Tóm tắt luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn tư tưởng pháp quyền phương tây cận đại với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở việt nam hiện nay

  • 26 trang
  • file .pdf
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN HÙNG VƯƠNG
TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN PHƯƠNG TÂY CẬN ĐẠI
VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60.22.80
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng - Năm 2015
Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGƯT. Lê Hữu Ái
Phản biện 1: TS. Dương Anh Hoàng
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Văn Đính
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn họp tại Đại học Đà Nẵng
vào ngày 31 tháng 01 năm 2015.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin-Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng nhà nước pháp quyền (NNPQ) là xu thế phát triển
tất yếu của thời đại, thể hiện qua sự đảm bảo cho nhà nước được tổ
chức và hoạt động phù hợp với những tư tưởng chính trị tiến bộ của
nhân loại, đó là công bằng, dân chủ, tự do và quyền con người. Mô
hình tổ chức nhà nước theo NNPQ được coi là mô hình nhà nước lý
tưởng của mọi thời đại.
Ở Việt Nam, yêu cầu xây dựng NNPQ được Đảng ta chính
thức đưa vào Văn kiện Đại hội VII. Từ đó cho đến nay, lý luận về
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQ XHCN) không ngừng
được bổ sung và hoàn thiện. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã khẳng định: “Xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của
Đảng là nhiệm vụ số một, bao trùm, chi phối các nhiệm vụ khác”, là
một trong những nhiệm vụ mang tính chiến lược trong quá trình thực
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội (KT-XH). Đây chính là quyết tâm
chính trị của Đảng trong việc tiến hành đẩy mạnh công tác cải cách
tổ chức và hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường
pháp chế, đánh dấu một bước phát triển mới của sự nghiệp xây dựng
nhà nước kiểu mới – một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đại
hội X và Đại hội XI của Đảng đã chủ trương tiếp tục hoàn thiện
NNPQ XHCN trên cơ sở xây dựng cơ chế vận hành nhà nước, bảo
đảm nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nâng cao năng
lực quản lý và điều hành của nhà nước theo pháp luật, tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN)…
Sau gần 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đáng ghi
nhận về lý luận và thực tiễn trong xây dựng NNPQ XHCN ở Việt
Nam, thì những năm gần đây đã bộc lộ nhiều vấn đề cần phải được
2
tiếp tục nghiên cứu và giải quyết như: cần phải làm rõ những đặc
trưng XHCN trong NNPQ, vấn đề dân chủ hóa đời sống xã hội trong
NNPQ, phối hợp, phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước, vai trò
lãnh đạo của Đảng trong NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân…
Trong dòng chảy xuyên suốt của lịch sử tư tưởng nhân loại,
thời kỳ cận đại ở phương Tây nổi lên tư tưởng pháp quyền của các
đại diện tiêu biểu như: J. Locke, Montesquieu, J. Rousseau. Các ông
được đánh giá là những con người khơi nguồn tri thức cho phong
trào Khai sáng. Trong hệ thống tư tưởng chính trị, tư tưởng pháp
quyền giữ vị trí quan trọng và được trình bày trong một số tác phẩm
như: “Khảo luận thứ hai về chính quyền - Chính quyền dân sự”
(1689), “Tinh thần pháp luật” (1748), “Khế ước xã hội” (1762)…
Những giá trị và ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng pháp quyền thời
kỳ này đã thôi thúc nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều thế hệ trên thế giới
khai thác và tìm cách luận giải để vận dụng trong quá trình tạo lập
nhà nước hợp lý, có hiệu quả. Nó đã trở thành cơ sở nền tảng trong
nghiên cứu lý luận để xây dựng NNPQ hiện đại.
Tuy nhiên, là một lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, luôn không
ngừng biến đổi, cho nên những tri thức, sự hiểu biết về chính trị, nhà
nước vẫn chưa bao giờ được xem là đầy đủ, hoàn bị. Việc tạo lập
một nhà nước thật sự hợp lý, có hiệu quả vẫn luôn là sự tìm tòi, thể
nghiệm của các lực lượng cầm quyền và cũng là đòi hỏi, mong muốn
của các cộng đồng dân cư ở mỗi quốc gia trong thế giới đương đại.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tư tưởng pháp
quyền phương Tây cận đại với việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đối tượng
nghiên cứu của luận văn thạc sĩ triết học của mình.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những giá trị của tư tưởng pháp quyền
phương Tây cận đại, từ thực tiễn hoạt động của NNPQ XHCN Việt
Nam hiện nay, luận văn xây dựng các giải pháp nhằm phát huy
những yếu tố tích cực của tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại
nhằm hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn sẽ là:
Thứ nhất, phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng pháp
quyền phương Tây cận đại
Thứ hai, phân tích thực trạng xây dựng NNPQ XHCN Việt
Nam hiện nay
Thứ ba, xây dựng các giải pháp nhằm hoàn thiện NNPQ
XHCN ở Việt Nam
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định phạm vi, đối
tượng nghiên cứu của đề tài. Đối tượng nghiên cứu của đề là:
- Những nội dung tư tưởng, quan điểm pháp quyền phương
Tây cận đại.
- Vấn đề xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những quan điểm pháp quyền
phương Tây cận đại thông qua một số đại biểu tiêu biểu và vấn đề
xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ
4
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
ĐCSVN về nhà nước, về xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và
vì dân.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên những nguyên tắc phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu khác nhau như: phương pháp thống nhất giữa lôgic và
lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa...
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn đã góp phần phân tích làm rõ những tư tưởng, quan
điểm pháp quyền phương Tây cận đại, chỉ ra những giá trị tư tưởng
trong lịch sử tư tưởng nhân loại và những hạn chế về thời đại lịch sử
cần khắc phục.
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao
học chuyên ngành triết học, phục vụ trong việc học tập và nghiên
cứu môn Triết học, Lịch sử triết học, Chính trị học nói chung và lịch
sử triết học phương Tây thời kỳ cận đại nói riêng.
- Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà
nước tiếp tục nghiên cứu để lựa chọn giải pháp tối ưu cho xây dựng
và hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt Nam.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài Phần Mở đầu và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được thực hiện gồm 3 chương (7 tiết).
7. Tổng quan tài liệu
5
CHƯƠNG 1
KHÁI LƯỢC VỀ TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN PHƯƠNG TÂY
CẬN ĐẠI
1.1. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền
NNPQ là gì ? Khái niệm này có được hiểu và sử dụng một cách
nhất quán trong xây dựng nhà nước của các quốc gia hay không ?
Theo ngôn ngữ của Đức, Recht có nghĩa là luật pháp, còn Staat
có nghĩa là Nhà nước, nên Rechtsstaat có thể hiểu là Nhà nước luật
pháp. Trong khi đó, ở nước Anh không có khái niệm “Nhà nước
pháp quyền” chỉ được gọi là Rule of law và được hiểu ngắn gọn là
“pháp luật về quyền”. Ở Hoa kỳ cũng có những quan niệm tương tự,
NNPQ (due process of law). Theo đó, NNPQ không phải chỉ là việc
buộc chính quyền tôn trọng đúng thể thức khi áp dụng luật, mà còn
buộc phải xem xét luật pháp về mặt nội dung.
Ở nước ta, vấn đề NNPQ cũng được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm. Các nhà nghiên cứu như Nguyễn Khắc Viện, Trần Ngọc
Liêu… đã đưa ra khái niệm về NNPQ dưới nhiều cách tiếp cận khác
nhau.
Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII
(1994) lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước
pháp quyền” và nêu khá cụ thể, toàn diện về những quan điểm,
nguyên tắc, nội dung xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì
dân ở Việt Nam với nội dung chủ yếu là:
“Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật,
đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà
nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng
6
cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giai
cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng,
do Đảng ta lãnh đạo” .
Đến Đại hội XI (1/2011) của Đảng đã làm sâu sắc thêm nhận
thức về xây dựng NNPQ XHCN và khẳng định phải tiếp tục “đẩy
mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, bảo đảm
Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do
Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã
hội, giải quyết đúng mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác
trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường.
Từ nhiều quan điểm trên, có thể đưa ra khái niệm mang tính
tổng quát như sau:
Nhà nước pháp quyền là tổ chức quyền lực công khai trong hệ
thống chính trị của xã hội công dân, được xây dựng trên nền tảng
các tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại như: công bằng, nhân
đạo, dân chủ và pháp chế, nhằm đảm bảo những giá trị xã hội được
thừa nhận chung của nền văn minh thế giới – sự tôn trọng và bảo vệ
các quyền tự do của con người, sự ngự trị, tính tối cao của luật pháp
trong các lĩnh vực sinh hoạt của xã hội, trong các lĩnh vực hoạt động
nhà nước, sự phân công quyền lực và quyền làm chủ của nhân dân.
1.1.2. Cơ sở hình thành nhà nước pháp quyền
- Cơ sở lý luận
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, do những đòi hỏi của lịch
sử xuất phát từ khát vọng về tự do, dân chủ, bình đẳng và quyền con
người của nhân dân, đã có hai thời kỳ xuất hiện nhiều tư tưởng, quan
điểm tích cực và tiến bộ về NNPQ. Đó là thời kỳ Hy Lạp, La Mã cổ
đại và thời kỳ cận đại ở châu Âu.
Trong thời kỳ cổ đại ở phương Tây, những tư tưởng tích cực,
tiến bộ về NNPQ được thể hiện khá rõ nét gắn liền với quá trình phát
7
triển của xã hội chiếm hữu nô lệ và nền cộng hòa dân chủ ở Aten và
La Mã, với các nhà tư tưởng tiêu biểu như Xolon, Pithagore,
Heraclite, Democrite, Socrate, Platon, Aristote…
Thời Trung cổ nổi lên tư tưởng chủ yếu của hai vị Thánh -
Augustine và Thomas d’Aquinas. Đây chính là là những gợi mở để
các nhà tư tưởng thời kỳ cận đại ở phương Tây tiếp tục nghiên cứu
phát triển thành lý luận về NNPQ.
- Cơ sở thực tiễn
Phong trào phục hưng văn hóa đã mở đầu cho một thời đại
mới, đó là sự kết thúc đầy ý nghĩa của lịch sử Tây Âu trung đại, mở
đầu cuộc hành trình tìm về với những giá trị xưa cũ và cũng đặt cơ sở
cho sự vận động tiến lên phía trước. Bên cạnh đó, các khám phá,
phát minh khoa học, tiêu biểu là thuyết Nhật tâm của Copernic đề
xướng, được Kepler, Galilei, Bruno bảo vệ, bổ sung, hoàn thiện đã
làm lung lay nền chuyên chế tinh thần của nhà thờ, mở ra triển vọng
khám phá vũ trụ không dựa vào uy quyền mà dựa vào ánh sáng của
lý trí khoa học.
Về kinh tế, thời kỳ này ở Tây Âu đã hình thành các công
trường thủ công thay thế cho nền kinh tế tự nhiên kém phát triển,
công cụ lao động được cải tiến, năng suất lao động tăng lên, thúc đẩy
sản xuất phát triển mạnh mẽ. Những cuộc phát kiến địa lý với việc
tìm ra châu Mỹ và những miền đất mới đã tạo nhiều điều kiện để
hình thành nền sản xuất TBCN.
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG PHÁP
QUYỀN PHƯƠNG TÂY CẬN ĐẠI
1.2.1. Về nguồn gốc và vai trò của nhà nước
Trong lịch sử tư tưởng phương Tây thời kỳ cận đại, các nhà tư
tưởng đã cắt nghĩa những vấn đề về nhà nước dưới nhiều góc cạnh
khác nhau.
8
Trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính
quyền dân sự”, Locke cho rằng, con người sống trong trạng thái tự
nhiên sẽ thiếu vắng ba thứ: Một là, thiếu luật pháp được thiết định để
điều chỉnh hành vi của mọi người theo những chuẩn mực chung. Hai
là, thiếu quan tòa được mọi người biết đến và có tính trung lập. Ba
là, thiếu quyền lực để hậu thuẫn và ủng hộ cho bản án đúng đắn và
đem lại cho nó sự thi hành đích đáng.
Ba nhược điểm ấy làm cho con người sống trong trạng thái tự
nhiên không còn an toàn và họ “thực hiện không có quy tắc và không
chắc chắn cái quyền lực mà mỗi người có trong việc trừng phạt sự vi
phạm pháp luật của người khác”. Do vậy, con người đã rời trạng thái
tự nhiên đi vào xã hội công dân, họ thỏa thuận lập nên dựng nhà
nước, nhà nước đó thông qua các cơ quan của mình, sử dụng pháp
luật để giải quyết các tranh chấp, trừng phạt người vi phạm, bảo toàn
sở hữu của mọi người.
Trong khi đó, Montesquieu coi sự ra đời của nhà nước là có
tính lịch sử, đó là quá trình vận động và phát triển của xã hội loài
người đến một trình độ nhất định. Rousseau cho rằng, xã hội công
dân nảy sinh cùng chế độ tư hữu và nhà nước được thiết lập sau đó.
Đối với Rousseau, nhà nước là một hiện tượng vĩnh viễn đi
cùng với xã hội loài người và không bao giờ tiêu vong. Quan điểm
này đã phần nào khắc phục được cách giải thích thần bí, siêu tự
nhiên về nguồn gốc của nhà nước, nhưng vẫn “bế tắc khi lý giải nhà
nước chỉ như một kết quả của ý chí chung của con người, là một hiện
tượng vĩnh cửu, và điều đó đã phần nào đó làm sai lệch bản chất của
nhà nước”.
1.2.2. Các quyền tự nhiên của con người
Trong thời kỳ Cận đại ở châu Âu, các nhà tư tưởng đều thừa
nhận quan điểm về quyền tự nhiên của con người và lấy nó làm xuất
9
phát điểm tư tưởng của mình. Lý thuyết pháp quyền tự nhiên ra đời
đầu tiên do các nhà triết học Hà Lan là B.Spinoza (1632 -1677) và
H.Grotius (1583 - 1645) sáng lập dựa trên cơ sở lý luận pháp quyền
tự nhiên đã có từ thời cổ đại.
Tiếp tục lý luận về nhà pháp quyền tự nhiên, Locke (1632 –
1704) cho rằng: “tình trạng tự nhiên ban đầu của con người là tự do
và bình đẳng”. Với Locke, quyền tự nhiên của con người bao gồm
các quyền cơ bản như: quyền bình đẳng, quyền tự do, quyền sở hữu.
Montesquieu (1689 - 1755) cho rằng, trong trạng thái tự nhiên, con
người sinh ra đã bình đẳng, con người mất bình đẳng khi kết hợp lại
thành xã hội, và “chỉ trở lại bình đẳng khi có luật pháp”.
Xuất phát từ giả thiết con người sống trong trạng thái tự nhiên,
Rousseau cho rằng con người luôn được bình đẳng. Khi ra khỏi trạng
thái tự nhiên để trở thành con người dân sự trong xã hội thì con
người phải cần đến một khế ước hay một công ước xã hội. Sở dĩ như
vậy là vì “Người ta sinh ra tự do nhưng rồi đâu đâu con người cũng
phải sống trong xiềng xích”.
Tóm lại, một trong những điểm nổi bật của thời kỳ cận đại là,
các nhà tư tưởng từ Locke, Montesquieu đến Rousseau đều đưa lý
luận về tự do, bình đẳng, dân chủ lên thành các quyền chính trị xã
hội của con người. Và trong quan niệm của các ông, các quyền tự do,
dân chủ, công bằng không phải là sự ban phát của Chúa cho con
người với tư cách là thần dân, mà đó là cái mặc nhiên phải có từ sự
quy định của luật pháp tồn tại hiện thực. Điều này đã khơi mở cho cả
một tiến trình của nhân loại ngày càng nhận thức và hiện thực hóa
sâu rộng các quyền của con người và quyền công dân trong xã hội
dân sự.
1.2.3. Về phân chia quyền lực nhà nước
Locke cho rằng, quyền lực nhà nước là do nhân dân trao cho,
10
để tránh tình trạng độc quyền, lạm quyền thì quyền lực đó phải được
phân chia, tạo nên sự “kiềm chế và cân bằng”. Locke đã phân chia
quyền lực nhà nước thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và liên
hiệp.
Xuất phát từ nền tảng tư tưởng phân quyền của Locke,
Montesquieu đã nghiên cứu bổ sung, phát triển hoàn chỉnh thành
Học thuyết “Tam quyền phân lập”. Montesquieu cho rằng, phân
quyền chính là tự do chính trị trong quan hệ với hiến pháp. Khác với
Loke, Montesquieu không phân chia bang giao quốc tế thành một
quyền ngang hàng với quyền lập pháp và hành pháp. Ông phân
quyền lực nhà nước thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Ông yêu cầu ba cơ quan quyền lực nhà nước phải hoạt động độc lập
với nhau nhưng cần có sự ràng buộc nhau, tạo nên sự vận động
chung của toàn bộ hệ thống nhà nước.
Tiếp nối Montesquieu, Rousseau đưa ra những quan điểm rất
mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước. Từ quan điểm về luật pháp, Rousseau
bày tỏ sự phản bác đối với học thuyết phân quyền. Ông cho rằng,
quyền lực thể hiện ý chí chung nên cần phải thống nhất. Rousseau
xem tư tưởng phân quyền là “trò ảo thuật chính trị”. Nhưng ông lại
chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, hành
pháp và tư pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và
chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có
hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm
quyền.
1.2.4. Giá trị và hạn chế cơ bản của tư tưởng pháp quyền
phương Tây cận đại
Đến thời kỳ cận đại ở phương Tây, tư tưởng pháp quyền đã
phát triển đến đỉnh cao và khái quát thành những lý luận cơ bản về
11
NNPQ, chứa đựng nhiều giá trị tiến bộ mang tính chất “vạch thời
đại”.
Thứ nhất, toàn bộ tư tưởng của Locke, Montesquieu và
Rousseau về pháp quyền là tư tưởng biện chứng và những quan điểm
duy vật sâu sắc, chứa đựng tinh thần nhân văn cao cả.
Thứ hai, các ông đều cho rằng: sự ra đời của nhà nước cũng
như sự xóa bỏ nhà nước là yêu cầu khách quan.
Thứ ba, quan niệm quyền lực tuyệt đối thuộc về nhân dân... thể
hiện tính cách mạng sâu sắc và triệt để.
Mặc dù những tư tưởng pháp quyền thời kỳ Cận đại ở phương
Tây chứa đựng những giá trị to lớn không thể phủ nhận nhưng bên
cạnh đó nó cũng bộc lộ những hạn chế nhất định khi các tư tưởng ấy
mang trong mình những yếu tố duy tâm về lịch sử.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP
QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. BỐI CẢNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
2.1.1. Tình hình trong nước
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng
những quan điểm về NNPQ của dân, do dân, vì dân. Nhưng phải đến
khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời thì những quan điểm của Người mới được hiện thực
hóa, và ngày càng hoàn thiện dần dần trong quá trình xây dựng và
phát triển.
Sau khi hoàn thành thống nhất đất nước, non sông thu về một
mối. Đất nước chuyển mình sang một giai đoạn mới – hoàn toàn độc
12
lập, tiến lên xây dựng CNXH trên quy mô cả nước. Xây dựng và bảo
vệ đất nước trong tình hình thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc. Trong
giai đoạn 1980, nền kinh tế, xã hội ở nước ta lâm vào khủng hoảng
trầm trọng. Đại hội VI của ĐCSVN (12/1986) đã nghiêm khắc tự phê
bình về những sai lầm đã qua và đề ra đường lối đổi mới toàn diện
nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, đi vào ổn định và phát
triển. Đường lối đổi mới đất nước đã đặt ra những cơ sở quan trọng
trong đổi mới tư duy, quan điểm về xây dựng NNPQ trong điều kiện
tiến hành cải cách kinh tế. Trong thời gian này cũng đã nảy sinh
nhiều quan niệm về xây dựng NNPQ ở Việt Nam. Cho đến năm 1994,
quan niệm về “xây dựng nhà Nước pháp quyền của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân” đã được Đảng ta nêu lên tại Hội nghị đại biểu toàn
quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII.
Sau khi thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, nền kinh tế bước
vào thời kỳ ổn định, tăng trưởng nhanh, yêu cầu của quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế đặt ra ngày càng lớn. Đảng ta tiếp tục khẳng
định nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN dưới sự lãnh
đạo của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều
thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp, là nhiệm vụ cấp thiết trong tiến trình hội
nhập và phát triển đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
(2011) của Đảng đã đặt ra yêu cầu:
“Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện nNhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo,
thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội, giải
quyết đúng mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác
trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường”.
13
Trong Hiến pháp năm 2013, tư tưởng pháp quyền được thể
hiện và thực thi trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn
hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Hiến pháp khẳng định nguyên
tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức
Tóm lại, quá trình hình thành, phát triển và từng bước hoàn
thiện NNPQ XHCN, của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng, diễn ra trong bối cảnh đất nước đang từng bước trên con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà chặng đường đầu đầy khó
khăn,thách thức. Nhận thức của Đảng về NNPQ không ngừng được
nâng cao, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn phát triển đất nước
trong quá trình hội nhập toàn cầu.
2.1.2. Bối cảnh quốc tế
Trong những thập niên gần đây, tình hình thế giới có những
chuyển biến phức tạp. Bên cạnh quá trình toàn cầu hóa diễn ra sôi
động và mạnh mẽ, đưa các nước xích lại gần nhau. Cuộc cách mạng
khoa học kĩ thuật và công nghệ phát triển đã làm thay đổi cả thế giới,
công cụ lao động không ngừng cải tiến, năng suất lao động tăng cao,
của cải làm ra dồi dào… Tuy nhiên, thế giới vẫn tiềm ẩn các dấu
hiệu xung đột vũ trang, đối diện với các hiểm họa từ thiên nhiên, môi
trường sống bị ô nhiễm, thiếu lương thực, thiếu nước sạch. Nhiều nơi
vẫn còn bất công, vi phạm nhân quyền, thiếu dân chủ… Các phong
trào vì hòa bình và dân chủ nổ ra ở nhiều nơi trên toàn cầu.
Hiện nay, hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới,
nhưng không phải tất cả các nước đều tiến hành xây dựng nhà nước
theo mô hình NNPQ. Tùy vào điều kiện KT-XH, điều kiện lịch sử
hình thành quốc gia, lịch sử văn hóa khác nhau mà đã có các mô hình
NNPQ ở các nước có khác nhau. Tuy nhiên, đều có sự thống nhất
14
chung ở các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng NNPQ tư sản: thực
hiện đa nguyên, đa đảng, thực hiện phân chia quyền lực nhà nước và
tuyên bố đảm bảo quyền tự do của công dân. Nhiều nền kinh tế,
nhiều tổ chức kinh tế còn coi NNPQ là một trong những tiêu chí
quan trọng để đầu tư, chấp nhận gia nhập và hỗ trợ phát triển.
2.2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1. Những thành tựu
Trong những năm qua, thực hiện đường lối của Đảng, xây
dựng NNPQ XHCN đạt được nhiều kết quả tích cực.
Thứ nhất, nền dân chủ XHCN có bước phát triển đáng kể.
Thứ hai, tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước ngày càng
hoàn thiện, phương thức hoạt động nhà nước được đổi mới.
Thứ ba, hệ thống pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung và không
ngừng được hoàn thiện.
Thứ tư, cải cách hành chính được chú trọng, bộ mặt của nền
hành chính nhà nước đã bước đầu thay đổi, hướng tới phục vụ nhân
dân.
Thứ năm, mô hình chính quyền địa phương được củng cố, kiện
toàn, chất lượng, hiệu quả hoạt động từng bước được nâng lên.
Thứ sáu, công tác đấu tranh phòng chống quan liêu, tham
nhũng, lãng phí được tích cực chỉ đạo, đạt một số kết quả.
Thứ bảy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã có
bước đổi mới cả về nội dung và về phương thức lãnh đạo, vừa đảm
bảo tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy tính chủ
động của các cơ quan nhà nước.
2.2.2. Những hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, xây dựng NNPQ
XHCN ở Việt Nam vẫn còn bộc lộ hạn chế khó tránh khỏi.
15
Thứ nhất, về phát huy dân chủ.
Tình trạng thiếu dân chủ vẫn còn những biểu hiện và diễn biến
phức tạp. Tình trạng buông lỏng kỷ cương, pháp luật, dân chủ hình
thức, cán bộ cửa quyền, hách dịch vẫn còn nhiều. Một số quyền của
người dân chưa được tôn trọng, thậm chí còn tình trạng bắt oan, xử
oan cho người vô tội. Khi bị nhân dân phát hiện, khiếu kiện thì các
cơ quan có trách nhiệm chậm giải quyết và giải quyết chưa dứt điểm,
chưa khách quan.
Thứ hai, về hệ thống pháp luật.
Hệ thống luật pháp của nước ta vẫn chưa theo kịp với sự phát
triển chung của đất nước và thế giới, đã và đang bộc lộ nhiều hạn
chế. Pháp luật thường xuyên thay đổi, các văn bản luật có tuổi thọ rất
ngắn, thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn thực hiện hoặc phải
sửa đổi, bổ sung. Nhiều văn bản pháp luật có tính quy phạm thấp.
Thứ ba, về tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước
Công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp yêu cầu phát triển
KT-XH và quản lý đất nước, chưa phát huy được những điểm tích
cực và khắc phục hạn chế tính tự phát, tính tiêu cực của kinh tế thị
trường. Tổ chức bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, sự phân công phối
hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư
pháp) còn có những điểm chưa rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, mối
quan hệ, phân cấp giữa trung ương và địa phương chưa cụ thể, dẫn
tới tính trạng tập trung quan liêu, cục bộ địa phương.
Thứ tư, bộ máy nhà nước chưa thật sự được trong sạch, vững
mạnh. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt được
yêu cầu đề ra.
Năm là, sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước còn tình trạng
vừa buông lỏng, vừa bao biện, làm thay.
16
2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT TA TRONG XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
2.3.1. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong nhà nước pháp
quyền
Thực tế cho thấy, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước chưa
minh bạch, vẫn còn tình trạng bao biện, làm thay từ phía Đảng đối
với Nhà nước. Một số cán bộ đảng viên thoái hóa biến chất làm giảm
lòng tin của nhân dân đối với Đảng, vẫn còn hiện tượng cửa quyền,
lộng quyền, con cha cháu ông, chạy chức, chạy quyền trong các cơ
quan nhà nước. Vai trò của Đảng trong chỉ đạo, kiểm tra, giám sát
đối với các cơ quan quyền lực nhà nước còn nhiều hạn chế.
2.3.2. Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa
quá trình nhận thức về dân chủ của nhân dân trong NNPQ còn
nhiều hạn chế, có nhiều hiện tượng dân chủ quá trớn, thích làm gì thì
làm, dân chủ thiếu tập trung đã dẫn đến việc thực hành dân chủ kém
hiệu quả, đôi khi đã phản tác dụng.
2.3.3. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Sau gần 30 năm đổi mới đất nước, lĩnh vực lập pháp đã có
nhiều đổi mới. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp của nước ta vẫn không
theo kịp thực tiễn và còn nhiều bất cập. Pháp luật vừa mới ra chưa
kịp thực thi đã phải gở bỏ và thay thế, các văn bản, quy phạm pháp
luật chưa chi tiết, rõ ràng, mà chồng chéo về nội dung… điều này đã
gây không ít khó khăn cho các cơ quan thực thi pháp luật, một số đối
tượng lợi dụng sơ hở để lách luật, công dân trong các hoạt động sản
xuất kinh doanh, các doanh nghiệp luôn bị động trong những chiến
lược kinh doanh lâu dài. Luật pháp Việt Nam chưa hội nhập tốt với
luật quốc tế, điều này đã gây ra tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư
nước ngoài.
17
2.3.4. Phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà
nước
Tuy có thừa nhận yếu tố phân quyền, (Hiến pháp 2013 đã có
sự phân chia) nhưng chưa thừa nhận cơ chế cần phải có những công
cụ để chế ước lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực, mà thay vào đó là
sự giám sát tối cao của Quốc hội, và Quốc hội là cơ quan quyền lực
tối cao không bị giám sát bởi các cơ quan quyền lực. Để đảm bảo
quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân, nhất thiết cần
phải làm rõ cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ
quan quyền lực nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp, bảo đảm quyền lực không bị tha hóa và bị lạm
dụng. Cần làm sáng tỏ hơn mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước,
trách nhiệm, giới hạn phạm vi hoạt động của Đảng và ý nghĩa tối
thượng của Hiến pháp, pháp luật.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN PHƯƠNG TÂY
CẬN ĐẠI NHẰM HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1. NGUYÊN TẮC VẬN DỤNG
3.1.1. Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn
Khi vận dụng những tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại
nói riêng, tư tưởng pháp quyền trong lịch sử vào xây dựng NNPQ
XHCN Việt Nam hiện nay phải xuất phát từ mục tiêu, đặc điểm, đặc
trưng của NNPQ XHCN Việt Nam. Phải đánh giá đúng thực trạng,
hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và những vấn đề đang đặt
ra… để tìm ra những giải pháp hữu hiệu.
18
3.1.2. Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trên nền
tảng liên minh công – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng
Khi xây dựng NNPQ không được làm biến dạng và thay đổi
bản chất của Nhà nước ta, mà phải phải đảm bảo các tiêu chí: quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, Nhà nước là nhà nước XHCN dựa
trên nền tảng của liên minh công - nông - trí thức, do ĐCSVN lãnh
đạo, là nhà nước thực hành dân chủ một cách rộng rãi, là nhà nước
chuyên chính vô sản.
3.1.3. Thống nhất giữa phân công, phối hợp và kiểm soát
thực thi quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Đây vừa là một quan điểm chỉ đạo vừa
là một nguyên tắc quan trọng cơ bản trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy Nhà nước ta hiện nay, là vấn đề có tính lý luận và thực tiễn
sâu sắc.
3.1.4. Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ vừa quan điểm chỉ đạo, đồng
thời cũng là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy Nhà nước ta. Theo đó, quyền lực nhà nước phải tập trung thống
nhất từ trên xuống, nhưng điều này không đồng nghĩa với sự độc
đoán, chuyên quyền, quan liêu mà phải có sự bàn bạc và thống nhất.
NNPQ là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ.
3.2. CÁC GIẢI PHÁP
3.2.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng
Để giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
nhà nước trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân,
vì dân ở nước ta hiện nay cần phải tiến hành thực hiện đồng bộ các
nhóm giải pháp.