Tóm tắt luận án tiến sĩ luật học bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự việt nam

  • 14 trang
  • file .pdf
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
------------
LẠI VĂN TRÌNH
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số: 62 38 40 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Độ
Tp. Hồ Chí Minh - 2011
25
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
Chí Minh LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Trần Văn Độ, Lại Văn Trình (2010), “Hoàn thiện quyền và
nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đáp ứng yêu cầu
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Độ cải cách tư pháp”, Tài liệu hội thảo quốc tế quyền con người trong tố
tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Ủy ban nhân quyền
Australia.
2. Lại Văn Trình (2010), “Bảo đảm quyền con người của người bị
buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự quốc tế”, Toà án nhân dân,
Phản biện 1: GS.TS. Hồ Trọng Ngũ (11), tr.34.
Uỷ ban an ninh quốc phòng Quốc hội 3. Lại Văn Trình (2006), “Các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền
tự do dân chủ của công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
Phản biện 2: GS.TS. Võ Khánh Vinh nghĩa Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật, 5(217), tr.28.
4. Lại Văn Trình (2009), “Cần bổ sung nguyên tắc tranh tụng vào
Viện khoa học xã hội Việt Nam
Bộ luật tố tụng hình sự”, Toà án nhân dân, (10), tr.9.
5. Lại Văn Trình (2011), “Hoàn thiện các quy định Bộ luật tố
Phản biện 3: TS. Võ Thị Kim Oanh tụng hình sự về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng theo
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh tinh thần cải cách tư pháp”, tài liệu hội nghị khoa học chuyên ngành,
chủ đề: Tư pháp hình sự trong giai đoạn cải cách tư pháp, khoa Luật
Hình sự - Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Lại Văn Trình (2006), “Tăng cường việc bảo đảm quyền tự do
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp dân chủ của công dân trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn ở giai
tại: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh số 2 Nguyễn Tất đoạn xét xử”, Toà án nhân dân, (10), tr.8.
Thành, Quận 4, TP.Hồ Chí Minh. 7. Lại Văn Trình (2006), “Tăng cường việc bảo đảm quyền tự do
dân chủ của công dân trong xét xử vụ án hình sự”, Nghề Luật, (4), tr.45.
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2011
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Quốc gia (phía nam)
Thư viện Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
24 1
người tiến hành tố tụng; chế độ trách nhiệm đối với người tiến hành tố MỞ ĐẦU
tụng chưa rõ ràng.
Việc phân tích thực trạng pháp luật, nghiên cứu thực tiễn điều 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
tra, truy tố, xét xử, tìm ra những bất cập và nguyên nhân của chúng là Bảo đảm quyền con người là một trong những nội dung và cũng
cơ sở khoa học, thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật và là mục đích của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở
nâng cao hiệu quả hoạt động bảo đảm quyền con người của người bị nước ta. Chăm lo đến con người, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con
tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
người phát triển toàn diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội,
4. Từ những vấn đề lý luận được nghiên cứu, qua phân tích
đánh giá thực trạng, nhất là trên cơ sở làm sáng tỏ những hạn chế, bất trong các hoạt động Nhà nước là những quan điểm cơ bản được thể hiện
cập của pháp luật tố tụng hình sự cũng như thực tiễn áp dụng và nguyên trong các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, nhất là trong những năm
nhân của những bất cập, hạn chế đó cho phép chúng tôi đưa ra những gần đây. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ chính trị
kiến nghị hoàn thiện quy định của BLTTHS và các giải pháp khác nâng “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” khẳng định: “Đòi hỏi
cao hiệu quả việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị
của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ
can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
Để bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ
cáo, BLTTHS cần được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, hệ thống công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ
theo những nội dung cơ bản như sau: 1/ Hoàn thiện các quy định về các pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các
nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự; 2/ Hoàn thiện địa vị pháp lý của loại tội phạm và vi phạm”. Văn kiện Đại hội X của Đảng cũng đặt ra
các chủ thể quan hệ tố tụng hình sự; 3/ Hoàn thiện các quy định về biện nhiệm vụ “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
pháp ngăn chặn; 4/ Hoàn thiện các quy định về thủ tục khởi tố, điều tra,
nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người”. Trong văn kiện Đại
truy tố, xét xử; 5/ Hoàn thiện các quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố
tụng hình sự. hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng mới đây cũng tiếp tục đặt ra
Đồng thời với việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS, cũng nhiệm vụ: “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
cần thực hiện các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tố nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp
tụng trong bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch vững mạnh, bảo
cáo. Trong số đó, các giải pháp quan trọng là: tăng cường hướng dẫn áp
vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”.
dụng thống nhất pháp luật tố tụng hình sự; nâng cao trình độ, năng lực,
nhận thức của người tiến hành tố tụng; nâng cao năng lực, vị thế của Hoạt động tố tụng hình sự là một mặt hoạt động của Nhà nước
đội ngũ luật sư; hoàn thiện chế độ trách nhiệm của cơ quan, người tiến liên quan rất chặt chẽ với quyền con người. Hoạt động tố tụng hình sự
hành tố tụng đối với việc vi phạm quyền con người trong tố tụng hình là nơi các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất;
sự nói chung, của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng; kiện toàn và vì vậy là nơi quyền con người của các chủ thể tố tụng, đặc biệt là
tổ chức, biên chế đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, giải quyết người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, có nguy cơ dễ bị xâm hại nhất. Thực
khiếu nại tư pháp. tiễn điều tra, truy tố, xét xử trong những năm qua cho thấy rằng cũng
còn nhiều trường hợp vi phạm quyền con người trong quá trình tiến
hành tố tụng. Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, trong
2 23
đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của quá trình tố tụng; 4/ Nghiên cứu các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
người tiến hành tố tụng, các quy định về chế độ trách nhiệm của Nhà hình sự; 5/ Nghiên cứu các thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử liên
nước, cơ quan, người tiến hành tố tụng đối với công dân... Vì vậy, có quan đến bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị
thể nói nghiên cứu việc bảo đảm quyền con người của các chủ thể tố cáo; 6/ Nghiên cứu các quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình
tụng nói chung, đặc biệt của các chủ thể người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sự.
3.Trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của mình,
nói riêng trong tố tụng hình sự từ góc độ lập pháp cũng như áp dụng
Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc bảo đảm quyền con người nói
pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây
chung, quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, trong công
tụng hình sự nói riêng từ góc độ các quy định của pháp luật cũng như từ
cuộc cải cách tư pháp nói riêng ở nước ta. góc độ áp dụng các quy định đó trên thực tế.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ngay từ những ngày đầu thành lập, quyền con người, quyền
Trong khoa học pháp lý nước ta cũng như quốc tế, vấn đề bảo công dân đã được ghi nhận tương đối đầy đủ trong pháp luật nước ta.
đảm quyền con người nói chung, quyền con người trong hoạt động tư BLTTHS 2003 đã kế thừa và phát triển các quy định của BLTTHS 1988
pháp cũng như quyền con người trong tố tụng hình sự đã được nhiều tác lên một bước mới, hoàn thiện các nguyên tắc tố tụng hình sự; các quy
giả nghiên cứu từ các góc độ và với các mức độ khác nhau. Các công định về quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, quyền,
trình nghiên cứu đã công bố có thể được phân thành các nhóm sau đây: nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; các biện pháp ngăn chặn;
- Từ góc độ nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung các thủ tục điều tra, truy tố, xét xử… Đặc biệt, BLTTHS 2003 đã bổ
trong Nhà nước pháp quyền có các các công trình "Quyền con người sung một số chế định rất quan trọng liên quan đến việc bảo đảm quyền
trong thế giới hiện đại" của nguyên Giám đốc trung tâm quyền con con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự như
người của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh GS.TS. Hoàng Văn bổ sung thủ tục rút gọn, chế định khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình
sự… Từ góc độ pháp luật quốc tế, BLTTHS 2003 đã cơ bản thể hiện
Hảo và Phạm Ích Khiêm; công trình "Một số suy nghĩ về xây dựng nền
được nội dung của pháp luật quốc tế liên quan đến bảo đảm quyền con
dân chủ ở Việt Nam hiện nay" của Đỗ Trung Hiếu; công trình "Triết
người trong tố tụng hình sự.
học chính trị về quyền con người" của Nguyễn Văn Vĩnh; công trình
BLTTHS 2003 là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động tố
"Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội tụng trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong những năm qua, hoạt
chủ nghĩa Việt Nam” của GS.TS. Trần Ngọc Đường; bài báo "Nhà nước động đấu tranh phòng chống tội phạm được thực hiện nhìn chung có
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với việc bảo đảm quyền con hiệu quả; các quy định của BLTTHS được chấp hành nghiêm chỉnh và
người" của TS. Tường Duy Kiên; chuyên khảo "Quyền lực Nhà nước và thống nhất; quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cơ bản
quyền con người" của PGS. TS. Đinh Văn Mậu; các công trình của GS. được thực hiện.
TSKH Lê Văn Cảm về Nhà nước pháp quyền, về bảo đảm quyền con Tuy nhiên, từ góc độ bảo đảm quyền con người của người bị
người trong Nhà nước pháp quyền… tạm giữ, bị can, bị cáo, hoạt động tố tụng hình sự những năm qua cũng
Trong các công trình này, các tác giả đã nghiên cứu khái niệm còn những hạn chế: tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam trái pháp luật, truy
và các đặc điểm Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp cứu trách nhiệm hình sự oan, sai vẫn xảy ra nhiều; các quy định của
quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng; nghiên cứu về mối quan hệ giữa BLTTHS còn bị vi phạm nghiêm trọng… Nguyên nhân của những hạn
quyền con người và quyền công dân; nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền chế đó là do: các bất cập của BLTTHS; ý thức, trình độ, năng lực của
22 3
là người bị nghi thực hiện tội phạm , quyền của người bị tạm giữ được con người trong Nhà nước pháp quyền… Tuy nhiên, các công trình nêu
quy định liên quan đến hai yếu tố cấu thành của tạm giữ: tính có căn cứ trên thực hiện việc nghiên cứu bảo đảm quyền con người từ góc độ triết
của việc tạm giữ và tính hợp pháp của việc tạm giữ: 2/ Đối với bị can là học, xã hội học hoặc lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật. Các tác
người đã bị khởi tố về hình sự, kể từ thời điểm quyết định khởi tố bị can, giả cố gắng đưa ra quan niệm về quyền con người, các đặc trưng về
tức Nhà nước đã thể hiện sự buộc tội đối với con người cụ thể, bị can là quyền con người; nghiên cứu mối quan hệ giữa quyền con người và
người chính thức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội. Đây là
quyền công dân; khẳng định yêu cầu bảo đảm quyền con người trong
điểm khác biệt rất lớn giữa bị can và người bị tạm giữ liên quan đến việc
Nhà nước pháp quyền. Đồng thời, tuy có cách nhìn không hoàn toàn
bảo đảm quyền con người của họ trong TTHS; 3/ Đối với bị cáo là người
giống nhau và ở các mức độ khác nhau, nhưng các tác giả cũng đã xây
đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử; cũng như bị can, bị cáo là người
bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội, do đó địa vị pháp lý, tình dựng được cơ chế bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp
trạng của bị cáo cũng giống như bị can, nguy cơ bị xâm phạm quyền con quyền.
người cao, cho nên các biện pháp bảo đảm quyền con người đối với bị Tham khảo các quan điểm lý luận cũng như giải pháp, cơ chế
can, bị cáo cơ bản là giống nhau. Tuy nhiên, điểm khác biệt quan trọng chung bảo đảm quyền con người có ý nghĩa rất quan trọng trong nghiên
giữa bị cáo và bị can là bị cáo tham gia tố tụng trong một cơ chế tố tụng cứu, xây dựng lý thuyết cũng như giải pháp cụ thể bảo đảm quyền con
hòan chỉnh, đầy đủ những người tham gia tố tụng, các cơ quan, người người trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể.
tiến hành tố tụng với chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử; thực hiện - Từ góc độ pháp luật chuyên ngành, cũng đã có nhiều công
các quyền tố tụng của mình trong phiên tòa, công khai, dân chủ và bình trình về bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hoặc tư pháp
đẳng. hình sự được công bố. Trong số các công trình này có luận án tiến sĩ
Từ góc độ bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, luật học "Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt
bị cáo trong tố tụng hình sự, những vấn đề quan trọng, có tính quyết định Nam hiện nay” của Nguyễn Huy Hoàng; các bài báo của GS.TSKH Lê
ở chỗ: 1/ Xác định đầy đủ, chính xác địa vị tố tụng (quyền và nghĩa vụ tố
Văn Cảm "Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp
tụng) của các chủ thể tố tụng hình sự; 2/ Xác định hợp lý sự cần thiết và
luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự"; đề tài khoa học cấp Đại học quốc
mức độ sử dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng, nhất là các biện pháp
gia “ Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố
ngăn chặn; 3/ Quy định các nguyên tắc và thủ tục tố tụng hợp lý để hạn
chế đến mức thấp nhất các vi phạm quyền con người nhưng vẫn đảm bảo tụng hình sự trong giai đọan xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”
hiệu quả của tố tụng hình sự và; 4/ Quy định đầy đủ, rõ ràng quyền khiếu do GS.TSKH. Lê Văn Cảm, TS. Nguyễn Ngọc Chí, Ths. Trịnh Quốc
nại, tố cáo của họ đối với các hành vi vi phạm từ phía cơ quan tiến hành Tỏan đồng chủ trì; báo cáo "Bảo đảm quyền con người trong tố tụng
tố tụng, người tiến hành tố tụng. hình sự trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
Do đó, khi nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người trong nghĩa Việt Nam" tại Hội thảo về Quyền con người trong tố tụng hình sự
tố tụng hình sự cần tập trung phân tích các quy định của BLTTHS và (do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Ủy ban nhân quyền Australia tổ
thực hiện các quy định đó trên thực tế theo các nội dung cơ bản sau: 1/ chức tháng 3-2010) của PGS. TS. Nguyễn Thái Phúc; luận án tiến sĩ
Nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản tố tụng hình sự liên quan đến bảo "Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn
đảm quyền con người trong tố tụng hình sự; 2/ Nghiên cứu địa vị tố Quang Hiền; chuyên khảo "Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự,
tụng của người tiến hành tố tụng và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo luật tố tụng hình sự Việt Nam" của T.S. Trần Quang Tiệp; bài báo
trong tố tụng hình sự; 3/ Nghiên cứu về chứng cứ và quá trình chứng “Thực hiện dân chủ trong tố tụng hình sự trong bối cảnh cải cách tư
minh trong tố tụng hình sự để đảm bảo tính chính xác, khách quan của
4 21
pháp ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Mạnh Kháng; chuyên khảo "Các quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai
nguyên tắc tố tụng hình sự" của PGS.TS. Hòang Thị Sơn và TS. Bùi đọan tố tụng khác nhau; 2/ Luận án đã phân tích có hệ thống các quy
Kiên Điện; bài báo "Nguyên tắc suy đoán vô tội" của PGS. TS. Nguyễn định của Bộ luật TTHS và đánh giá đầy đủ, tòan diện thực tiễn bảo đảm
Thái Phúc v.v… quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt
Trong các công trình này, các tác giả nghiên cứu việc bảo vệ Nam, từ đó tìm ra được những hạn chế, bất cập về bảo đảm quyền con
người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS và nguyên nhân
quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung, kể cả hình sự, dân
của những bất cập, hạn chế; 3/ Luận án đã đưa ra được số giải pháp và
sự. Một số công trình nghiên cứu vấn đề từ góc độ tư pháp hình sự, bao
kiến nghị nhằm hòan thiện các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam
gồm cả luật hình sự và luật tố tụng hình sự. Số công trình khác thì
và tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can,
nghiên cứu từ góc độ tố tụng hình sự. Do phạm vi quá rộng, cho nên các bị cáo trong họat động TTHS. Thể hiện qua một số điểm chính như sau:
tác giả chỉ nghiên cứu sơ lược các nội dung mà chưa đi sâu nghiên cứu 1. Quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự
thật đầy đủ, toàn diện, hệ thống trong tố tụng hình sự đối với những đối nhiên” và “quyền xã hội”, tất yếu cần được pháp luật bảo vệ. Tôn trọng
tượng khác nhau. Quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bảo đảm quyền con người là một trong những đặc tính quan trọng của
được nghiên cứu tương đối sơ lược. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu xuất Nhà nước pháp quyền. Là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
phát từ phân tích quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng dân, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn coi con người
mà chưa đi sâu nghiên cứu các chế định liên quan khác như các nguyên là vị trí trung tâm trong mọi chính sách kinh tế, xã hội và tạo mọi điều
tắc tố tụng hình sự, các thủ tục tố tụng hình sự, các biện pháp cưỡng chế kiện để con người phát triển. Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền con
tố tụng liên quan đến quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị người bằng các biện pháp lập pháp cũng như thi hành pháp luật, các
cáo (Nguyễn Quang Hiền, Trần Quang Tiệp…). Có công trình lại biện pháp liên quan đến chế độ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, cán
nghiên cứu bằng cách phân từng giai đoạn tố tụng, bảo vệ quyền con bộ, công chức trong việc bảo vệ các quyền con người, các biện pháp xử
lý vi phạm quyền con người, các biện pháp bảo đảm quyền khiếu nại, tố
người nói chung trong khởi tố, trong điều tra, trong truy tố, trong xét xử
cáo của công dân và các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ trong
và trong thi hành án hình sự (Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí…).
hoạt động của Nhà nước.
- Trong một số công trình khoa học khác, các tác giả đã nghiên
2. Tố tụng hình sự là hoạt động có tác động rất lớn đến quyền
cứu tương đối sâu việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực tố tụng con người nói chung, quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị
hoặc đối với người tham gia tố tụng nhất định như vấn đề bảo vệ quyền cáo nói riêng. Vì vậy bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị
bào chữa của người bị buộc tội được đề cập trong các công trình của can, bị cáo là một trong những nhiệm vụ và là mục đích quan trọng của
PGS. TS. Phạm Hồng Hải, TS. Nguyễn Văn Tuân, PGS. TS. Hoàng Thị tố tụng hình sự.
Sơn, TS. LS. Phan Trung Hoài…; vấn đề bảo đảm quyền con người Trong tố tụng hình sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những
trong áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được đề người tham gia tố tụng có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết vụ
cập trong các công trình của TS. Trần Quang Tiệp, TS. Nguyễn Văn án. Họ là người bị cơ quan tiến hành tố tụng coi là người đã thực hiện
Điệp, ThS. Nguyễn Mai Bộ… hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm. Tùy theo
Trong các công trình nêu trên, các tác giả đi sâu nghiên cứu giai đoạn tố tụng khác nhau mà tên gọi cũng như địa vị pháp lý của người
việc bảo vệ một quyền cụ thể là quyền bào chữa của bị can, bị cáo đó cũng khác nhau: 1/ Đối với người bị tạm giữ, địa vị pháp lý của họ
(Phạm Hồng Hải, Nguyễn Văn Tuân, Hoàng Thị Sơn, Phan Trung được quy định xuất phát từ bản chất của việc tạm giữ là: cách ly người bị
nghi thực hiện phạm tội trong thời gian ngắn; do đó người bị tạm giữ chỉ
20 5
- Sửa đổi điều 333 BLTTHS về thẩm quyền và thời hạn giải quyết Hoài…); các tác giả khác thì nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người
khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam. của bị can, bị cáo trong một chế định tố tụng hình sự cụ thể là áp dụng
- Để công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo được thuận lợi, chặt chẽ biện pháp ngăn chặn (Trần Quang Tiệp, Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn
và hiệu quả, cần quy định bổ sung điều luật “ mở ” về thủ tục giải quyết Mai Bộ…); một số khác thì đề cập đến việc bảo đảm quyền con người
khiếu nại, tố cáo, cụ thể: trong các nguyên tắc tố tụng (Hoàng Thị Sơn, Bùi Kiên Điện, Nguyễn
“Thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện theo quy định
Thái Phúc…).
của chương này và các quy định khác của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
- Ở nước ngoài cũng đã nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề bảo
không trái với quy định của chương này.”
đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền nói chung (The Rule
- Ngoài ra, để công tác giải quyết khiếu nại được tăng cường đảm
of law của M. Hager); bảo đảm quyền con người trong hệ thống tư pháp
bảo thực hiện, cần quy định bổ sung điều khoản:“Các quyết định giải
quyết khiếu nại của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Chánh án Toà án (Saudi Arabia, human rights: Judicial system); bảo đảm quyền con
phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.” người trong các nguyên tắc tố tụng hình sự (Principle of Criminal
Đồng thời với việc hoàn thiện các quy định của BLTTHS, cũng cần procedure của Neil Andrews); bảo đảm quyền con người trong xét xử
thực hiện các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng vụ án hình sự (Human rights in the English criminal trial - Human
trong bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. rights in criminal procedure của K.W. Lidstone) hoặc nghiên cứu vấn
Trong số đó, các giải pháp quan trọng là: tăng cường hướng dẫn áp dụng đề bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội (The guarantees for
thống nhất pháp luật tố tụng hình sự; nâng cao trình độ, năng lực, nhận accused persons under Article 6 of the European Convention on Human
thức của người tiến hành tố tụng; nâng cao năng lực, vị thế của đội ngũ Rights của Stephanos Stavros) v.v…
luật sư; hoàn thiện chế độ trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố Đánh giá chung về các công trình đã được công bố có nội dung
tụng đối với việc vi phạm quyền con người trong tố tụng hình sự nói đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung, trong tố tụng hình
chung, của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng; kiện toàn tổ chức, sự nói riêng mà chúng tôi được tiếp cận, chúng tôi thấy rằng chưa có
biên chế đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tư một công trình khoa học nào tiếp cận một cách toàn diện, hệ thống,
pháp. đồng bộ về vấn đề bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.
KẾT LUẬN
Nhiều vấn đề lý luận quan trọng như thế nào là bảo đảm quyền con
người trong tố tụng hình sự, cơ chế bảo đảm quyền con người trong tố
Bảo đảm quyền con người nói chung, quyền con người của
tụng hình sự như thế nào, các biện pháp bảo đảm quyền con người trong
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng trong tố tụng hình sự là vấn đề
tố tụng hình sự ra sao… còn bị bỏ ngỏ hoặc đã được đề cập ở mức độ
rộng và chưa được nghiên cứu nhiều trong khoa học luật tố tụng hình sự
nước ta. Đây là một vấn đề khó nhưng rất quan trọng cả về lý luận và nhất định nhưng còn thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất. Do vậy, đa số các
thực tiễn, nên chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Bảo đảm quyền con công trình chủ yếu bám vào phân tích các quy định của pháp luật thực
người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt định, có so sánh với thực tiễn để tìm ra những bất cập, hạn chế. Các
Nam”. Với khả năng có hạn, chúng tôi đã cố gắng nghiên cứu và công trình đã công bố chưa xây dựng được một cơ chế bảo đảm quyền
đạt được một số kết quả khiêm tốn sau đây: 1/ Luận án đã góp phần con người trong tố tụng hình sự về mặt lý luận để từ đó phân tích, đánh
làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền giá khoa học thực trạng (pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật) bảo
con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự; đảm quyền con người, nhất là của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
làm rõ những điểm chung và những đòi hỏi đặc thù trong bảo đảm
6 19
(những người dễ bị xâm phạm nhất) để từ đó đưa ra những giải pháp tụng khác”. Việc hoàn thiện này đáp ứng yêu cầu xét xử công khai, dân
tăng cường bảo đảm quyền con người của những người đó trong tố tụng chủ của phiên tòa hình sự.
hình sự. - Bổ sung một đoạn vào khoản 1 điều 217 BLTTHS về trình tự phát
Nhận thấy đây là một vấn đề khó nhưng rất quan trọng cả về lý biểu khi tranh luận như sau: “Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo
luận và thực tiễn; hơn nữa vấn đề này lại chưa được nghiên cứu một yêu cầu của người bị hại, thì tiếp theo lời luận tội của Kiểm sát viên,
cách toàn diện, hệ thống, đồng bộ; vì thế nên chúng tôi đã quyết định người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc
chọn đề tài:“Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị tội”.
- Hoàn thiện điều 221 BLTTHS về việc xem xét việc rút quyết
cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam” cho luận án tiến sĩ của mình.
định truy tố tại phiên tòa theo hướng: bổ sung thêm mệnh đề “ trong
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
trường hợp tại phiên tòa Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố
+ Mục đích nghiên cứu:
thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử về phần quyết định truy tố không
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận bảo đảm quyền con bị rút”.
người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS, đồng thời - Hòan thiện khoản 2 điều 221 BLTTHS theo hướng: trường hợp
nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động tại phiên tòa nếu Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội
TTHS, làm sáng tỏ những bất cập hạn chế, để đưa ra những kiến nghị đồng xét xử quyết định đình chỉ vụ án. Nếu thấy rằng việc rút quyết định
và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị tạm truy tố là không có căn cứ thì Hội đồng xét xử kiến nghị với Viện kiểm
giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam. sát cấp trên; Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị theo thủ tục
+ Nhiệm vụ nghiên cứu: phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm. Đối với bị cáo được quyền kháng cáo
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt về lý do của việc rút truy tố mà Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ
ra là: vụ án.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm 3.4.3. Hoàn thiện điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình Hoàn thiện điều 319 BLTTHS theo hướng quy định 3 điều kiện
sự; hệ thống hóa các biện pháp bảo đảm; làm rõ những điểm chung và thủ tục rút gọn như sau: 1/ Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm
những đòi hỏi đặc thù trong bảo đảm quyền con người của các chủ thể trọng; 2/ Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; 3/ Có sự đồng ý
này trong các giai đoạn tố tụng khác nhau. của người phạm tội.
3.4.4. Hoàn thiện các quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng
- Phân tích các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan
hình sự
đến bảo đảm quyền con người; tìm ra những hạn chế và bất cập về bảo
- Quy định rõ ràng về “đối tượng khiếu nại” theo thủ tục giải
đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong thực
quyết khiếu nại tố tụng.
tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; - Sửa đổi, bổ sung vào điều 331 BLTTHS về thẩm quyền và thời
- Nghiên cứu kinh nghiệm của pháp luật quốc tế về bảo đảm hạn giải quyết khiếu nại đối với Thư ký Toà án, Hội thẩm, Phó chánh
quyền con người trong TTHS; án, Chánh án Toà án.
- Kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của - Bổ sung vào điều 228 BLTTHS thủ tục kháng cáo, kháng nghị
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và tăng cường bảo đảm quyền con đối với quyết định bắt tạm giam bị cáo của Hội đồng xét xử sơ thẩm sau
người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong hoạt động tố tụng hình khi tuyên án.
sự.
18 7
3.4. Hoàn thiện các quy định về thủ tục tố tụng + Phạm vi nghiên cứu:
3.4.1. Hoàn thiện các quy định về thủ tục khởi tố, điều tra - Bộ luật tố tụng hình sự 1988, Bộ luật tố tụng hình sự 2003;
- Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra, xác minh tin báo - Thực tiễn tố tụng từ năm 2004 đến năm 2009 (theo Bộ luật tố
về tội phạm của Cơ quan điều tra, tránh được vi phạm quyền con người, tụng hình sự hiện hành);
cần bổ sung vào khoản 2 điều 103 BLTTHS quy định cho phép Cơ - Tập trung chủ yếu vào nội dung bảo đảm quyền con người của
quan điều tra áp dụng các biện pháp điều tra được quy định trong Bộ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong mối liên hệ với các chế định khác
luật này để kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị của tố tụng hình sự.
khởi tố nhằm xác định căn cứ khởi tố vụ án hình sự.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Sửa đổi điều 13, khoản 1 điều 104 BLTTHS theo hướng hủy bỏ
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án.
nghĩa Mác-Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ
- Sửa đổi khoản 2 điều 105 BLTTHS lại như sau: “Trong trường
hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước khi bản án, quyết định Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và
có hiệu lực pháp luật, thì vụ án phải được đình chỉ”. Pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo đảm quyền
- Bổ sung một số quyền của bị can trong giai đoạn điều tra như: con người.
quyền được có mặt người bào chữa khi bị hỏi cung và trách nhiệm của Việc nghiên cứu được thực hiện từ góc độ lý luận chung về
Điều tra viên bảo đảm quyền đó của bị can; quyền được yêu cầu đối quyền con người nói chung và từ góc độ tố tụng hình sự nói riêng.
chất trong quá trình điều tra. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích,
3.4.2. Hoàn thiện các quy định về thủ tục xét xử tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê v.v...
- Từ góc độ bảo đảm quyền con người của người tham gia tố Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã khảo sát thực tiễn
tụng, việc quy định Tòa án có quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung khi có điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng tại một số
căn cứ cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác là thành phố, tỉnh, nghiên cứu hồ sơ các vụ án làm cơ sở thực tiễn cho việc
vô hình dung đã biến Tòa án thành cơ quan buộc tội, gây hậu quả xấu nghiên cứu.
cho bị cáo hoặc người khác trước khi Tòa án mở phiên tòa. 5. Những đóng góp mới của luận án
Hoàn thiện khoản 1 điều 179 BLTTHS như sau: “1. Thẩm phán - Luận án đã góp phần làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận về
ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị
những trường hợp sau đây: a/ Khi cần thu thập thêm những chứng cứ
can, bị cáo trong tố tụng hình sự; hệ thống hóa được các biện pháp bảo
quan trọng không thể bổ sung tại phiên tòa mà thiếu nó Tòa án không
đảm; làm rõ những điểm chung và những đòi hỏi đặc thù trong bảo đảm
thể ra phán quyết về vụ án; b/ Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng
quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong các giai
thủ tục tố tụng”.
- Bổ sung vào điều 207 BLTTHS một khoản quy định về trình tự đọan tố tụng khác nhau.
xét hỏi của những người tiến hành tố tụng, trách nhiệm xét hỏi và trình - Luận án đã phân tích có hệ thống các quy định của Bộ luật
tự được xét hỏi của những người tham gia tố tụng theo hướng tại phiên TTHS và đánh giá đầy đủ, tòan diện thực tiễn bảo đảm quyền con người
tòa: “ 1/ Khi xét hỏi Kiểm sát viên hỏi trước rồi đến người bào chữa và của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam, từ đó tìm ra
những người tham gia tố tụng được yêu cầu xét hỏi. Hội đồng xét xử chỉ được những hạn chế, bất cập về bảo đảm quyền con người của người bị
thực hiện việc xét hỏi khi có tình tiết chưa được làm sáng tỏ; 2/ Khi tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS và nguyên nhân của những bất cập,
được xét hỏi, bị cáo phải được xét hỏi trước, rồi đến người tham gia tố hạn chế.
8 17
- Luận án đã đưa ra được một số giải pháp và kiến nghị nhằm 3.3. Hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn chặn
hòan thiện các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và tăng cường 3. 3.1.Hoàn thiện các quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn
bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong chặn
họat động TTHS. Trước tiên, cần sửa đổi khoản 1 điều 88 BLTTHS về căn cứ áp
6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài dụng tạm giam theo hướng tạm giam chỉ có thể được áp dụng đối với bị
Đây là công trình chuyên khảo ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên can, bị cáo nếu có căn cứ cụ thể khẳng định rằng họ có thể tiếp tục
cứu về vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, của người bị tạm phạm tội, có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc
giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự nước ta. Công trình nghiên cứu thi hành án.
các vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, Đồng thời với việc hoàn thiện căn cứ áp dụng biện pháp tạm
phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị giam nêu trên, cần nghiên cứu sửa đổi khoản 1 điều 303 BLTTHS về
tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự và kiến nghị các giải pháp căn cứ bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên từ đủ 14
tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự. tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội theo hướng thu hẹp phạm vi áp dụng các
Đề tài là một đóng góp khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc này đối với người chưa thành niên
khoa học, một trong những nội dung cấp thiết hiện nay ở nước ta cũng phạm tội, đáp ứng chính sách nhân đạo của Nhà nước ta và nguyên tắc
như trên thế giới là vấn đề bảo đảm quyền con người. Quy định về coi trọng giáo dục, phòng ngừa đối với người chưa thành niên phạm tội.
quyền con người đã là quan trọng và cần thiết nhưng cần thiết hơn, 3.3.2. Hoàn thiện các quy định về thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn
quan trọng hơn là vấn đề bảo đảm cho các quyền đó được thực thi trong chặn
cuộc sống. - Sửa đổi khoản 6 điều 120 BLTTHS như sau: “ Trong khi tạm
Luận án là một tài liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động lập
giam, nếu căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam không còn nữa thì Cơ
pháp tố tụng hình sự, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cũng như
quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm
trong học tập, nghiên cứu về tố tụng hình sự.
giam…”.
7. Kết cấu luận án
- Bổ sung vào khoản 2 điều 166, điều 177 BLTTHS căn cứ áp
Kết cấu luận án: ngòai phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3
dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo hướng: sau khi nhận
chương.
hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát, Tòa án có quyền áp dụng biện pháp ngăn
- Chương 1: Nhận thức chung về bảo đảm quyền con người
chặn khi có căn cứ được quy định tại các điều 88, điều 91, điều 92, điều
trong Nhà nước pháp quyền và trong tố tụng hình sự.
- Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị 93 BLTTHS; có trách nhiệm thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn
tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam và pháp luật chặn đó khi không còn căn cứ áp dụng.
quốc tế. - Hoàn thiện điều 94 BLTTHS theo hướng: 1/ Khi vụ án bị đình
- Chương 3: Một số kiến nghị tăng cường bảo đảm quyền con chỉ thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đều phải được hủy bỏ;
người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt 2/ Khi thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn đã hết thì biện pháp đó
Nam. phải được hủy bỏ; 3/ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải hủy
bỏ biện pháp ngăn chặn hoặc thay thế bằng một biện pháp khác khi
không còn căn cứ áp dụng.
16 9
một sự thừa nhận tội lỗi của mình; 3/ Bổ sung quyền được yêu cầu cơ
quan, người tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, NỘI DUNG
nhân phẩm; 4/ Bổ sung trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng Chương 1: Nhận thức chung về bảo đảm quyền con người
bảo đảm cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền tố tụng của họ trong Nhà nước pháp quyền và trong tố tụng hình sự
theo quy định của pháp luật; trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết Trong chương này, tác giả giải quyết hai vấn đề trọng tâm, đó là
để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người tham gia mối quan hệ giữa việc bảo đảm quyền con người với Nhà nước pháp
tố tụng khi có yêu cầu; 5/ Sửa đổi điểm d khoản 2 điều 48 BLTTHS theo quyền và trong tố tụng hình sự.
hướng người bị tạm giữ có quyền nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích 1.1. Nhà nước pháp quyền và bảo đảm quyền con người
hợp pháp; 6/ Sửa đổi điểm e khoản 2 điều 49, điểm e khoản 2 điều 50 Việc nghiên cứu cho thấy rằng:
BLTTHS theo hướng bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa. Quan niệm về Nhà nước pháp quyền và các đặc trưng của nó rất
3.2.3. Hoàn thiện các quy định về người bào chữa phong phú về mặt lý luận và thể hiện cụ thể ở các nước khác nhau.
- Trong điều kiện hiện nay không nên hạn chế, mà phải mở Tuy nhiên, dù quan niệm khác nhau như thế nào thì các tác giả đều
rộng phạm vi tham gia của đội ngũ cán bộ có kiến thức pháp luật. Đồng thống nhất với nhau rằng Nhà nước pháp quyền là Nhà nước nhân bản
thời có thể hạ thấp tiêu chuẩn của người bào chữa để nhiều người có thể vì con người. Quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa
tham gia bào chữa (ví dụ: tất cả những người đã là Thẩm tra viên ngành “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội”, tất yếu cần được pháp luật bảo vệ.
Tòa án, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát các cấp sau khi nghỉ hưu đều có Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền con người là
thể làm người bào chữa ngay với điều kiện có đăng ký hành nghề). Có thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo đảm quyền con người
như vậy, xã hội mới lôi cuốn được đông đảo người có kiến thức pháp luật là một trong những đặc tính quan trọng của Nhà nước pháp quyền. Là
thực hiện việc bào chữa trong vụ án hình sự, tăng cường việc bảo đảm Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nhà nước Cộng hòa
quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn coi con người là vị trí trung tâm trong
sự. mọi chính sách kinh tế, xã hội và tạo mọi điều kiện để con người phát
- Hoàn thiện quy định về địa vị tố tụng của người bào chữa triển. Nhà nước bảo đảm thực hiện quyền con người bằng các biện pháp
trong tố tụng hình sự. Trước tiên, cần sửa đổi khoản 4 điều 56 BLTTHS liên quan đến hoạt động lập pháp và hoạt động thi hành pháp luật của
theo hướng đối với người bị tạm giữ thì thay cho việc cấp giấy chứng Nhà nước, các biện pháp liên quan đến chế độ trách nhiệm của cơ quan
nhận người bào chữa trong vòng 24 giờ bằng việc Cơ quan điều tra Nhà nước, cán bộ, công chức trong việc bảo vệ các quyền con người,
chấp nhận ngay cho người có chứng chỉ hành nghề luật sư bảo vệ quyền các biện pháp xử lý vi phạm quyền con người, các biện pháp bảo đảm
lợi cho người bị tạm giữ. quyền khiếu nại, tố cáo của công dân và các biện pháp bảo đảm thực
- Hoàn thiện điều 58 BLTTHS theo hướng bảo đảm tối đa cho hiện dân chủ trong hoạt động của Nhà nước.
người bào chữa thu thập chứng cứ, có mặt trong các hoạt động điều tra. 1.2. Vấn đề lý luận bảo đảm quyền con người của người bị
Cụ thể là: 1/ Bổ sung trách nhiệm Cơ quan điều tra thông báo trước cho tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung bị can; 2/ Quy định quyền Tố tụng hình sự là hoạt động đặc biệt liên quan đến việc khởi
của người bào chữa hỏi người bị tạm giữ, bị can mà không cần sự đồng tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, liên quan đến việc phát hiện,
ý của Điều tra viên; 3/ Bổ sung quyền của người bào chữa có mặt và đặt xử lý hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử
câu hỏi trong khi lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng của phạt người phạm tội. Bởi vậy, hoạt động tố tụng hình sự liên quan rất
Điều tra viên. lớn tới việc bảo đảm quyền con người nói chung, người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo nói riêng.