Tóm tắt luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển với việc bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa huế

  • 26 trang
  • file .pdf
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ NGÂN
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN VỚI
VIỆC BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA HUẾ
Chuyên ngành : Triết học
Mã số: 60.22.80
TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2015
Công trình được hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ VĂN ĐÍNH
Phản biện 1: TS. TRẦN NGỌC ÁNH
Phản biện 2: TS NGUYỄN THẾ TƯ
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Khoa học xã hội và nhân văn họp tại Đại học Đà
Nẵng ngày 31 tháng 1 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của vấn đề:
1.1.Di sản văn hóa không chỉ là tài sản quý giá của các dân tộc,
không chỉ có giá trị trong việc giáo dục tuyên truyền về truyền thống
văn hóa, lịch sử mà còn thực sự là lợi thế lớn trong phát triển kinh tế
xã hội. Kinh nghiệm từ các nước phát triển và ngay tại Việt Nam cho
thấy, nếu biết kết hợp chặt chẽ và hài hòa giữa bảo tồn và khai thác
các di sản văn hóa, lịch sử thì luôn luôn tạo ra được lợi thế cho sự
phát triển, nhất là phát triển kinh tế xã hội của địa phương, và ngược
lại, chính sự phát triển của kinh tế xã hội sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho
việc quảng bá và bảo tồn các giá trị di sản văn hóa.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI của Đảng ta chỉ rõ một trong
những phương hướng của hoạt động chăm lo phát triển văn hóa là
“Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị
các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng …Hoàn thiện và thực
hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo
tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân
tộc. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá, văn nghệ, bảo tồn,
phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch và hoạt động
thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá trong
công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài. Xây dựng và
thực hiện các chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, ngôn ngữ,
chữ viết các dân tộc thiểu số [21, tr 224,225]
Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương
9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đã chỉ rõ thực trạng
trên lĩnh vực bảo tồn, phát huy di sản văn hóa: “Sau 15 năm thực
hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát
2
triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt
kết quả quan trọng. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được
bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc
thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được
quan tâm. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường,
thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện.Tuy nhiên, so với những
thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối
ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng … Việc bảo
tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai
một chưa được ngăn chặn”. Nghị quyết cũng đã chỉ ra nhiệm vụ là
“Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát
huy di sản v ăn hóa với phát triển kinh tế - xã hội. B ảo tồn, tôn tạo
các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống
và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với
phát triển du lịch. Phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật
truyền thống có nguy cơ mai một. Phát huy các di sản được
UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con
người Việt Nam” [3, tr 9,11]
1.2.Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ
XIV nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã chỉ rõ thành tựu, hạn chế, phương
hướng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Huế là
“Công tác bảo tồn, phát huy giá trị di tích Cố đô Huế, di tích lịch sử
cách mạng, di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh và bảo tồn các giá trị phi
vật thể được chú trọng; đã đầu tư xây dựng, tôn tạo khu du lịch văn
hoá lịch sử Quang Trung - Huyền Trân Công chúa, Chín hầm, tạo
thêm sản phẩm mới về tham quan du lịch; gắn kết chặt chẽ giữa di
sản với văn hoá và du lịch, giữa du lịch, văn hoá với di sản…”, “
3
Công tác trùng tu các hạng mục di tích còn chậm, do nguồn ngân
sách chưa đáp ứng”, “Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đậm
đà bản sắc văn hoá dân tộc và văn hoá Huế gắn với bảo tồn, phát huy
giá trị các di sản văn hoá truyền thống, là khâu đột phá để phát triển
du lịch....Giữ gìn và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể và phi vật thể,
xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành trung tâm văn hoá, du lịch đậm đà
bản sắc dân tộc, văn hoá Huế. Gắn kết chặt chẽ công tác bảo tồn di sản
văn hoá với kinh tế du lịch và thông tin đối ngoại nhằm tuyên truyền sâu
rộng các giá trị văn hoá dân tộc, văn hoá Huế. Phối hợp chặt chẽ với Bộ
Văn hoá - Thể thao và Du lịch tập trung đầu tư hoàn thành cơ bản trùng tu
Đại Nội và một số di tích quan trọng, để xứng đáng là trung tâm du lịch
đặc sắc của Việt Nam” . [23, tr 38,48,73]
Năm 1981, trong Lời kêu gọi cứu vãn di sản văn hóa Huế tại
Hà Nội, Tổng giám đốc UNESCO lúc bấy giờ - ông M’Bow - đã cho
rằng, di sản Huế đang ở trong tình trạng lâm nguy, đang đứng bên
vực thẳm của sự diệt vong và sự quên lãng…chỉ có “một sự cứu nguy
khẩn cấp” với nỗ lực của Chính phủ Việt Nam cùng cộng đồng quốc
tế thì mới có thể giúp Huế thoát ra khỏi tình trạng trên. Trong thời
gian qua; dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế
và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTT&DL), sự lãnh đạo
của Đảng bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế…công cuộc bảo
tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nhân loại ở Cố đô Huế đã được
triển khai và đạt kết quả rất quan trọng: Di sản văn hoá Huế đã được
UNESCO chính thức công nhận đã vượt qua “giai đoạn cứu nguy
khẩn cấp” để bước vào “thời kỳ ổn định và phát triển”. Công cuộc
bảo tồn di tích Huế chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền
vững. Những kết quả quan trọng ấy được thể hiện trên các mặt: bảo
tồn, trùng tu di tích; bảo tồn văn hóa phi vật thể; bảo tồn, tôn tạo cảnh
4
quan môi trường các khu di sản; hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu
khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực; phát huy giá trị di sản.
Tuy nhiên những khó khăn, thử thách trên hành trình phát triển
được đặt ra dưới đây, đòi hỏi Đảng bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích cố
đô Huế cần phải nỗ lực hơn nữa trong công tác xây dựng Đảng nói
chung và công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nhân loại
ở cố đô Huế: Trước hết, đó là khả năng cần phải có sự đầu tư tương
xứng để bảo tồn di sản Huế với một quần thể di tích đồ sộ, với những
di sản văn hóa phi vật thể phong phú và với một môi trường cảnh
quan rộng lớn gắn bó hữu cơ với đô thị Huế. Thứ hai là cơ chế thế
nào để quản lý, đầu tư và phát huy di sản Huế một cách hiệu quả
nhất? Thứ ba là vấn đề nguồn nhân lực để đáp ứng cho công cuộc
bảo tồn di sản Huế trong thời kỳ mới. Thứ tư là thách thức đến từ sự
cạnh tranh giữa các khu di sản trong khu vực. Thứ năm là thách thức
và khó khăn đến từ mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển… Để vượt
qua những khó khăn và thử thách này đòi hỏi phải có một sự nhận
thức đúng đắn trong toàn thể cộng đồng về di sản Huế, đòi hỏi phải
có một chiến lược phù hợp cùng những sách lược linh hoạt của lãnh
đạo địa phương, phải có sự nỗ lực lớn hơn từ đơn vị được trực tiếp
giao phó việc quản lý khu di sản Huế (mà trọng trách là Đảng bộ
Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế), phải có sự chung sức của
nhân dân, và cuối cùng là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế cũng là
một yêu cầu không thể thiếu trong bối cảnh hội nhập cùng thế giới.
1.3. Để góp phần vận dụng những quan điểm được nêu trong Văn
kiện Đại hội Đảng lần thứ XI, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa
VIII, Nghị quyêt Hội nghị Trung ương 9 khóa XI của Đảng Cộng sản
Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa, lĩnh vực bảo tồn, phát huy giá trị các
di sản văn hoá truyền thống, cách mạng…chúng tôi cho rằng việc chọn
5
đề tài “Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển với việc bảo tồn, phát
huy các giá trị di sản văn hóa Huế” làm luận văn tốt nghiệp Cao học
Triết học là vấn đề có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa ; Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng
giữ gìn và phát huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay.Từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn và
phát huy các di sản văn hóa ở địa phương hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ được đặt ra là:
- Làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề giữ gìn và phát huy di sản
văn hóa ở nước ta hiện nay. Đặc biệt là làm rõ các khái niệm liên
quan đến luận văn như : văn hóa, phát triển, di sản văn hóa, bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa..
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về
bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.Từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.
- Phân tích thực trạng, một số vấn đề đặt ra của việc bảo tồn ,
phát huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay. Trên cơ sở đó,
luận văn đưa ra các quan điểm làm cơ sở và một số giải pháp, kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa tại địa phương trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
-Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển, giữa bảo
tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa.
6
- Nghiên cứu công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản Huế
trên các mặt: bảo tồn, trùng tu di tích; bảo tồn văn hóa phi vật thể;
bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di sản; hợp tác quốc
tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn và đào tạo nguồn nhân lực;
phát huy giá trị di sản.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa tại cố
đô Huế là trách nhiệm của toàn Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân
tỉnh Thừa Thiên – Huế; trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn
chỉ tập trung vào hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn
hóa tại cố đô Huế của Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế
- Thời gian: Nghiên cứu kết quả của bảo tồn và phát huy giá trị
các di sản văn hóa tại cố đô Huế từ năm 1982 đến nay (trọng tâm là
từ năm 1993 đến nay)
4. Phƣơng pháp luận,phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận macxit về văn hóa và phát
triển; các quan điểm của Đảng ta về về xây dựng nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung và bảo tồn, phát huy
giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng nói riêng
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu: Lịch
sử - lôgich, Phân tích - tổng hợp, Thống kê - so sánh…
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo…Luận văn
có 3 chương, 6 tiết:
Chương 1: Văn hóa và phát triển; bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa dân tộc ở nước ta hiện nay – cơ sở lý luận và thực tiễn
7
Chương 2: Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa
Huế thời gian qua
Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Huế trong thời gian tới.
6.Tổng quan tài liệu nghiên cứu
6.1. Các công trình khoa học liên quan đến lĩnh vực văn hóa;
bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa được công bố
6.2.Nhận xét
-Về phương diện lý luận văn hóa và phát triển: Các công trình
khoa học nói trên đã trình bày khái quát quan điểm mácxit về văn hóa
và phát triển; các quan điểm của Đảng ta về xây dựng nền văn hoá
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nói chung và bảo tồn,
phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, cách mạng nói riêng
-Về phương diện lý luận bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn
hoá truyền thống, cách mạng: Những công trình đó đã đề cập đến vai
trò của hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá; vai trò
của đảng bộ, chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo tồn và
phát huy các giá trị di sản văn hóa nhân loại ở cố đô Huế.
- Việc hệ thống hóa và tiếp cận vấn đề bảo tồn, phát huy giá trị
các di sản văn hoá Huế trên quan điểm văn hóa và phát triển thực sự
là vấn đề cần thiết về phương diện lý luận và thực tiễn.
8
CHƢƠNG 1
VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI
SẢN VĂN HÓA Ở NƢỚC TA HIỆN NAY - CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1.VĂN HÓA VÀ PHÁT TRIỂN.
1.1.1.Văn hóa và cấu trúc của văn hóa:
a. Định nghĩa văn hóa:
Hiện nay có nhiều định nghĩa về văn hóa; mỗi một định nghĩa
thường chỉ đề cập đến một nét nào đó của bản chất văn hóa.
-Đảng ta đã tạm thời sắp xếp vào 3 loại định nghĩa sau
đây:Văn hóa theo nghĩa rộng bao gồm cả trình độ phát triển về vật
chất và tinh thần.Văn hóa hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học,
kỹ thuật, giáo dục, văn học nghệ thuật.Văn hóa đặc biệt trong phạm
vi lối sống, nếp sống, đạo đức xã hội, văn hóa nghệ thuật [32 ]
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì văn hóa chỉ
gắn liền với con người và xã hội loài người. Cội nguồn của sự tồn tại
và phát triển văn hóa là ở hoạt động sáng tạo của con người. Đó là
hoạt động nhằm để hiểu biết, khám phá và sáng tạo.
Chủ tịch Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa nhân loại cũng
tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng của từ này. Người đã viết: “Vì lẽ
sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn,
ở, mặc và các phương thức sử dụng khác. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh
ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn” [45, tr 431]
9
-Tuyên bố toàn cầu của UNESCO về đa dạng văn hóa do Đại
hội đồng UNESCO lần thứ 31 (11/2001) định nghĩa: Văn hóa được
xem là tập hợp các đặc điểm nổi bậc về tinh thần, vật chất, tri thức
và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội và ngoài văn họa, nghệ
thuật , nó còn bao gồm cả lối sống, cách thức cùng chung sống, các
hệ thống giá trị, các truyền thống và các tín ngưỡng”[33, tr 355]
Như vậy, văn hóa bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra nhằm mục địch phục vụ sự tồn tại và phát
triển của cộng đồng loài người. Văn hóa, với tư cách là một hiện
tượng xã hội, chính là sự phát triển của những năng lực bản chất của
con người, không ngừng nâng cao trình độ làm chủ của con người
đối với tự nhiên, xã hội, bản thân, nhằm thỏa mãn nhu cầu về sự hiểu
biết, khám phá, sáng tạo trong thế giới con người theo hướng ngày
càng vươn tới giá trị đích thực của ích, chân, thiện, mỹ” hay nói một
cách ngắn gọn hơn “văn hóa chính là sự phát triển những năng lực
bản chất của con người hướng tới các giá trị nhân văn” [34, tr 5]
b. Cấu trúc
Có nhiều cách tiếp cận văn hóa dưới nhiều góc độ khác nhau
nên sự phân chia văn hóa cũng có nhiều cách phân chia.
Có người phân chia văn hóa thành hai loại văn hóa: văn hóa
vật chất, văn hóa tinh thần...
Nhiều nhà khoa học chia văn hóa thành nhiều loại hơn như
văn hóa kinh tế, văn hóa chính trị, văn hóa khoa học, văn hóa tư
tưởng, văn hóa tinh thần, văn hóa giáo dục, văn hóa đạo đức, văn hóa
thẩm mỹ...
Các giá trị văn hóa tồn tại trong các sản phẩm vật chất, tinh
thần được thể hiện trong lối sống, nếp sống, truyền thống, phong tục,
10
tập quán, tín ngưỡng … được xem như là tài sản vô giá của cộng
đồng, dân tộc được tích lũy và trao truyền từ đời này sang đời khác,
từ thế hệ này sang thế hệ khác người ta gọi là di sản văn hóa. Di sản
văn hóa cũng bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi
vật thể.
1.1.2. Phát triển và các quan điểm về phát triển xã hội
a.Phát triển:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phát triển là
khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã
hội và tư duy. Khuynh hướng chung của quá trình vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng là cái cũ mất đi, cái mới ra đời thay cho
cái cũ nhưng cái mới không hoàn toàn loại bỏ cái cũ mà giữ lại
những nhân tố tích cực, hợp lý của cái cũ, gia nhập vào cái mới, tạo
điều kiện cho cái mới ra đời và phát triển tiến bộ hơn cái cũ [28,
Tr.207]
b. Phát triển xã hội: Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm về
sự phát triển xã hội
* Tiếp cận từ góc độ kinh tế học; từ góc độ xã hội học; từ góc
độ dân chủ - nhân quyền; từ giác độ triết học chính trị (mác xít)
-Từ góc độ văn hoá: Phát triển xã hội được xem là sự vận động
có định hướng của mỗi quốc gia, dân tộc trên con đường tiến hoá từ
xã hội truyền thống đến xã hội văn minh hiện đại.
-Từ giác độ triết học chính trị (Mác xít): Ở quan niệm này,
phát triển xã hội được quan niệm là sự vận động của các hình thái
kinh tế - xã hội từ thấp lên cao .
* Trên cơ sở phân tích nói trên, có thể quan niệm phát triển xã
hội ở hai phương diện
- Thứ nhất, theo nghĩa rộng, Phát triển xã hội là sự vận động
11
của các hình thái kinh tế - xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao; là
quá trình tạo ra những điều kiện, nhân tố tự phủ định làm cho lịch sử
tiến lên một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn - xã hội xã hội chủ
nghĩa.
- Thứ hai, theo nghĩa hẹp, Phát triển xã hội là sự vận động có
định hướng của mỗi quốc gia, dân tộc nhằm đạt tới mục tiêu: tăng
trưởng kinh tế, ổn định chính trị, công bằng, dân chủ, văn minh.
1.1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển kinh tế- xã hội.
Trong mỗi chính sách kinh tế - xã hội luôn bao hàm nội dung
và mục tiêu văn hóa. Văn hóa có khả năng khơi dậy tiềm năng sáng
tạo của con người.
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội:.
Vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và trong cả cộng
đồng, được truyền lại, tiếp nối và phát huy qua các thế hệ, được vật
chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc xã hội của từng dân
tộc; đồng thời, nó tác động hàng ngày đến cuộc sống, tư tưởng, tình
cảm của mọi thành viên xã hội bằng môi trường xã hội - văn hóa.
Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển:
Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp nhận
cái mới, tạo ra cái mới, nhưng lại không thể tách rời cội nguồn. Phát
triển phải dựa trên cội nguồn bằng cách phát huy cội nguồn. Cội
nguồn đó của mỗi quốc gia dân tộc là văn hóa.
Văn hóa là một mục tiêu của phát triển:
Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chính là mục tiêu văn hóa.
Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bồi dưỡng,
phát huy nhân tố con người và xây dựng xã hội mới:
12
1.2. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN
HÓA Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1.2.1. Lý luận chung về Di sản văn hoá
a. Khái niệm “Di sản văn hoá”
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [31, tr.
254]. Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị
của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là
để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì
quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của
các ý nghĩa nói trên.
Như vậy, Di sản văn hóa được hiểu như là tài sản, là báu vật
của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Di sản văn hóa là các tài sản
văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến
trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học... mà các thế hệ
trước để lại cho hậu thế mai sau.
b. Phân loại di sản văn hoá
Phân loại Di sản văn hóa là một nhu cầu chính đáng trong
nghiên cứu. Theo quan niệm của UNESCO, Di sản văn hóa bao gồm
hai loại:
Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những
sản phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được”.
“Di sản “văn hóa phi vật thể” (intangible culture) được hiểu là
các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và
kèm theo đó là các công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn
hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm và một số trường hợp
là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ.
c. Quan điểm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Trước hết là quan điểm bảo tồn Di sản văn hóa . Từ điển Tiếng
13
Việt cắt nghĩa: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn “phát huy
là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm”.
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng
theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, “không
để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái”..
d. Kinh nghiệm về bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa dân
tộc của một số nước Châu Á
* Xác định Di sản văn hóa như là tài sản văn hoá:.
* Khai thác các giá trị của văn hoá truyền thống trên cơ sở
gắn với đời sống hiện đai
* Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc đi liền với mở rộng văn
hoá ra thế giới
1.2.2. Quan điểm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở
nƣớc ta hiện nay
Quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong hơn 80 năm qua là: Trân
trọng, bảo vệ, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc
vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì tiến bộ của nhân dân.
Đặc biệt từ năm 1986 đến nay, khi Đảng tiến hành đổi mới đất
nước, Đảng ta không chỉ đổi mới về kinh tế mà còn đổi mới trong
nhận thức và tư duy: Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa,
gắn chặt với phát triển văn hóa .
14
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HUẾ
THỜI GIAN QUA
2.1. TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA HUẾ
2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh
Thừa Thiên Huế và thành phố Huế
a.Nhân tố vị trí địa lý
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam
bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông.
Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên
Bắc-Nam, trục hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam
theo đường 9.
Thừa Thiên Huế nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa
cho nên thời tiết diễn ra theo chu kỳ 4 mùa, mùa xuân mát mẽ, ấm
áp; mùa hè nóng bức; mùa thu dịu và mùa đông gió rét.
Tỉnh Thừa Thiên Huế hiện có 9 đơn vị hành chính trực thuộc
gồm: thành phố Huế, thị xã Hương Thủy, thị xã Hương Trà và 06 huyện
(Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông).
b. Những nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội
Thừa Thiên Huế là một trung tâm văn hóa, du lịch và dịch vụ,
thành phố Festival của Việt Nam. Quần thể di tích Cố đô Huế và Nhã
nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là hai Di sản Văn
hoá vật thể và phi vật thể của thế giới; vịnh Lăng Cô là một trong
những vịnh đẹp nhất thế giới.
Nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: sông
Hương, núi Ngự, cầu Trường Tiền, Bạch Mã, Hải Vân, Cảnh Dương,
Thuận An, Tam Giang - Cầu Hai, có nhiều đền đài, lăng tẩm, chùa
chiền nổi tiếng... tạo cho Thừa Thiên Huế vị thế là một trung tâm du
15
lịch lớn của cả nước, thực hiện sự liên kết về du lịch với các tuyến du
lịch của Hành lang kinh tế Đông Tây, với các điểm du lịch của cả
vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước.
Thừa Thiên Huế là một trung tâm giáo dục đào tạo lớn của cả
nước và khu vực Đặc biệt, Bộ Chính trị đã có kết luận số 48-KL/TW
ngày 25/5/2009 về xây
2.1.2. Hệ thống Di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Thừa
Thiên Huế và thành phố Huế hiện nay.
Theo thống kê đến năm 2012, tại Thừa Thiên Huế hiện có số di
tích cấp Quốc gia là 85, số di tích cấp Tỉnh là 57 [10], [35], [44],
[48], [70]
a. Quần thể di tích Cố đô Huế
+ Di sản văn hóa vật thể
- Kinh thành Huế
- Lăng tẩm Huế
- Những di sản vật thể khác
Gồm các sưu tập như: đồ gỗ sơn son thiếp vàng và khảm cẩn
thời Nguyễn; đồ đồng Việt Nam thời Nguyễn và đồ đồng của Pháp;
nhạc khí dùng trong các cuộc tế lễ; trấn phong thời Nguyễn; tranh
gương... [69, tr. 403 - 404].
+ Di sản văn hóa phi vật thể
Nhã nhạc cung đình Huế dưới triều Nguyễn
Các điệu múa cung đình như: “Tam quốc - Tây du”, “Long
hổ hội”, “Lục cúng hoa đăng” , “Quần phương Hiến Thụy”..... đã
được biên dịch, chuyển thể và dàn dựng.
b. Các di tích về lịch sử, văn hóa, cách mạng và kiến trúc
-Nổi tiếng một thời là kinh đô Phật giáo của Việt Nam, Thừa
Thiên Huế có hàng chục ngôi chùa cổ kính, uy nghi như chùa Thiên
16
Mụ, Từ Đàm... tạo nét riêng trong đời sống tinh thần xứ Huế.
- Thừa Thiên Huế còn là nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử cách
mạng, đặc biệt quý hiếm là nhóm di tích gắn liền với thời niên thiếu
của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại mà trưởng Quốc học Huế, ngôi nhà
Dương Nổ và 112 Mai Thúc Loan là những di tích ghi dấu kỷ niệm
về Người.
- Huế còn những địa danh gắn với văn hóa Chămpa xưa, tiêu
biểu Tháp Mỹ Khánh, với nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như
núi Ngự, sông Hương, đồi Thiên An, đồi Vọng Cảnh, bãi biển Cảnh
Dương, Thuận An, phá Tam Giang, núi và rừng quốc gia Bạch Mã,
đèo Hải Vân, thác A Đon...
c. Các loại hình nghệ thuật dân gian, cung đình Huế
Đời sống tâm linh, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ nghi, hội
hè… ở Huế đều có sự hòa trộn giữa cái chung với những nét riêng.

d. Văn hóa ẩm thực của xứ Huế
Với hơn 1.700 món ăn, trong đó 123 món chay, 300 món ăn
mặn, 175 món chè, cháo… Món ngon xứ Huế là một kết hợp hài hòa
món ngon Chăm cổ với món ngon Việt cổ, món ngon Mường cổ,
món ngon dân gian Huế lâu đời và nhiều món ngon nhất cả nước,
được đưa về Phú Xuân Huế dâng chúa, tiến vua, cùng các món ăn
Tàu, Pháp, Mỹ, Nga v.v… do giao lưu và tiếp biến văn hóa từ nhiều
thế kỷ.
e. Hệ thống thư tịch cổ của Huế
Một lượng lớn thư tịch cổ, bao gồm các công trình địa chí, các
tác phẩm văn học, các bộ hương ước, phổ hệ, phả hệ, các châu bản
triều Nguyễn, các thần tích, thần phả, sắc phong…
17
2.2. HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN
VĂN HÓA HUẾ - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT
RA
2.2.1. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy những giá
trị của di sản văn hóa Huế
Kết quả công tác bảo tồn và phát huy những giá trị của di sản
văn hóa Huế trong thời gian qua (bao gồm di sản văn hóa vật thể, phi
vật thể và cảnh quan thiên nhiên…) được thể hiện ở các lĩnh vực:
a. Công tác trùng tu di tích (vật thể)
b. Công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể
c. Công tác bảo tàng và phát huy giá trị cổ vật; bảo tồn
ngành nghề truyền thống gắn với di tích
d. Công tác nghiên cứu khoa học - hướng dẫn và công tác
bảo tàng
e. Về bảo tồn, tôn tạo cảnh quan môi trường các khu di sản
g. Công tác quan hệ hợp tác quốc tế và kêu gọi đầu tư nước
ngoài; giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế
h. Vấn đề khai thác và phát huy giá trị các di sản nhằm giáo
dục và nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân, góp phần phát
triển kinh tế
i. Công tác xã hội hoá, công tác bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
k. Chính sách đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa trong
việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
l. Huy động các nguồn vốn đầu tư bảo tồn di sản văn hóa Huế
- Nguồn ngân sách tài trợ quốc tế .
- Nguồn ngân sách Trung ương, địa phương:
- Ngân sách xã hội hóa, từ nguồn thu khai thác dịch vụ:
18
m. Festival Huế là động lực quan trọng để đẩy nhanh tiến
trình hội nhập và phát triển của một vùng đất giàu truyền thống
văn hóa, giàu tiềm năng về kinh tế du lịch
+ Việc tổ chức thành công 5 kỳ Festival Huế đã nâng cao vị
thế của vùng đất giàu truyền thống và tiềm năng, tạo tiền đề xây dựng
Huế trở thành thành phố Festival của Việt Nam.
2.2.2 Một số hạn chế và những vấn đề đặt ra
a. Hạn chế
+ Thứ nhất; Về mô hình tổ chức quản lý di sản văn hóa chưa
hợp lý
+ Thứ hai; Tình trạng lấn chiếm, xâm hại di tích còn diễn ra khá
phổ biến
+ Thứ ba; nguy cơ mai một, thất truyền các loại hình nghệ
thuật, nhất là giá trị âm sắc Huế
+ Thứ tư; sự khó khăn trong quản lý các lễ hội do sự lai căng,
“thương mại hóa”
+ Thứ năm; Công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà
nước chưa thật sự đạt hiệu quả
b. Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn, phát huy các
giá trị di sản văn hóa Huế
- Thứ nhất, đó là khả năng cần phải có sự đầu tư tương xứng
để bảo tồn di sản Huế .
- Thứ hai, là cơ chế thế nào để quản lý, đầu tư và phát huy di
sản Huế một cách hiệu quả nhất.
- Thứ ba, là vấn đề nguồn nhân lực để đáp ứng cho công cuộc
bảo tồn di sản Huế trong thời kỳ mới.
- Thứ tư, thách thức đến từ sự cạnh tranh giữa các khu di sản
trong khu vực.
- Thứ năm, thách thức và khó khăn đến từ mâu thuẫn giữa bảo
tồn và phát triển