mục tiêu của chính sách tiền tệ, NHTM chỉ
đạo chính sách tiền tệ bằng cách sử dụng các công cụ để tác động vào thái
độ của Ngân hàng, nhờ đó tác động đến lượng tiền cung ứng.
http://tailieuhay.com 12
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
c. Ba công cụ chính mà NHTM sử dụng để tác động đến lượng cung
ứng tiền tệ, đó là:
+ Nghiệp vụ thị trường mở: là nghiệp vụ được tiến hành khi
NHTW thay đổi cơ số tiền bằng cách mua vào (nếu muốn làm tăng cơ số
tiền) hoặc bán ra các chứng khoán (nếu muốn làm giảm cơ số tiền) trên thị
trường.
Ta cũng thấy rằng cỳ rất ớt khỏc biệt khi NHTW giao dịch trực tiếp
với các Ngân hàng khác hoặc với các tổ chức công cộng phi ngân hàng.
Các Ngân hàng luôn có tiền dự trữ lớn hơn số dự trữ bắt buộc để đề phũng
sự bất định về lói suất trờn thị trường tiền tệ. Mặt khác, các Ngân hàng
phải có một lượng chứng khoán đáng kể khi cần vốn khả dụng, họ buộc
phải bán ngay một phần đó đi. Nếu NHTW bán chứng khoán cho trực tiếp
chứng khoán cho hệ thống chứng khoán cho hệ thống Ngân hàng, dự trữ
tiền mặt của các Ngân hàng sẽ giảm ngay lập tức. Nếu NHTW bán chứng
khoán cho công chúng, các cá nhân sẽ trả lại bằng séc theo tài khoản của
họ ở Ngân hàng, làm cho dự trữ tiền mặt của Ngân hàng lại bị giảm sút.
Như vậy là, cả hai trường hợp bằng nghiệp vụ thị trường mở trong lĩnh
vực chứng khoán tài chính NHTW làm biến đổi cơ số tiền, dự trữ tiền mặt
của cỏc Ngừn hàng khoản cho vay tiền ký gửi và lượng cung ứng tiền tệ.
Nghiệp vụ thị trường mở có hai loại:
-Nghiệp vụ thị trường mở năng động: NHTW chủ động tiến hành
các việc mua bán chứng khoán để thay đổi mức dự trữ của NHTW, do đó
làm thay đổi cơ số tiền và thay đổi lượng cung ứng tiền.
-Nghiệp vụ thị trường mở thụ động được tiến hành khi cần thiết
phải đối phó lại những tác động của các nhân tố khác làm ảnh hưởng đến
cơ số tiền.
NHTW nhờ có nghiệp vụ này đó kiểm soỏt được hoàn toàn thị
trường tự do. Nghiệp vụ thị trường tự do linh hoạt và chính xác có thể
được sử dụng ở bất cứ mức độ nào. Nghiệp vụ thị trường tự do dễ dàng
http://tailieuhay.com 13
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
được đảo ngược lại khi có một sai lầm sẩy ra trong lúc tiến hành nghiệp
vụ thị trường tự do, NHTW có thể lập tức đảo ngược lại việc sử dụng
công cụ đó. Nếu NHTW thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do nó
mua trên thị trường tự do quá nhiều thỡ nú cú thể sửa chữa ngay lập tức
bằng cỏch tiến hành nghiệp vụ bỏn trờn thị trường tự do.
Nghiệp vụ thị trường tự do có thể được hoàn thành nhanh chóng
không gây nên những chậm trễ về mặt hành chính. Và tác dụng của
nghiệp vụ thị trường tự do đối với tiền dự trữ là không chắc chắn hơn
nhiều so với tác dụng đó đối với cơ số tiền tệ.
+ Chớnh sỏch chiết khấu:
Lúi suất chiết khấu là lói suất mà NHTW tớnh với NHTM khi họ
muốn vay tiền. Thụng qua lói suất chiết khấu NHTW tỏc động đến lượng
dự trữ của NHTM. Các NHTM phải cân đối lói suất họ sẽ thu được một
khoản cho vay biên (có tính đến cả những nguy cơ và chi phí có kiên quan
nếu cú dũng tiền mặt rỳt ra bất thỡnh lỡnh và lớn) với lói suất chiết khấu.
Một lói suất chiết khấu cao hơn làm tăng phí vay từ NHTW, như vậy các
NHTM sẽ vay chiết khấu ít hơn, và từ đó làm giảm bớt có số tiền và thu
hẹp cung ứng tiền. Nếu một lói suất chiết khấu thấp hơn làm cho vay chiết
khấu hấp dẫn hơn với các Ngân hàng và khối lượng vay sẽ tăng lên, làm
tăng cơ số tiền và tăngcung ứng tiền tệ.
Những điều kiện dễ dàng của NHTW mà theo đó những khoản cho
vay chiết khấu được cung cáp cho các Ngân hàng được gọi là cửa sổ chiết
khấu.
NHTW có thể tác động đến khối lượng vay chiết khấu bằng hai
cách: bằng cách tác động đến giá cả của khoản vay (lói suất chiết khấu)
như phần trên đó trỡnh bày hoặc bằng cỏch tỏc động đến số lượng vay
thông qua việc NHTW quản lý cửa sổ chiết khấu.
Các khoản vay chiết khấu mà NHTW cấp cho các NHTM có ba loại:
tín dụng điều chỉnh, tín dụng thời vụ, và tín dụng mở rộng.
http://tailieuhay.com 14
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
 Tín dụng điều chỉnh, đây là loại tín dụng thông dụng nhất, nhằm giúp
cho các Ngân hàng giải quyết vấn đề khả năng hoàn trả ngắn hạn do
tiền gửi bị tạm thời rút ra.
 Tín dụng thời vụ được cấp để đáp những ứng nhu cầu thời vụ của một
số ít Ngân hàng đang nghỉ và những vùng nông nghiệp hoạt động theo
kiểu thời vụ.
 Tín dụng mở rộng được cấp cho các NHTM bị khó khăn nghiêm trọng
về khả năng hoàn trả do tiền gửi bị rút ra; thỡ khụng yờu cầu hoàn trả
nhanh chúng ngay. Những Ngừn hàng được cấp loại tín dụng này phải
nộp một bản đề nghị trỡnh bày nhu cầu vay tớn dụng mở rộng và một
bản kế hoạch khụi phục lại khả năng hoàn trả của Ngừn hàng.
Ngoài việc sử dụng làm một công cụ để ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ
và cung ứng tiền tệ, chiết khấu cũn quan trọng ở chỗ nhằm trỏnh khỏi
những cơn sụp đổ tài chính. Vai trũ quan trọng nhất của NHTW là trở
thành người cho vay cuói cùng, nó phải cung cấp dự trữ cho Ngân hàng
khi các Ngân hàng bị đe doạ phá sản, do đó ngăn chặn những cưn sụp đổ
Ngân hàng và tài chính. Sử dụng công cụ chiết khấu để tránh những cơn
sụp đổ tài chính bằng cách thực hiện vai trũ người cho vay cuối cùng là
một yêu cầu cực kỳ quan trọng để tiến hành chính sách tiền tệ thành công.
Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh là nếu một Ngân hàng biết được
NHTW sẽ cấp cho mỡnh tớn dụng chiết khấu khi Ngừn hàng gặp khỳ
khaưn thỡ nú dỏm mạo hiểm chấp nhận nhiều rủi ro hơn vỡ tin rằng
NHTW sẽ đến giải quyết khó khăn cho nó. Vai trũ người cho vay cuối
cùng của NHTW tạo ra như một vấn đề may rủi về tinh thần.
So với công cụ nghiệp vụ thị trường tự do, việc sử dụng chính sách
chiết khấu để kiểm soát cung ứng tiền tệ hỡnh như không có hiệu quả
bằng các nghiệp vụ thị trường tự do hoàn toàn là sự tự do hành động của
NHTW trong khi khối lượng cho vay chiêt khấu tài sản lại không như vậy.
NHTW có thể thay đổi lói suất chiết khấu nhưng không thể bắt các ngân
http://tailieuhay.com 15
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
hàng phải đi vay. Hơn nữa các nghiệp vụ thị trường tự do dễ dàng được
đảo ngược lại hơn là đảo ngược những thay đổi trong chính sách chiết
khấu, việc can thiệp vào thị trường mở sẽ được ưa chuộng hơn kỹ thuật tái
chiết khấu vỡ nú mềm dẻo hơn.
Đối với các nghiệp vụ tái chiết khấu, chính các NHTW đóng vai trũ
bị động, do phải đáp ứng nhu cầu hàng ngày của NHTW. Trong hệ thống
thị trường mở, NHTW đóng vai trũ chủ động bởi vỡ chớnh NHTW yờu
cầu vốn khả dụng cho thị trường tiền tệ. Phương thức thị trường mở
không chỉ cung cấp vốn khả dụng cho các NHTM trên thị trường tiền tệ
mà cũn rỳt vốn khả dụng ra khỏi thị trường tiền tệ. Điều đó giúp NHTW
kiểm soát tốt hơn lượng vốn khả dụng Ngân hàng và lói suất trờn thị
trường.
Cũng cần phải nói thêm rằng, tuy hai công cụ trên đều có những mặt
ưu nhược điểm riêng nhưng chúng đều có mục đích là đảm bảo tái cấp
vốn của NHTW cho NHTM.
Ngoài hai cụng cụ trờn, NHTW cũn sử dụng cụng cụ là quy định tỷ
lệ dự trữ bắt buộc (Rd)
+ Dự trữ bắt buộc.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ tối thiểu giữa dự trữ tiền mặt với cỏc
khoản ký gửi mà NHTW yờu cầu NHTM phải duy trỡ.
Khoản dự trữ bắt buộc là khoản tiền dự trữ cần thiết để NHTM có
thể ứng phó với những luồng tiền mặt rút ra bất ngờ.
Nếu một khoản dự trữ bất buộc đang có hiệu lực, các NHTM có thể
giữ lượng tiền mặt cao hơn dự trữ tiền mặt theo yêu cầu nhưng không
được giữ ít hơn. Nếu lượng tiền mặt của họ giảm xuống xuống thấp hơn
lượng bắt buộc, họ phải vay tiền mặt ngay, thường là vay của NHTW để
khôi phục lại tỷ lệ dự trữ bắt buộc
http://tailieuhay.com 16
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
Khi NHTW quy định một khoản dự trữ bắt buộc cao hơn tỷ lệ dự trữ
mà các Ngân hàng thận trọng phải duy trỡ trong bất kỳ tỡnh hỡnh nào thỡ
hậu quả của nú là giảm bớt việc tạo ra những khoản ký gửi của cỏc Ngừn
hàng, làm giảm giỏ trị của thừa số tiền và giảm lượng cung tiền đối với
bất kỳ cơ số tiền bất định nào.
Một khoản dự trữ bắt buộc có tác dụng như một khoản thuế đánh
vào các Ngân hàng bằng cách bắt buộc họ phải duy trỡ một khoản dự trữ
cao hơn trong tổng số các khoản có dưới dạng dự trữ Ngân hàng và một tỷ
lệ thấp hơn của các khoản cho vay cỳ lúi suất cao.
Hệ thống dự trữ bắt buộc tạo nờn một mối quan hệ mỏy mỳc giữa
tạo tiền do NHTM thực hiện (bằng việc làm xuất hiện tiền gửi) và nhu
cừự tỏi cấp vốn tại NHTW. Hệ thống này rất mềm dẻo vỡ tuỳ theo mục
đích của chính sách tiền tệ và tuỳ theo mức vốn khả dụng Ngân hàng,
NHTW có thể điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đặc biệt, việc tăng tỷ lệ dự
trữ bắt buộc có thể điều hoà vốn khả dụng Ngân hàng khi có nguồn thu
ngoại tệ lớn. Hệ thống này có sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng bởi vỡ nú
ỏp dụng khụng phừn biệt mọi Ngừn hàng trong toàn hệ thống.
Ba công cụ kể trên đây có tác dụng tổng quát là kiểm soát khối
lượng cho vay của Ngân hàng, mức lói suất và khối lượng tiền tệ nói
chung. Nhưng Ngân hàng trung gian cũn thoải mỏi ở chỗ cho ai vay tuỳ
sự xét đoán của mỡnh, điều đó có nghĩa là ba công cụ nên chưa ảnh hưởng
đến cơ cấu tín dụng mà Ngân hàng trung gian cấp cho khách hàng. Nếu
NHTW không áp dụng chính sách kiểm soát tín dụng, Ngân hàng trung
gian sẽ chỉ hướng vào những nơi có thể thu được lợi nhuận cao ít chú
trọng tới những ngành có hoạt động lợi ích xó hội nhiều hơn. Chính sách
kiểm soát tín dụng sẽ giới hạn mức tối đa cấp cho những ngành hoạt động
nào được xem như ưu tiên, cần yểm trợ tín dụng mạnh hơn. Chính sách
kiểm soát tín dụng gồm hai nội dung chớnh là hạn mức tài sản và quản lý
lúi suất.
http://tailieuhay.com 17
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
CHƯƠNG II
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG SỰ CHUYỂN ĐỔI
TỪ NỀN KINH TẾ KẾ HOẠCH HOÁ TẬP TRUNG SANG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG CÓ SỰ QUẢN Lí CỦA NHÀ NƯỚC
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG CÁC THỂ CHẾ TÀI
CHÍNH HỮU HIỆU TRONG NỀN KINH TẾ CHUYỂN TIẾP
Qua qua trỡnh chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường là hết sức khó khăn và phức tạp. Kinh tế trong
giai đoạn chuyển tiếp có khu vực kinh tế tư nhân nhỏ nhưng phát triển rất
nhanh và nhanh chóng và khu vực kinh tế Nhà nước ngày càng co lại. Tuy
nhiên, phần lớn các trường hợp kinh tế tư nhân không xuất hiện ngay lập
tức mà dần theo thời gian và khu vực kinh tế Nhà nước cũng khụng hề cỳ
biểu hiện mất ngay.
Với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, xây dựng được một
hệ thống tài chính vững chắc, lấy thị trường làm có sở để đảm bảo cho các
thành phần kinh tế hoạt độngtốt là một việc làm hết sức cần thiết.
Trong quỏ trỡnh chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường các nhà ra
quyết định phải đối mặt với những mâu thuẫn giữa các mục tiêu đó đề ra;
mặc dù sự chuyển đổi hướng tới nền kinh tế thị trường hàm ý rằng Chớnh
phủ cần phải rỳt khỏi vị trớ thống trị của mỡnh trong nền kinh tế nhưng
mặt khác cũng cần phải có hoạt động của Chính phủ để giải quyết những
nhiệm vụ mới suất hiện. Một trong số những nhiệm vụ đó là xây dựng một
hệ thống tài chính vững chắc hữu hiệu, lấy thị trường làm cơ sở, thực thi
một chính sách tiền tệ có hiệu quả.
Những nền kinh tế này thiếu hầu hết những tổ chức quan trọng của
kinh tế thị trường, thị trường cạnh tranh cho các nhân tố, các hàng hoá và
dịch vụ, một hệ thống tài chính cạnh tranh và được đầu tư vốn đầy đủ,
một cơ cấu pháp luật và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho hệ thống tài chính.
http://tailieuhay.com 18
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
Trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, hệ thống tài
chính đều ở trạng thái tồi tệ. Tài chính hầu như chỉ đóng vai trũ ghi chộp,
lưu giữ thụ động, trong khi việc phân bố các nguồn lực do chính kế hoạch
tập trung kiểm soỏt
Các quyết định tín dụng đều đó được lên kế hoạch trước. Hệ thống
Ngân hàng bị suy kiệt vỡ nguồn vốn thấp, một số lượng lớn các khoản nợ
không hoạt động của các quốc doanh, các khoản cho vay gián tiếp tập
trung theo khu vực địa lý và khu vực ngành, Ngân hàng tiết kiệm có mạng
lưới chi nhánh nhỏ bé. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng hầu như
không có lói, được Nhà nước bù lỗ. Các nhà quản lý lại có rất ít kinh
nghiệm trong việc đánh giá các đơn xin vay, trong việc tính toán và giải
quyết các rủi ro. Thị trường cổ phần và thị trường trái phiếu thỡ hoặc là
khụng tồn tại hoặc là rất nhỏ bộ và khụng linh hoạt trong việc chuyển đổi
ra tiền mặt hoặc trên có sở trao đổi và các doanh nghiệp đó tạo nờn một
mạng lưới rộng rái tín dụng giữa các hóng vỡi nhau.
Những khó khăn trên đây đặt ra những yêu cầu rất lớn đối với hệ
thống tài chính.
Như trên đó nờu, xừy dựng được một hệ thống tài chính vững chắc
là việc làm cần thiết song nó cũng đũi hỏi chỳng ta luụn luụn phải thận
trọng trong từng bước đi không vội vó và cú thể dẫn đến sự đổ bể của cả
nền kinh tế. Cần phải nắm vững những di sản để lại từ nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung. Không nên áp đặt đột ngột việc kiềm chế tín dụng
gắt gao đối với
các doanh nghiệp, điều này có thể gây ra sự páh sản hàng loạt các doanh
nghiệp. Đối với quá trỡnh tư nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh, tài chính
là - và cần phải là chủ yếu trong việc tạo điều kiện chuyển quyền sở hữu
từ Nhà nước sang khu vực tư nhân, đảm bảo cho kết quả của quá trỡnh tư
nhân hoá sẽ thay đổi thực sự cách thức hoạt động của các doanh nghiệp.
Mặt khác, việc xây dựng hệ thống tài chính cũn phụ thuộc vào tỡnh hỡnh
http://tailieuhay.com 19
Vai trũ của ngõn hàng trung ương trong nền kinh tế thị trường
tài chớnh thực tế mỗi nước. Mỗi nước đều có những đặc điểm kinh tế
riêng biệt, những thuận lợi và khó khăn khác nhau trong quá trỡnh phỏt
triển do đó vấn đề đặt ra là mỗi nước phải xác định được rừ ràng điểm nào
là điểm mạnh, điểm nào là điểm yếu của mỡnh để từ đó xác định đâu là
điểm chủ yếu, đâu là điểm thứ yếu trong hệ thống tài chính.
Chúng ta đều thấy rằng con đương dẫn đến sự thành công chính là
xây dựng hệ thống tài chính hữu hiệu và vững chắc, song điều này không
có nghĩa là tiến hành cải tổ đồng loạt. Ưu tiên tối cao phải giành cho việc
cải tổ lại khu vực Ngân hàng .
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là nguồn cung cấp vốn cho
hoạt động ngắn hạn của Công ty và đưa ra các khoản đầu tư dễ chuyển đổi
thành tiền mặt mà ngân hàng có thể lưu giữ chứng từ. Ngân hàng cũng là
nguồn cung cấp chính vốn con nguời đó được đào tạo trong việc đánh giá
các rủi ro tín dụng và nhờ thế tạo ra nền tảng đảm bảo cho việc phân phối
nguồn tài lực một cách có hiệu quả. Việc cung cấp tài chính có hiệu quả
sẽ trực tiếp tác động vào việc nâng cao hiệu quả trong sản xuất nói riêng
và trong xó hội núi chung.
II. VAI TRề CỦA KHU VỰC NGÂN HÀNG
Một trong những thử thách với những nền kinh tế kế hoạch tập
trung trước đây chính là sự phân quyền trong việc phân bố nguồn tài lực.
Lý do hang đầu trong động cơ kinh tế nhằm chuyển đổi sang cơ chế thị
trường là sự nhận thức được rằng kế hoạch hoá tập trung không đưa lại sự
phừn phối vốn cỳ hiệu quả và vỡ thế mà cỏc nguồn tài nguyờn vật chất
khụng được sử dụng có năng suất thấp. Về mặt này bản chất của thị
trường là giảm tới mức tối thiểu ảnh hưởng của các nhân tố phi kinh tế tác
động leen sự phân phối các nguồn tài nguyên và cũng chính nhờ đó mà cải
thiện được hiệu suất đầu tư.
Vấn đề trọng tâm phải quyết định cái gỡ sẽ thay thế cơ chế kế hoạch
hoá làm trung gian giữa những thành phần kinh tế có nguồn tài chính
http://tailieuhay.com 20