Trung tâm tài chính hồng công bài học kinh nghiệm cho hà nội

  • 137 trang
  • file .doc
1
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG....................................................................................3
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.....................................................4
MỞ ĐẦU...............................................................................................................5
CHƯƠNG I: TRUNG TÂM TÀI CHÍNH VÀ VÀI NÉT VỀ TRUNG TÂM
TÀI CHÍNH HỒNG CÔNG................................................................................7
1. 1. Một số vấn đề cơ bản...................................................................................7
1.1.1. Khái niệm và sự hình thành trung tâm tài chính:.....................................7
1.1.2. Đặc điểm của trung tâm tài chính:...........................................................9
1.1.3. Tiêu chí của trung tâm tài chính:.............................................................9
1.1.4. Các hoạt động chủ yếu tại trung tâm tài chính:.....................................13
1.2. Vai trò của trung tâm tài chính đối với địa phương, quốc gia và thế giới
..............................................................................................................................14
1.3. Vài nét về trung tâm tài chính Hồng Công:..............................................16
1.3.1. Đặc điểm của trung tâm tài chính Hồng Công:.....................................16
1.3.2. Cơ chế vận hành của nền kinh tế và trung tâm tài chính Hồng Công:. .23
1.3.3. Vai trò của ngành dịch vụ tài chính đối với nền kinh tế Hồng Công.....26
1.3.4. Hoạt động đầu tư ra và vào Hồng Công:...............................................26
1.3.5. Vai trò của Hồng Công với nền kinh tế thế giới.....................................29
CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM TÀI CHÍNH HỒNG
CÔNG..................................................................................................................31
2.1. Hệ thống ngân hàng:...................................................................................31
2.2. Thị trường hối đoái và chính sách tỷ giá:.................................................36
2.3. Thị trường chứng khoán:...........................................................................38
2.4. Thị trường trái phiếu:.................................................................................49
2
2.5. Thị trường phái sinh:..................................................................................51
2.6. Thị trường mua bán và sáp nhập:.............................................................52
2.7. Thị trường Bảo hiểm:.................................................................................54
CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM XÂY DỰNG HÀ NỘI THÀNH
TRUNG TÂM TÀI CHÍNH..............................................................................57
3.1. Vài nét về hoạt động kinh tế, tài chính tại Hà Nội...................................57
3.2. Bài học kinh nghiệm của Trung tâm tài chính Hồng Công để xây dựng
Hà Nội thành trung tâm tài chính:...................................................................65
3.2.1. Lành mạnh hoá hoạt động các định chế tài chính tài chính:.................65
3.2.2.Tiến hành tự do hoá hoạt động tài chính:...............................................70
3.2.3. Đảm bảo công bằng cho các chủ thể trên thị trường tài chính:.............76
3.2.4. Các chủ thể kinh tế chủ động hội nhập:.................................................79
3.2.5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hỗ trợ ngành tài chính:...........82
3. 3. Giải pháp, kiến nghị nhằm xây dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính
..............................................................................................................................83
3.3.1. Giái pháp, kiến nghị nhằm lành mạnh hoá hoạt động các định chế tài
chính hướng tới xây dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính:.........................83
3.3.2. Đề xuất, kiến nghị nhằm tự do hoá hoạt động tài chính hướng tới xây
dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính:..........................................................85
3.3.3. Đề xuất, kiến nghị nhằm đảm bảo công bằng cho các chủ thể tham gia
thị trường để hướng tới xây dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính:.............87
3.3.4. Giải pháp, kiến nghị thúc đẩy sự chủ động hội nhập của các chủ thể
hướng tới xây dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính....................................89
3.3.5. Đề xuất, kiến nghị chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Nội theo hướng hỗ trợ
ngành tài chính nhằm xây dựng Hà Nội thành trung tâm tài chính:................91
3
KẾT LUẬN.........................................................................................................93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................95
DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 Số văn phòng đại diện, văn phòng địa phương và trung
tâm điều hành khu vực tại Hồng Công
2 Bảng 1.2 Phân bố lao động theo ngành tại Hồng Công
3 Bảng 1.3 Tổng sản phầm quốc dân theo ngành kinh tế tại Hồng
Công
4 Bảng 1.4 Giá trị gia tăng bốn ngành mũi nhọn ở Hồng Công
5 Bảng 1.5 Số liệu về hoạt động đầu tư ra và vào Hồng Công
6 Bảng 2.1 Huy động vốn và dư nợ của các loại hình Ngân hàng tại
Hồng Công
7 Bảng 2.2 Dự trữ ngoại tệ tại Hồng Công
8 Bảng 2.3 Cung tiền qua các năm tại Hồng Công
9 Bảng 2.4 Thị trường chứng khoán tại Hồng Công
10 Bảng 3.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép từ 1988-2006
4
11 Bảng 3.2 Số doanh nghiệp vào thời điểm ngày 31/12/2005
12 Bảng 3.3 Đóng góp của ngành dịch vụ, DNNN, DN ngoài NN vào
GDP
13 Bảng 3.4. Vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế phân theo ngành
kinh tế
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTCs Deposit- taking companies- Công ty nhận tiền gửi
GEM Growth Enterprise Market - Thị trường Doanh nghiệp đang phát triển
HKEx Hong Kong Exchanges and Clearing Ltd- Sở giao dịch chứng khoán
Hồng Công
Hong Kong Futures Exchange- Trung tâm giao dịch tương lai Hồng
HKFE Công
HKMA Hongkong Monetary Authority- Cơ quan quản lý tiền tệ Hồng Công
LBs Ngân hàng đa năng - Licensed bank
LOs Local Offices -Văn phòng địa phương
OCI Office of Committee of Insurance- Văn phòng Hiệp hội Bảo hiểm
RHQs Regional HeadQuarters- Trung tâm điều hành khu vực
5
RLBs Restricted license bank- Ngân hàng giới hạn hoạt động
ROs Regional Offices- Văn phòng đại diện khu vực
SEHK Stock Exchang of Hong kong -thị trường chứng khoán Hồng Công
SFC Securities and Future Committee- Uỷ ban chứng khoán và giao dịch
tương lai
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động tài chính ngày càng có vị trí quan trọng đối với quá trình phát
triển kinh tế đất nước trong giai đoạn tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Xu thế hội nhập quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ
chức Thương mại thế giới vào năm 2007, một mặt đã tạo ra nhiều cơ hội cho sự
phát triển của thị trường tài chính Việt Nam, nhưng đồng thời cũng đặt ra không
ít thử thách cho các trung gian tài chính, các doanh nghiệp và chính quyền các
cấp trong việc mở rộng các giao dịch tài chính.
Khi các giao dịch tài chính ngày càng nhiều, được tập trung ở mức độ cao,
các trung tâm tài chính hình thành và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế thế giới. Thông qua các trung tâm tài chính, các giao dịch tài chính
được xúc tiến, các chủ thể tham gia thị trường được tăng cường quan hệ, chi phí
giao dịch giảm.
6
Hà Nội là trung tâm văn hoá, chính trị của cả nước và còn là trung tâm
kinh tế nơi tập trung nhiều dự án lớn, nhiều công trình trọng điểm mang tầm
quốc gia. Hiện nay, Hà Nội hiện còn khoảng 630 dự án nước ngoài còn hiệu lực
với số vốn đăng ký khoảng 9 tỷ USD. Thành phố sẽ cần tổng vốn đầu tư trên 30
tỷ USD. Vì vậy, Hà Nội rất cần một hệ thống tài chính – ngân hàng hoạt động đủ
mạnh, kịp thời, kéo theo hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ sẽ là tài chính, chứng
khoán, bất động sản [19].
So sánh với các địa phương trong cả nước, thành phố Hà Nội có một số ưu
thế để hình thành và phát triển một trung tâm tài chính- ngân hàng. Vì thế, chủ
trương của Nhà nước cũng như thành phố Hà Nội là xây dựng Hà Nội thành
trung tâm tài chính –ngân hàng. Đề án này đã được phê duyệt tại kỳ họp Hội
đồng Nhân dân khoá XIII ngày 10/7/2007 [18]. Tuy nhiên, trong điều kiện thị
trường tài chính thủ đô còn quá nhỏ bé, đang trong giai đoạn hình thành nên
muốn trở thành trung tâm tài chính, Hà Nội còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết.
Xuất phát từ thực tế đó, “Trung tâm tài chính Hồng Công- Bài học kinh
nghiệm cho Hà Nội” đã được chọn làm đề tài của bản luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu:
Đề án thành lập trung tâm tài chính- ngân hàng tại Quận Tây Hồ đã được
phê duyệt nhưng phương hướng, nội dung cụ thể, các giải pháp của việc hình
thành, xây dựng trung tâm tài chính vẫn là chủ đề đang được sự quan tâm,
nghiên cứu của các nhà kinh tế, nhà quản lý và chính quyền Hà Nội.
3. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích các quy định và hoạt động thực tế tại trung tâm tài
chính Hồng Công, liên hệ với thực tiễn tại thị trường tài chính ở Hà Nội, luận
văn đưa ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp nhằm hình thành và
7
xây dựng trung tâm tài chính ngân hàng tại Hà Nội, đặc biệt trong điều kiện Việt
Nam đang từng bước thực hiện lộ trình mở cửa khu vực dịch vụ tài chính.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động của trung tâm tài chính
Hồng Công.
 Phạm vi nghiên cứu:
+ Hoạt động tài chính tại Hồng Công, từ khi dưới sự thống trị của thực
dân Anh cho tới hiện nay.
+ Hoạt động tài chính của Thủ đô Hà Nội trong những năm gần đây.
5. Phương pháp nghiên cứu:
 Luận văn dựa trên lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lê nin, của phép
biện chứng duy vật.
 Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải, quy nạp,
so sánh… trên cơ sở các số liệu thống kê của Cục Thống kê và Điều tra Hồng
Công và số liệu thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, số liệu thống kê
của Tổng cục thống kê qua các năm để nghiên cứu.
6. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài Lời nói đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Trung tâm tài chính và vài nét về trung tâm tài chính Hồng
Công
Chương II: Hoạt động của trung tâm tài chính Hồng Công.
Chương III: Bài học kinh nghiệm để xây dựng Hà Nội thành trung tâm
tài chính.
8
CHƯƠNG I: TRUNG TÂM TÀI CHÍNH VÀ VÀI NÉT VỀ TRUNG
TÂM TÀI CHÍNH HỒNG CÔNG
1. 1. Một số vấn đề cơ bản
1.1.1. Khái niệm và sự hình thành trung tâm tài chính:
Trung tâm tài chính là một phận của đô thị (city) nơi có các định chế tài
chính tập trung [37].
Thông thường, sự hình thành và phát triển của một trung tâm tài chính là
một quá trình dần dần trong đó các hoạt động tài chính được mở rộng do sự tăng
trưởng của lĩnh vực kinh doanh và ngược lại. Lấy trường hợp New York làm ví
dụ, ban đầu nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tài chính bán
buôn thuộc khu vực hải cảng của thành phố, vì thế các định chế tài chính tại New
York, các công ty quốc gia đã di chuyển các hội sở chính để tìm kiếm các nguồn
lợi thu được thông qua ứng dụng tiến bộ công nghệ thông tin và thông qua các
dịch vụ tài chính chất lượng hơn… Việc tập trung các hoạt động tài chính đã
giúp giảm chi phí tài trợ do giảm lãi vay, vì thế, việc kinh doanh được mở rộng.
Các trung tâm tài chính quốc tế phát triển là kết quả của việc mở rộng các
trung tâm tài chính quốc gia. Các trung tâm tài chính quốc gia này chính là các
trung tâm có ưu thế hơn trong cung cấp các dịch vụ tài chính có chất lượng cao,
có vị trí địa lý thuận lợi, dịch vụ viễn thông quốc tế có nhiều tiện ích nhất. Ở
mức độ khác nhau, thông thường, các quốc gia đều có một trung tâm tài chính để
gia tăng hiệu quả trong hoạt động thương mại với các quốc gia khác cũng như
mong muốn trở thành các khu vực tài chính lớn trên thế giới.
Tại các trung tâm tài chính quốc gia, chỉ có giao dịch một chiều là những
người cho vay cung cấp vốn (thông qua các trung gian tài chính trong nước hoặc
trực tiếp thông qua các thị trường chứng khoán) tới người đi vay. Trong khi đó,
9
trong một trung tâm tài chính quốc tế ngoài giao dịch một chiều trên, có thêm ba
dạng giao dịch nữa là:
 Giữa người cho vay nước ngoài và người đi vay trong nước
 Giữa người cho vay trong nước và người đi vay nước ngoài
 Giữa người cho vay nước ngoài và người đi vay nước ngoài
Dạng giao dịch cuối cùng được gọi là giao dịch offshore. Trong trường
hợp này, trung tâm tài chính chỉ cung cấp cơ sở hạ tầng cho việc cho vay và đi
vay nước ngoài.
Tại trung tâm tài chính, các định chế tài chính, thị trường tiền tệ, thị
trường chứng khoán cung cấp các dịch vụ cho cả người cư trú trong nước và
người nước ngoài được gọi là các trung tâm tài chính entrepôt. Đặc trưng lớn
nhất của thị trường này là cho phép và khuyến khích người đi vay và người cho
vay nước ngoài tham gia vào các thị trường tài chính trong nước. Những nhà đầu
tư nước ngoài rất quan tâm tới các trung tâm tài chính dạng entrepôt -nơi có các
thị trường tài chính cởi mở và phát triển và các dịch vụ đa dạng.
Một trung tâm tài chính có thể tập trung vào một hay một vài dạng hoạt
động tài chính. Nhưng thông thường, một trung tâm tài chính mang tầm cỡ thế
giới cung cấp ba dạng hoạt động sau: cho vay vốn ra nước ngoài dạng truyền
thống, dịch vụ tài chính entrepôt và ngân hàng phục vụ dịch vụ offshore.
Trong những năm cuối của thập niên 1950, các trung tâm tài chính tại
châu Âu chỉ đơn giản là cung cấp vốn cho những người vay vốn từ nước ngoài.
Yếu tố tiên quyết là dư thừa lượng vốn trong nước, vì thế chỉ có những nền kinh
tế lớn và phát triển của thế giới mới có khả năng cung cấp vốn theo cách truyền
thống này như: NewYork hoặc một vài thành phố ở các nước xuất khẩu dầu mỏ.
Tại các trung tâm này có lượng vốn dư thừa để cho người nước ngoài vay, có thể
10
tại các trung tâm này có các giao dịch vay vốn của người trong nước với người
nước ngoài thì về tổng thể, giá trị của người trong nước cho người nước ngoài
vay phải lớn hơn giá trị người trong nước đi vay người nước ngoài.
Đến cuối những năm 1960, các giao dịch offshore tăng lên và dần chiếm
ưu thế, dạng trung tâm tài chính truyền thống bị thay thế nhanh chóng. Với việc
quốc tế hoá một cách triệt để các giao dịch tín dụng, các trung tâm tài chính chỉ
cung cấp các nguồn vốn dư thừa cho nhu cầu trong nước không còn nữa. Cạnh
tranh diễn ra mạnh mẽ và các trung tâm tài chính mới xuất hiện thay thế dần các
trung tâm tài chính truyền thống. Các khu vực nhỏ và trước đây chưa được biết
tới dần trở thành các trung tâm ngân hàng quan trọng như Nassau (của Bahamas)
Singapore, Luxemburg, Hồng Công. Thậm chí, một vài thành phố ở Trung Đông
như Kuwait và Bahrein đã nổi tiếng với tham vọng trở thành các trung tâm tài
chính quốc tế.
Sức hút của một trung tâm ngân hàng cung cấp dịch vụ offshore (về phía
ngân hàng và người tham gia) là sự đơn giản các thủ tục và giảm chi phí do lược
bỏ các quy định mang tính hành chính, bao gồm chính sách thuế và kiểm soát
các quyết định đầu tư của các ngân hàng. Thông thường thị trường tài chính
trong nước- nếu tồn tại- thường được tách biệt khỏi các hoạt động ngân hàng
offshore bằng các quy định kiểm soát hối đoái và vốn. Với cách làm này, mục
đích của chính phủ các nước là bảo vệ thị trường trong nước nhưng việc tách
ngân hàng trong nước khỏi hoạt động ngân hàng offshore không đảm bảo cho
việc phát triển một trung tâm tài chính kiểu entrepôt đa dạng do các yêu cầu,
điều kiện đối với một trung tâm ngân hàng cung cấp các dịch vụ offshore ít hơn
so với một trung tâm tài chính kiểu entrepôt đa dạng.
1.1.2. Đặc điểm của trung tâm tài chính:
11
 Là nơi tập trung một số lượng lớn các định chế tài chính, có các
định chế tài chính phát triển trong đó có các ngân hàng mạnh về vốn, uy tín cao.
 Là nơi tập trung các chuyên gia tài chính giỏi, có trình độ để phát
triển được những kỹ năng nghiệp vụ.
 Là nơi có các thị trường tài chính chính thức như thị trường tiền tệ,
thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu...
 Có khối lượng giao dịch tài chính chiếm tỷ trọng chi phối trong toàn
hệ thống tài chính - ngân hàng.
 Các điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi, mức độ phát triển về kinh tế,
hạ tầng kỹ thuật, công nghệ hơn hẳn so với các khu vực khác.
1.1.3. Tiêu chí của trung tâm tài chính:
Trung tâm tài chính yêu cầu có một lượng vốn dư thừa (cung) nhằm đáp
ứng cho nhu cầu tài chính (cầu) và các trung gian tài chính và các hoạt động dịch
vụ (để có thể giúp cung và cầu có thể gặp nhau). Đối với bất kỳ trung tâm tài
chính, thị trường hay định chế tài chính nào, yếu tố cần thiết đầu tiên là có sự dư
thừa vốn. Nếu không có sự dư thừa vốn sẽ không có các hoạt động trung gian để
giúp cho cung và cầu gặp nhau, hay nói cách khác, sẽ không có trung tâm tài
chính truyền thống hình thành.
Các hoạt động môi giới tài chính là rất cần thiết để đáp ứng cầu. Các dạng
hoạt động môi giới, tính hiệu quả và phạm vi hoạt động của chúng chịu ảnh
hưởng từ nhiều yếu tố: các quy định, chính trị, văn hoá, ngôn ngữ, công nghệ, độ
mở của chính sách và phụ thuộc vào chính đặc điểm của quá trình hình thành các
nguồn vốn hoặc dạng của cầu trong các nơi thiếu và thừa vốn.
Một trung tâm tài chính cũng đòi hỏi sự hợp tác giữa các ngân hàng trong
việc đồng tài trợ cấp vốn và các giao dịch tín dụng khác. Số tiền giao dịch tại các
12
trung tâm tài chính thông thường là khổng lồ và không ngân hàng nào có thể
đảm đương một mình. Sự liên kết ngân hàng quốc tế cần sự hợp tác chặt chẽ và
phối hợp nhịp nhàng giữa các ngân hàng.
Việc điều hành các trung tâm tài chính cũng đòi hỏi phải có những chuyên
gia có kinh nghiệm (người tham gia và người môi giới) và các lãnh đạo ngân
hàng được tin cậy. Sự phát triển của một vài trung tâm tiềm năng bị hạn chế
trong thời gian gần vì thiếu nguồn chuyên gia tương ứng.
Các hoạt động tài chính chủ yếu dựa vào phương tiện công nghệ thông tin
để đạt được các kết quả của giao dịch. Có lẽ đây là lĩnh vực phụ thuộc nhiều nhất
vào công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin tốt là điều kiện tối cần thiết cho
một ngành mà sự biến đổi theo từng phút và hoạt động phụ thuộc vào sự trao đổi
thông tin và sự tin cậy lẫn nhau. Ví dụ, môi giới hối đoái là trung gian giữa
người mua và người bán và nắm giữ thông tin thị trường trên cơ sở quan sát
những biến động của thị trường.
Môi trường pháp lý là quan trọng nhất nhằm bảo vệ người gửi tiền và nhà
đầu tư nhưng đồng thời các sự kiểm soát đó không được cản trở việc chuyển vốn
của các chủ thể không cư trú. Các chi phí giao dịch cần được giảm thông qua tối
thiểu hoá thuế. Ngoài ra, sự thay đổi các quy định phải theo hướng dự đoán
được, những thay đổi trong quản lý chính thức không được diễn ra bất thường và
phải có thông báo trước. Các quy định hành chính cần phải linh hoạt để có thể
đối phó kịp thời với những thay đổi. Lấy Đức, Pháp, Nhật Bản làm ví dụ, tính
chính xác nhưng thiếu linh hoạt của các chính sách quản lý đã ngăn cản các thị
trường đầy tiềm năng này phát triển thị trường vốn trở thành các trung tâm tài
chính quốc tế hàng đầu nói chung và trở thành các trung tâm offshore nói riêng.
13
Bằng cách áp đặt một số các biện pháp kiểm soát hạn chế, các nước này đã hạn
chế các ngân hàng hoạt động trong lãnh thổ của mình.
Nhưng bên cạnh đó, một số chính quyền như London, Luxemburg,
Singpore, Hồng Công đã duy trì một số biện pháp linh hoạt trong việc chuyển
đổi và kiểm soát tiền tệ và trở thành các trung tâm ngân hàng offshore. Cụ thể
với trường hợp Singapore: Năm 1968, cơ quan quản lý tiền tệ của Singapore
quyết định mở rộng thị trường tiền tệ quốc tế Singapore. Quyết định này đánh
dấu bước chuyển mình của Singapore thành thị trường tiền tệ Châu Á. Bởi vì
Singapore không có các nguồn lực kinh tế. Ngành ngân hàng trở thành chính
sách phát triển của chính quyền một cách đương nhiên, vì thế, chính quyền luôn
áp dụng công nghệ cao vào ngành dịch vụ và chính sách mở cửa để phát triển
của Singapore. Các chính sách đó là:
- Giảm thuế và lãi suất từ những khoản cho vay offshore
- Giảm 40% thuế trên lãi thu được từ những khoản tiền gửi bằng đô la
trên thị trường Châu Á cho người không cư trú
- Bãi bỏ thuế tem trên các chứng chỉ tiền gửi và hối phiếu
- Bãi bỏ yêu cầu tỷ lệ thanh khoản 20% đối với các chủ thể tiền tệ
Châu Á (đó là tất cả các định chế tài chính tham gia vào mua bán ngoại tệ).
Singapore cũng có hệ thống công nghệ thông tin phát triển, hệ thống này
được xây dựng từ những năm Singapore là trung tâm hàng hải entrepôt của Châu
Á. Sự phát triển nhanh của thị trường tiền tệ Singapore được coi là một điển hình
của một lãnh thổ trở thành trung tâm tài chính lớn. Có hai thị trường tiền tệ ở
Singapore là thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế. Người cư trú trong nước
thường bị cấm tham gia vào thị trường quốc tế (offshore) và các định chế tài
chính quốc tế cũng bị hạn chế giao dịch với thị trường trong nước.
14
Một trung tâm tài chính cũng yêu cầu các chuyên gia tài chính có trình độ
và thông tin thị trường được cập nhật liên tục. Các thông tin như vậy cần có môi
trường trao đổi là trung tâm tài chính. Trung tâm tài chính cũng cần có các cải
tiến và trao đổi ý tưởng giữa các ngân hàng và chuyên gia tài chính. Những trung
tâm tài chính hoàn chỉnh và phù hợp chỉ có thể hình thành trên cơ sở các thành
viên tích cực của thị trường. Các nhà môi giới London được đánh giá là tốt nhất
thế giới. Cho dù các giao dịch mua bán ngoại hối có thể diễn ra mà không cần có
môi giới tiền tệ, nhưng các nhà môi giới tạo điều kiện cho những người tham gia
có thể tiếp cận được với những người khác cũng tham gia trên thị trường, nhờ
vậy có thể có được mức lãi suất và tỷ giá tốt hơn. Ngày nay, các trung tâm lớn
tại thị trường Châu Âu thường có ít nhất một nhà môi giới từ London, trong khi
các thành phố khác như New York và Toronto là nơi tập trung với mật độ cao
các nhà môi giới đến từ nơi này.
Thị trường tài chính ngày càng hội nhập do tác động của khoa học kỹ
thuật, do đòi hỏi của các nhà đầu tư và sự tiếp diễn của các quá trình kinh tế vỹ
mô và sự cắt giảm các hạn chế thị trường. Đặc trưng của một trung tâm tài chính
sẽ dần dần ít chịu ảnh hưởng của vị trí địa lý mà ngày càng phụ thuộc vào vị trí
của trung tâm tài chính trong mạng lưới công nghệ thông tin phức tạp toàn cầu.
Các trung tâm kinh tế vỹ mô vẫn tiếp tục tồn tại với vai trò tập trung và dẫn vốn
từ các nguồn trước khi phân phối vào mạng lưới đầu tư hoạt động suốt ngày đêm
thông qua các trung tâm tài chính thuộc các múi giờ khác nhau.
Trung tâm tài chính quốc tế cũng cần phải mở, hội nhập về khía cạnh văn
hoá và cạnh tranh. Khía cạnh không có sự giới hạn và chống cạnh tranh được
nhấn mạnh bởi vì hệ thống tài chính sẽ có sự tham gia của các định chế kinh
doanh cơ sở hạ tầng. Ngôn ngữ phổ biến là tiếng Anh.
15
Chính quyền cần có kinh nghiệm, giao tiếp và các quy định và biện pháp
kiểm soát linh hoạt, nhanh nhậy. Bên cạnh đó, yêu cầu về sự ổn định kinh tế
chính trị trong nước là điều kiện cơ bản cần thiết. Điều đó còn đảm bảo rằng các
nhà chức trách sẽ không hạn chế việc di chuyển vốn của người không cư trú.
Tuy nhiên, do chức năng vận hành của các trung tâm offshore ít phức tạp
hơn hai dạng còn lại nên yêu cầu về nhân lực tại trung tâm offshore cũng dễ dàng
hơn miễn là thuế cạnh tranh và không quá nhiều các quy định.
Khi kinh tế chính trị trở nên bất ổn thì hoạt động của một trung tâm tài
chính sẽ bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, yêu cầu có sự ổn định về kinh tế chính trị đối
với trung tâm ngân hàng offshore không quan trọng bằng tại trung tâm truyền
thống hay trung tâm dạng entrepôt vì trên thực tế, hoạt động chuyển vốn thực sự
diễn ra bên ngoài trung tâm offshore, vì thế, các rủi ro chính trị gây ảnh hưởng
không đáng kể. Ngược lại, việc chuyển vốn có hiệu lực tại một trung tâm dạng
entrepôt nhưng mặt khác, sự ổn định kinh tế chính trị là rất cần thiết.
Trên phương diện quản lý nhà nước, các yêu cầu cho một trung tâm
offshore thường là hẹp hơn so với các trung tâm dạng entrepôt. Yêu cầu cho một
trung tâm offshore tại Châu Âu là: sự tự do về dự trữ đối với các khoản tiền gửi
bằng ngoại tệ; không có quản lý về hoán đổi ngoại tệ đối với các giao dịch không
cư trú; chính sách thuế cạnh tranh, đặc biệt là thuế đối với cổ đông và thuế thu
nhập doanh nghiệp; sự phát triển phù hợp của cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội với cơ
sở thông tin viễn thông quốc tế phát triển mạnh.
Ở mức độ phức tạp hơn, có bốn điều kiện cần thiết để phát triển một trung
tâm tài chính quốc tế dạng entrepôt:
- Sự ổn định kinh tế và chính trị
16
- Thị trường tài chính hiệu qủa và các chủ thể tham gia giàu kinh
nghiệm
- Hạ tầng thông tin liên lạc tốt và các dịch vụ thân thiện
- Một trường pháp lý chính thống hỗ trợ ngành dịch vụ trên phương
diện bảo vệ nhà đầu tư mà không phải bằng cách hạn chế hoạt động các định chế
tài chính.
Đó là lý do tại sao một số thành phố đóng vai trò quan trọng trong tài
chính quốc tế (London, Newyork) trong khi một số khác (Paris, Frankfurt,
Tokyo) không thể trở thành các trung tâm tài chính lớn cho dù nền kinh tế trong
nước và có hoạt động thương mại và đầu tư lớn. Riêng sự phát triển của London
được coi là điển hình cho một trung tâm tài chính. Trung tâm tài chính London
được xây dựng dựa trên thương mại và sự dư thừa vốn tại một khu vực thương
mại hoặc công nghiệp dẫn tới sự tích tụ vốn. Trung tâm tài chính này thu hút, ưu
đãi và được hình thành trên cơ sở có sự hiện diện của các hãng trên toàn thế giới,
là nền kinh tế thị trường đúng nghĩa. Để duy trì vị trí hiện nay, nó phải tiếp tục
phát triển những mặt trên và quá trình chuyển đổi sang dạng trung tâm tài chính
mở- là một tụ điểm trong mạng lưới toàn cầu về thương mại, tài trợ và kinh
doanh môi giới với các chân rết vươn tới các thị trường tại các quốc gia khác.
Vai trò hàng đầu của London được củng cố bởi tự do tài chính theo các quy định
của Ngân hàng trung ương Anh, việc tham gia thị trường quốc tế London tương
đối dễ dàng. Các hoạt động của Ngân hàng nước ngoài tại London theo hướng
kinh doanh cuả thị trường Châu Âu, đồng thời chúng cũng tài trợ thương mại và
đầu tư và các dịch vụ khách hàng.
17
Có thể nói, với đặc điểm lịch sử từng là thuộc địa của Anh, Hồng Công
cũng có những đặc trưng tương tự London để trở thành một trung tâm tài chính
mang tầm quốc tế.
1.1.4. Các hoạt động chủ yếu tại trung tâm tài chính:
 Hoạt động trên thị trường tiền tệ:
Hoạt động mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn hạn có kỳ hạn dưới 1 năm,
là nơi đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của nền kinh tế. Thị trường này bao gồm:
thị trường liên ngân hàng (thị trường vay vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng
dưới sự quản lý của ngân hàng trung ương); thị trường các công cụ nợ ngắn hạn
(tín phiếu kho bạc, thương phiếu, kỳ hạn ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi… trong
đó, nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán các loại giấy tờ có giá ngắn
hạn của Ngân hàng Nhà nước có vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ của
quốc gia), thị trường hối đoái (thị trường giao dịch các loại ngoại hối: ngoại tệ,
vàng, các giấy tờ có giá được phát hành bằng ngoại tệ…)
 Hoạt động trên thị trường vốn:
Hoạt động giao dịch các công cụ tài chính có kỳ hạn trên 1 năm, là thị
trường cung ứng vốn dài hạn cho nền kinh tế. Thị trường này bao gồm: thị
trường tín dụng thuê mua, thị trường vay thế chấp, thị trường chứng khoán (thị
trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu, thị trường chứng khoán phái sinh).
Ngoài ra, tại trung tâm tài chính còn có: Hoạt động trên thị trường mua
bán và sáp nhập giúp thúc đẩy hoạt động mua bán, sáp nhập các doanh nghiệp, là
điểm khởi đầu cho quá trình tái cơ cấu, tập hợp các nguồn lực để tạo sức mạnh
cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời cũng là điểm cuối
cùng chấm dứt hoạt động cho các doanh nghiệp yếu kém, hàng hoá trên thị
trường là các công ty, doanh nghiệp, cơ hội đầu tư, dự án bất động sản, nhượng
18
quyền thương hiệu, thông tin tài chính; Hoạt động trên thị trường bảo hiểm bao
gồm hoạt động bảo hiểm hàng hoá và phi hàng hoá, tái bảo hiểm.
1.2. Vai trò của trung tâm tài chính đối với địa phương, quốc gia và
thế giới
Khái niệm về Trung tâm tài chính quốc tế được hình thành từ những thập
niên 1980 trong ngành ngân hàng với việc cung cấp các dịch vụ tài chính cho các
hoạt động xuyên lục địa. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là không ai có thể phủ
nhận vai trò của nó, khi trong mọi ngành, mọi lĩnh vực, các sản phẩm mới xuất
hiện và công nghệ càng hiện đại, khiến cho trung tâm tài chính ngày càng mang
tính hội nhập và quốc tế hơn. Việc hình thành và phát triển trung tâm tài chính là
kết quả tất yếu khi hệ thống ngân hàng ngày càng đóng góp vào nền kinh tế
thông qua sự phát triển quy mô hoạt động của chúng. Các trung tâm tài chính
quốc tế hiện đại đòi hỏi cơ sở hạ tầng tốn kém và phức tạp, bao gồm thông tin
liên lạc, vận tải hàng không và các dịch vụ kiểm toán và luật. Nếu mỗi quốc gia
đều hình thành một trung tâm tài chính chỉ để phục vụ cho thị trường trong nước
thì rất lãng phí. Bằng việc hình thành các trung tâm tài chính ngân hàng tại một
vị trí thuận lợi, các ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ tới các khách hàng tại các
quốc gia khác nhau. Với một số lượng nhất định các ngân hàng và các định chế
tài chính tại một trung tâm tài chính có thể đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư
quốc tế một cách hiệu quả [ 27].
Một trung tâm tài chính quốc tế tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt
động giao dịch thường xuyên giữa các ngân hàng và các chuyên gia tài chính
khác. Ngoài lý mục tiêu đồng tài trợ vốn và chia sẻ rủi ro, sự tập trung các ngân
hàng tại một địa điểm sẽ tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư và cấp vốn. Sự tồn
tại của một thị trường tiền tệ hoạt động tốt sẽ giúp phân bổ các nguồn tài chính
19
hiệu quả. Các ngân hàng bán vốn dư thừa tại thị trường liên ngân hàng, còn các
ngân hàng thiếu vốn có thể mua vốn để tài trợ các hoạt động của mình. Thị
trường này chỉ có thể hình thành trên cơ sở có sự tham gia rộng rãi của các ngân
hàng tại một địa điểm. Một trung tâm tài chính hiệu quả không chỉ là nơi các
định chế tài chính phục vụ khách hàng từ nhiều quốc gia của họ mà còn là nơi
các khoản tiết kiệm và đầu tư quốc tế tìm kiếm lợi nhuận và không có sự hạn chế
về tiền tệ và hối đoái. Các thị trường liên ngân hàng hiệu quả cung cấp cơ hội
đầu tư cho các quỹ trên một cách dễ dàng với rủi ro thấp nhất….
Ngày nay, các định chế tài chính quốc tế được hình thành và thực hiện các
chiến lược trong đó chủ yếu là hoạt động đầu tư tại nhiều khu vực trên thế giới
và đầu tư ứng dụng công nghệ để giảm những khó khăn do khoảng cách địa lý
khi đầu tư tại những địa điểm đó. Các trung tâm tài chính lớn ảnh hưởng và tác
động tới các lĩnh vực chính trị, công nghiệp, tiền tệ và thương mại trên thế giới.
Khi thế giới chuyển từ sản xuất hàng hoá sang cung cấp các dịch vụ thì ngành
dịch vụ tài chính trở nên quan trọng. Các dịch vụ tài chính trở thành trung tâm tại
các thành phố chính và việc thu hút, duy trì và mở rộng các hoạt động tài chính
được coi là một trong những nội dung để phát triển các thành phố này.
Các trung tâm tài chính thường là nơi mà các giao dịch tài chính chủ yếu
diễn ra. Lấy trường hợp London làm ví dụ. Chỉ tính riêng trong năm 2005, các
hoạt động kinh doanh và tài chính chuyên nghiệp đã đem lại một khoản lợi
nhuận kếch xù lên tới 22 tỷ bảng cho Vương quốc Anh, trong đó phần lớn số thu
này được tạo ra từ “Square Mile”. Tính chung, City of London đóng góp hơn 2%
GDP của cả Vương quốc Anh và 12% GDP của thành phố London.
Không chỉ đóng vai trò quan trọng với nền kinh tế Anh, trung tâm tài
chính quốc tế hàng đầu thế giới- City of London còn là nơi mà trên 75% trong
20
tổng số 500 tập đoàn lớn nhất thế giới và hơn 240 ngân hàng lớn hàng đầu thế
giới tìm tới để đặt văn phòng và kinh doanh. Có tới 90% các vụ buôn bán kim
loại, 50% các vụ môi giới tầu biển và 32% các giao dịch ngoại tệ tính trên phạm
vi toàn cầu được diễn ra ở khu "Một dặm vuông" này. Doanh thu về trao đổi
ngoại tệ trung bình một ngày ở trung tâm tài chính London lên tới 1.109 tỷ USD,
chiếm 32% toàn cầu. Giao dịch tại đây chiếm 40% thị trường bất động sản của
toàn cầu, 70% trái phiếu Euro được giao dịch tại London và 3.000 tỷ đô la hàng
năm dành cho các giao dịch về kim loại... Đây cũng là thị trường hàng đầu thế
giới về lĩnh vực bảo hiểm quốc tế với lợi nhuận về phí bảo hiểm đạt đến 167 tỷ
Bảng Anh trong năm 2005 [37].
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều trung tâm tài chính khác như: Tokyo là thị
trường chứng khoán và trái phiếu lớn nhất khu vực Châu Á, Singapore là trung
tâm chính trong giao dịch dầu khí và các sản phẩm năng lượng khác và là một
trung tâm quan trọng của trao đổi tiền tệ của thế giới...
Thu nhập quốc dân tăng do nguồn thu từ các trung tâm tài chính là động
lực khuyến khích các chính phủ để giảm hạn chế trong thị trường tài chính, đặc
biệt trong việc kinh doanh của người không cư trú. Trong những năm gần đây,
một số đảo ít được biết tới tuyên bố rằng đang thu hút hàng trăm định chế tài
chính và các cá nhà đầu tư cá nhân bằng chính sách thuế ưu đãi. Một vài trung
tâm offshore bị lên án là cho phép các cá nhân trốn thuế của các nước khác
nhưng trong tương lai, chúng sẽ còn phát triển nhanh. Ví dụ, Cayman Island, một
thuộc địa của Anh với 1 vạn cư dân và một thành phố thủ phủ với rất nhiều ngân
hàng tại đó. Điều thu hút nhà đầu tư bởi chính sách thuế cạnh tranh cũng như sự
ổn định chính trị. Trong những năm qua, Cayman tiếp tục phát triển thành trung