Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần trang thiết bị nội thất ngọc dần

  • 65 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nền
kinh tế nước ta đang có nhiều thay đổi với sự kiện gia nhập WTO đã thu hút
các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, tạo ra động lực thúc đẩy sự tăng
trưởng không ngừng của nền kinh tế. Nhưng nói đến thị trường là nói đến sự
chọn lọc và đào thải khắt khe nhất là trong nền kinh tế mở như ngày nay, tồn
tại hay không đó là kết quả của sự cạnh tranh sản phẩm trên thị trường. Như
vậy một doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững phải tự chủ trong mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình từ việc đầu tư vốn, tổ chức sản xuất đến
việc tiêu thụ sản phẩm. Để cạnh tranh trên thị trường, các doanh nghiệp phải
không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã cho phù hợp
với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, không những thoả mãn nhu cầu
khách hàng trong nước mà còn đáp ứng thị hiếu của khách hàng quốc tế. Một
trong những biện pháp hữu hiệu nhất mà các doanh nghiệp có thể áp dụng để
cạnh tranh đó là biện pháp hạ giá thành sản phẩm. Do đó việc nghiên cứu tìm
tòi và tổ chức hạ giá thành sản phẩm là rất quan trọng đối với c¸c doanh
nghiệp sản xuất.
Để đạt được mục tiêu đó, các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ chi
phí sản xuất, đồng thời tìm ra các biện pháp tèt nhất để giảm chi phí không
cần thiết, tránh lãng phí.
Như vậy trong công tác quản lý doanh nghiệp, kế toán tập hợp chi phí
và tính giá thành sản phẩm là công việc luôn được các nhà quản trị doanh
nghiệp quan tâm vì nó chi phối đến chất lượng, hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời thông qua thông tin mà kế toán tập
hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm cung cấp giúp cho các nhà quản trị
§Æng c«ng sü - NQCD8112 1
đưa ra được quyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu
cầu quản tri doanh nghiệp.
Cũng như nhiều doanh nghiệp khác, Công ty cổ phần trang thiết bị nội
thất Ngọc Dần đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện để tồn tại và đứng vững trên
thị trường. Để hiểu rõ hơn nội dung và tầm quan trọng của tổ chức kế toán tập
hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm trong thực tế nên trong thời gian thực tập
tại Công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc Dần với sự hướng dẫn tận tình
của giáo viên hướng dẫn PGS.TS.NguyÔn ThÞ Lêi và sự giúp đỡ cặn cẽ của Ban
lãnh đạo Công ty và các cô chú và các anh chị phòng kế toán, phòng tổng hợp…,
em đã đi sâu nghiên cứu tìm hiểu và lựa chọn đề tài: “Tổ chức công tác kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần
trang thiết bị nội thất Ngọc Dần” với mong muốn nâng cao nhận thức và góp
phần hoàn thiện công tác kế toán của công ty.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề của em được kết cấu thành
03 chương như sau:
Chương I: Tổng quan về Công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc
Dần
Chương II: thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc Dần
Chương III: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại Công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc Dần.
Do trình độ lý luận và thời gian thực tập còn hạn chế nên trong chuyên
đề của em không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ của
các thầy cô giáo trong bộ môn và các cô chú, các anh chị phòng kế toán Công
ty Ngọc Dần và đặc biệt là cô giáo Nguyễn Thị Lời để em hoàn thành chuyên
đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên: §Æng C«ng Sü
§Æng c«ng sü - NQCD8112 2
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TRANG THIẾT BỊ
NỘI THẤT NGỌC DẦN
I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần trang thiết bị
nội thất Ngọc Dần
Công ty Cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc Dần (tên giao dịch: Ngoc
Dan Equipment interior Joint Stock Company), được thành lập ngày 30 tháng
10 năm 1995.Văn phòng giao dịch của Công ty đóng tại số 1038 – Đê Là
Thành - Ngọc Khánh – Ba Đình Hà Nội. Showroom trưng bày sản phẩm tại:
Số 12 Lô 14A Trung Hoà – Khu đô thị Trung Yên, Hà Nội. Nhà máy sản xuất
tại Ngọc Hồi – Hà Đông.
Tiền thân Công ty chỉ là một xưởng sản xuất nhỏ với máy móc sản xuất
thô sơ và đội ngũ công nhân thực sự chưa có tây nghề cao, công ty chỉ gia
công sản xuất theo đơn đặt hàng của các đơn vị khác với số lượng không lớn.
Trong quá trình hình thành và phát triển xưởng sản xuất đẫ không
ngừng đổi mới và hiện đại máy móc, thiết bị sản xuất thay thế các thiết bị cũ
và lạc hậu đồng thời mở rộng quy mô sản xuất ngày càng lớn.
Năm 1995, xưởng sản xuất này đã đổi tên thành Công ty cổ phần trang
thiết bị nội thất Ngọc Dần, được thành lập theo Quyết định số 0103020345
ngày 30 tháng 10 năm 1995 của Sở kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội với
lĩnh vực kinh doanh gồm: Sản xuất chăn, ga, gối, đồ dùng nội thất, kinh
doanh xuất uỷ thác xuất nhập khẩu trong lĩnh vực nội thất…
Trong những năm hoạt động đã qua Công ty cổ phần trang thiết bị nội
thất Ngọc Dần được đánh giá là một trong những đơn vị hoạt động mạnh
trong lĩnh vực nội thất và đặc biệt trong lĩnh vực chăn, ga, gối, đệm. Thị
trường của Công ty là các đơn vị khách sạn tầm cỡ 3 sao trở lên và các khu
§Æng c«ng sü - NQCD8112 3
chung cư cao tầng thuộc các tỉnh phía Bắc và sản phẩm được đánh giá tương
đương với sản phẩm của công ty Havinco là một Công ty hàng đầu về chất
lượng ga, gối của toàn quốc.
Sau gần 10 năm hoạt động, Công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc
Dần đã không ngừng phấn đấu và vượt qua nhiều thử thách để tạo vị thế của
mình trên thương trường. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay
nhất là từ cuối năm 2007 khi Đất nước ta ra nhập Tổ chức thương mại Quốc
Tế WTO thì các đơn vị sản xuất trong nước nói chung và đặc biệt là các đơn
vị hoạt động trong lĩnh vực nội thất - sản phẩm rất nhạy cảm với xu hướng
“mốt” của thị trường thì không thể tránh khỏi những khó khăn bởi mặt trái
của thị trường tạo ra. Nhưng với ý chí và sự sáng tạo của tập thể cán bộ công
nhân viên của công ty chắc chắn sẽ đưa công ty đi lên một cách vững vàng và
triển vọng. Điều này có thể thực hiện khi kết quả hoạt động của Công ty trong
ba năm gần đây như sau:
Năm
2005 2006 2007
Chỉ tiêu
Tổng doanh thu 25.068.980.120 28.468.591.558 30.258.598.970
Lợi nhuận 650.383.754 690.205.107 720.355.276
Nộp NSNN 732.068.850 903.307.401 1.102.507.920
Số CBCNV 820 850 855
Lương BQ 752.200 780.000 820.000
§Æng c«ng sü - NQCD8112 4
II. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần trang thiết bị
nội thất Ngọc Dần
1. Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý
Sơ đồ bộ máy của công ty như sau:
GIÁM ĐỐC
PGĐ điều PGĐ sản xuất
hành
Phân Phân
xưởng xưởng
sản cơ điện Phòng Phòng Phòng
xuất kế tài hành
hoạch chính chính
kế toán
Phân Phân
xưởng xưởng
may hoàn thành
2. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy quản lý
Công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc Dần có bộ máy tổ chức
khá hoàn chỉnh theo kiểu trực tuyến chức năng, thực hiện hạch toán độc lập,
có tư cách pháp nhân. Giám đốc là người có quyền lãnh đạo cao nhất trực tiếp
chỉ đạo mọi hoạt động của Công ty, các phòng ban tham mưu cho giám đốc
theo chức năng và nhiệm vụ của mình.
§Æng c«ng sü - NQCD8112 5
- Bà Dương Tố Oanh – chức vụ : Giám đốc – Là người đại diện pháp
nhân của công ty, là người có quyền hành cao nhất và chịu trách nhiệm về
toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Cùng trợ giúp cho Giám đốc có hai Phó giám đốc và trưởng các
phòng ban chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các lĩnh vực được phân công.
- Bà Nguyễn Thị Huệ - Phó giám đốc: Chỉ đạo kế hoạch sản xuất, đảm
bảo giao hang theo đúng hợp đồng đã ký với khách hàng và mở rộng thị
trường
- Ông Nguyễn Tùng Sơn – Phó giám đốc: Chỉ đạo các hoạt động sản
xuất, đảm bảo chỉ đạo về mặt kỹ thuật máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất.
- Phòng kế hoạch: Lập kế hoạch sản xuất cho từng phân xưởng sản
xuất, theo dõi tiến độ, định mức lao động.
- Phòng tài chính kế toán: Theo dõi tình hình tăng giảm tài sản, nguồn
vốn: giúp Giám đốc huy động vốn hoạt động cho Công ty, cung cấp cho ban
giám đốc thông tin tài chính, lập báo cáo và góp ý kiến về hoạt động sản xuất
của Công ty.
- Phòng hành chính: Lập kế hoạch tuyển dụng lao đông, quản lý lao
động, tiền lương, thưởng của cán bộ công nhân viên.
§Æng c«ng sü - NQCD8112 6
III. Đặc điểm tổ chức hệ thống sán xuất của Công ty cổ phần trang thiết bị
nội thất Ngọc Dần
1. Sơ đồ tổ chức hệ thống sán xuất
Phân xưởng sản xuất
Phân xưởng may Phân xưởng hoàn thành
Phân xưởng thêu
Đội Đội Đội Đội Đội gấp
chần là nhồi nhồi mép
Đội Đội bông gối chăn gối
I II
2. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong hệ thống sản xuất
Sản phẩm của Công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc Dần bao
gồm: Chăn, ga, gối, vỏ đệm, …
Với quy trình công nghệ khép kín từ khâu may, chần và khâu trang trí
sản phẩm.
Đặc điểm sản xuất của công ty là sản xuất vở chăn, vở gối, đệm các
loại với quy trình nhập vải nguyên liệu và gia công may thêu, chần bông hoàn
thiện sản phẩm theo tiêu chuẩn. Do đặc điểm của quá trình sản xuất giản đơn
nguyên vật liệu đầu vào là vải khổ sẵn mua nên hệ thống quy trình sản xuất
cũng đơn giản, được phân ra thành 02 phân xưởng chính đó là phân xưởng
may và phân xưởng hoàn thiện, nhưng trong phân xưởng may bao quát luôn
cả phân xưởng thêu, có hai đội thêu hoa văn trang trí. Phân xưởng hoàn thiện
được chia thành các đội nhỏ trong đó có đội chần bông, đội là, đội nhồi gối,
§Æng c«ng sü - NQCD8112 7
nhồi chăn, gấp mép gối, hoàn thiện đệm vì công ty chưa có công nghệ làm
đệm nên nhập thành phẩm đệm và hoàn thiện trang trí vở ngoài.
Ngoài ra còn có phân xưởng điện đảm bảo công tác trang thiết bị, sửa
chữa máy móc, trục trặc bất thường xảy ra…
3 . §Æc ®iÓm quy tr×nh c«ng nghÖ chÕ t¹o s¶n phÈm.
C«ng ty cã mét ph©n xëng s¶n xuÊt bao gåm 2 ph©n xëng chÝnh :ph©n xëng
may vµ ph©n xëng hoµn thµnh .Hai ph©n xëng nµy cã ®éi ngò c«ng nh©n kü
thuËt lµnh nghÒ ,cã kinh nghiÖm chuyªn m«n cao .
Quy tr×nh :
Tríc tiªn phßng kÕ to¸n nguyªn vËt liÖu cã tr¸ch nhiÖm kiÓm tra v©t
t vµ cã tr¸ch nhiÖm xuÊt ,nhËp nguyªn vËt liÖu ,c«ng cô dông cô cho ph©n x-
ëng may vµ ph©n xëng hoµn thµnh nh :v¶i c¸c mµu .chØ ,b«ng ,gim dËp vµ c¸c
vËt liÖu phô kh¸c .Do ®Æc ®iÓm cña nguyªn vËt liÖu ®Çu vµo lµ v¶i khæ sÏ ®îc
chuyÓn tíi ph©n xëng may .nhng trong ph©n xëng may bao qu¸t lu«n c¶ ph©n
xëng thªu bao gåm hai ®éi :®éi1 cã nhiÖm vô c¾t v¶i khæ ra thµnh c¸c vá ch¨n
,vá gèi cßn ®éi 2 cã nhiÖm vô thªu hoa v¨n trang trÝ lªn vá ch¨n ,vá gèi .cßn
ph©n xëng hoµn thiÖn bao gåm ®éi chÇn b«ng ,®éi lµ ,®éi nhåi gèi ,nhåi
ch¨n ,gÊp mÐp gèi .hoµn thiÖn ®Öm v× c«ng ty cha cã c«ng nghÖ lµm ®Öm nªn
nhËp thµnh phÈm ®Öm vµ hoµn thiÖn trang trÝ vá ngoµi
IV. Tổ chức công tác kế toán
1. Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Sơ đồ bộ máy kế toán như sau:
§Æng c«ng sü - NQCD8112 8
Kế toán trưởng
Kế toán Kế toán Kế toán tập Thủ quỹ
thanh toán nguyên vật hợp chi phí kiêm kế
liệu, công cụ và tính giá toán tiền
dụng cụ thành sản lương
phẩm
2. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy kế toán
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý phù
hợp với điều kiện và trình độ quản lý bộ máy kế toán được tổ chức theo hình
thức tập trung.
Phòng kế toán của Công ty hiện nay có 5 người bao gồm: 1 kế toán
trưởng, một thủ quỹ và 03 kế toán viên.
- Kế toán trưởng: Ông: Lại Hữu Bình - Chịu trách nhiệm hướng dẫn,
chỉ đạo kiểm tra các công việc do nhân viên kế toán thực hiện, chịu trách
nhiệm trước Giám đốc, cấp trên và Nhà Nước về các thông tin kế toán cung
cấp. Kế toán trưởng còn kiêm kế toán tổng hợp, tập hợp các tài liệu của các kế
toán khác để ghi sổ cái và lập báo cáo tài chính.
Thủ quỹ, kiêm kế toán tiền lương: Bà Nguyễn Thị Thành - Có trách
nhiệm quản lý tiền mặt của công ty, theo dõi tình hình thu, chi, tồn quỹ tiền
mặt, theo dõi thanh toán tiền lương và các khoản trích theo lương của cán bộ
công nhân viên trong Công ty.
- Kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, các khoản tiền gửi, tiền vay
Ngân hàng: Bà Nguyễn Thị Hồng Minh - Có trách nhiệm theo dõi tình hình
§Æng c«ng sü - NQCD8112 9
xuất, nhập, nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, tình tình thanh toán công nợ
với Ngân Hàng.
- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Bà Phạm
Thị Hương - Có nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng tính
gía thành sản phẩm, đồng thời theo dõi tình hình tăng giảm trích khấu hao,
hao mòn tài sản cố định.
- Kê toán thanh toán: Bà Trần Thị Thanh Mai - Có nhiệm vụ theo dõi
tình hình công nợ với người mua, người bán, thanh toán các khoản tạm ứng
của cán bộ công nhân viên trong công ty.
Công ty thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai
thường xuyên. Ở mỗi phân xưởng có một nhân viên ghi chép sổ sách theo
nghiệp vụ và chuyển chứng từ báo cáo về phòng kế toán để xử lý và tiến hành
các công việc kế toán.
Bộ máy kế toán của công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc Dần tổ
chức thực hiện Kế toán tài chính kết hợp với kế toán quản trị. Công ty sử
dụng hệ thống tài khoản thống nhất để ghi chép, hệ thống hoá thông tin kế
toán theo yêu cầu của kế toán tài chính và kế toán theo chức vụ và trách
nhiệm được phân công đồng thời vừa làm công việc kế toán tài chính vừa làm
công việc kế toán quản trị có liên quan.
Chøng tõ kÕ to¸n
vµ c¸c b¶ng ph©n

3. Hình thức sổ kế toán áp dụng tại Công ty
Để phù
B¶ng lượngkýcác nghiệp vụ kinhSæ,
NhËt
kª hợp với khối phátkÕsinh hiện nay
tế thÎ
chøng tõ to¸n chi tiÕt
công ty đang áp dụng hình thức “ Nhật ký chứng từ” đảm bảo sự kết hợp
chặt chẽ giữa hạch toán chi tiết và hạch toán tổng B¶ng
hợp, cung
tængcấp
hîpthông tin đầy
Sæ c¸i chi tiÕt
đủ, kịp thời cho công tác quản lý sản xuất kinh doanh.
Trình tự ghi sổ theo hình thức này được thể hiện đâỳ đủ như sau:
B¸o c¸o tµi chÝnh
§Æng c«ng sü - NQCD8112 10
Ghi chó:
Ghi hµng ngµy
Ghi cuèi th¸ng
§èi chiÕu, kiÓm tra
Tuy là một công ty phát triển nhưng về lĩnh vực kế toán Công ty vẫn áp
dụng hình thức kế toán thông thường mà chưa áp dụng phần mềm kế toán
máy và áp dụng luật kế toán áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo
Quyết định 15 của Bộ tài chính.
Công ty cũng trang bị hệ thống máy tính hiện đại phục vụ công tác
hạch toán kế toán đầy đủ phương tiện làm viêc. Phòng kế toán có 04 máy tính
nối mạng với nhau, một máy in Laser 3500 và một máy in kiêm máy Fax
Laser 3050 đã giúp cho việc tổ chức công tác kế toán của công ty được thực
hiện nhanh nhất và tiết kiệm nhất. Hiện nay đa số các sổ kế toán và báo cáo
kế toán đều được lập và in qua máy.
Toàn bộ hệ thống chúng từ và tài khoản công ty áp dụng gồm:
+ Hệ thống chứng từ:
- Hoá đơn GTGT
- Phiếu thu
- Phiếu chi
- Giấy báo Nợ, Có….
+ Hệ thống tài khoản:
§Æng c«ng sü - NQCD8112 11
Công ty cổ phần trang thiết bị nội thất Ngọc Dần áp dụng phương pháp
kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên và áp dụng
theo Quyết định 15 của Bộ tài chính do đó kế toán sử dụng các tài khoản sau:
- TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp
- TK 627: Chi phí sản xuất chung
- Các TK khác có liên quan như: TK 152, TK 153, TK 155, TK 156, TK
338, TK 334, TK 211, TK 214 ……
+ Hệ thống sổ kế toán gồm:
- Số nhật ký chứng từ
- Sổ cái các TK 621,TK 622, TK627 Sổ chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh.
- Sổ chi tiết vật tư, thẻ TSCĐ
- Các sổ khác có liên quan.
+ Hệ thống báo cáo tài chính.
- Niên độ kế toán chính thức: Từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12
năm dương lịch.
- Kỳ kế toán áp dụng là một quý.
- Hiện nay công ty đã lập đủ 04 báo cáo tài chính theo quy định hiện hành
của hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam, đó là:
+ Bảng cân đối kế toán ( B01 – DN)
+ Báo cáo kết quả kinh doanh (B02 – DN)
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B03 – DN)
+ Thuyết minh báo cáo tài chính ( B09 – DN)
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
§Æng c«ng sü - NQCD8112 12
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRANG
THIẾT BỊ NỘI THẤT NGỌC DẦN
I. Khái quát chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại Công ty
1. Khái niệm chi phí sản xuất, phân loại chi phí sản xuất, đối tượng hạch
toán chi phí sản xuất tại đơn vị
1.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Quá trình sản xuất sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
chính là quá trình doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí họ sản xuất. Hoạt động sản
xuất ở doanh nghiệp chỉ được tiến hành khi doanh nghiệp có đầy đủ 3 yếu tố:
Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Chi phí sản xuất sẽ phát
sinh khi doanh nghiệp sử dụng các loại yếu tố trên. Đó là các chi phí nguyên
vật liệu, chi phí khấu hao TSCĐ (hao phí bằng tiền lao động vật hoá), chi phí
nhân công (hao phí bằng tiền của lao dộng sống), chi phí dịch vụ mua ngoài,
chi phí khác bằng tiền. Để xác định và tổng hợp được các chi phí mà doanh
nghiệp đã chi ra trong thời kỳ hoạt động thì mọi chi phí chi ra đều phải biểu
hiện bằng thước đo tiền tệ. Trong quá trình sản xuất doanh nghiệp còn phải bỏ
ra nhiều chi phí như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Nhưng
chỉ những chi phí nào phục vụ trực tiếp cho quá trình sản suất của doanh
nghiệp mới được coi là chi phí sản xuất. Vậy chi phí sản xuất là: Toàn bộ hao
phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà
doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất
định được biểu hiện bằng tiền.
Trong doanh nghiệp sản xuất cần phân biệt giữa chi phí và chi tiêu:
Chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp sản xuất bao gồm chi tiêu cho các
quá trình mua hàng, quá trình sản xuất kinh doanh. Chi tiêu cho quá trình mua
§Æng c«ng sü - NQCD8112 13
hàng làm tăng tài sản, còn chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh làm cho
các khản tiêu dùng cho quá trình kinh doanh tăng lên.
Chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ phần tài sản hao
mòn hoặc tiêu dung hết cho quá trình sản xuất tính nhập, (phân bổ) vào chi
phí trong kỳ. Ngoài ra, khoản chi phí phải trả (chi phí trích trước) không phải
là chi tiêu trong kỳ nhưng được tính vào chi phí trong kỳ.
Sự phân biệt giữa chi phí và chi tiêu có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc tìm hiểu bản chất cũng như nội dung, phạm vi và phương pháp hạch toán
chi phí sản xuất. Như vậy, thực chất chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó
là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh.
1.2 Phân loại chi phí sản xuất.
Ở tầm quản lý chung người ta thường quan tâm đến việc doanh nghiệp
chi ra trong kỳ gồm nững loại chi phí nào và với lượng bao nhiêu. Và chi phí
sản xuất thường bao gồm nhiều khoản chi có nội dung chi, cộng dụng, mục
đích sử dụng không giống nhau. Vì vậy, để phục vụ công tác quản lý nói
chung và kế toán nói riêng, cần phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức thích
hợp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính chất kinh tế.
Theo cách này thì chi phí sản xuất bao gồm 05 yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Yếu tố này bao gồm giá mua, chi phí
mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
như: Chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên
liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phí nguyên vật liệu khác.
- Chi phí nhân công: Là các khoản chi phí về tiền lương phải trả cho
người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn theo tiền lương của người lao động.
§Æng c«ng sü - NQCD8112 14
- Chi phí khấu hao máy móc thiết bị: Gồm khấu hao của tất cả TSCĐ
dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua
ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
Trong doanh nghiệp, phân loại chi phí sản xuất theo nội dung và tính
chất kinh tế là căn cứ lập và chấp hành dự toán chi phí sản xuất theo từng yếu
tố. Cách phân loại này cho biết kết cấu và tỷ trọng của từng loại chi phí mà
doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất để lập bảng thuyết minh báo
cáo tài chính (phần chi phí sản xuất theo yếu tố).
* Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí:
Theo cách này thì chi phí được chia thành 03 khoản mục.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu
được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch
vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương và các khoản phải trả
trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công
nhân sản xuất như: Kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến
việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất.
Phân loại chi phí theo mục đích, công dụng của chi phí là cơ sở để kế
toán lập giá thành, tổ chức tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là để tổ
chức hạch toán chi phí theo các địa điểm phát sinh chi phí nhằm thực hiện và
tăng cường hạch toán kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp, là căn cứ để tổ chức
và phân tích gía thành sản phẩm theo khoản mục.
Ngoài ra để phục vụ quản lý cho kế toán quản trị người ta còn sử dụng
một số cách phân loại chi phí khác.
§Æng c«ng sü - NQCD8112 15
* Phân loại chi phí trong mối quan hệ với hoạt động.
Khối lượng (mức độ hoạt động) có thể là số lượng sản phẩm hoàn
thành, số giờ máy hoạt động. Theo cách này chi phí được chia thành 03 loại:
- Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số khi
có thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp. Mức độ hoạt động của
doanh nghiệp có thể là số lượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu
thụ, số giờ máy (hoạt động), doanh thu bán hàng thực hiện.
- Chi phí bất biến (định phí): Là những chi phí mà về tổng số không
thay đổi khi có sự thay đổi vê mức độ hoạt động của đơn vị
- Chi phí hỗn hợp: Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả các yếu
tố của định phí và biến phí.
Trong doanh nghiệp, cách phân loại chi phí này có ý nghĩa quan trọng
trong việc thiết kế xây dựng các mô hình chi phí trong mối quan hệ chi phí -
sản lượng - lợi nhuận, xác định điểm hoà vốn và trong việc ra các quyết định
quản lý. Ngoài ra, việc phân biệt định phí, biến phí còn có ý nghĩa đặc biệt
trong quản trị vì nó giúp nhà quản trị xác định đúng đắn phương hướng để
nâng cao hiệu quả của chi phí.
* Phân loại chi phí trong mối quan hệ của chi phí với các khoản mục
trên Báo cáo tài chính.
Theo cách này chi phí sản xuất được chia thành 02 loại:
- Chi phí sản phẩm: Là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản
xuất sản phẩm hay quá trình mua hàng hoá để bán. Đối với doanh nghiệp sản
xuất chi phí sản phẩm bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp,chi phí sản xuất chung.
- Chi phí thời kỳ: Là các chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳ,
không tạo nên giá trị hàng tồn kho, tài sản nên chúng không được ghi nhận
trên bảng cân đối kế toán mà được tham gia xác định kết quả kinh doanh ngay
§Æng c«ng sü - NQCD8112 16
trong kỳ chúng phát sinh, có ảnh hưởng trực tiếp đối với lợi nhuận trong kỳ
mà chúng phát sinh.
* Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ và khả năng
quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí.
Theo cách này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 02 loại:
- Chi phí trực tiếp.
- Chi phí gián tiếp.
Cách phân loại này có ý nghĩa thuần tuý trong kỹ thuật hạch toán. Các
nhà quản trị nếu muốn có các thông tin chân thực về chi phí và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh thì phải hiểu rõ nội dung của từng loại chi phí để
chọn lựa phương pháp quy nạp cho phù hợp.
Ngoài ra, nếu căn cứ vào thẩm quyền ra quyết định, có thể chia chi phí
thành chi phí có thể kiểm soát được và chi phí không thể kiểm soát đựơc: nếu
căn cứ vào chi phí được sử dụng trong lựa chọn các phương án thì chi phí
được chia thành chi phí cơ hội, chi phí chênh lệch và chi phí chìm. Tuỳ theo
yêu cầu quản trị còn có thể có nhiều cách phân loại chi phí khác.
1.3. Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi
phí sản xuất phát sinh.
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải cân nhắc các nhân tố
sau:
- Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất.
- Đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
- Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm
- Đặc điểm của sản phẩm: đặc tính kỹ thuật, đặc điểm sử dụng, đặc
điểm thương phẩm.
- Yêu cầu kiểm soát chi phí, yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ trong
doanh nghiệp.
§Æng c«ng sü - NQCD8112 17
- Yêu cầu tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành.
- Khả năng, trình độ quản lý nói chung và hạch toán nói riêng.
Thông thường đối với doanh nghiệp sản xuất tổ chức thành phân xưởng
có quy trình công nghệ khép kín thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ
quy trình công nghệ. Còn đối với doanh nghiệp tổ chức sản xuất theo phân
xưởng, mỗi phân xưởng chỉ đảm nhận một giai đoạn công nghệ hoặc toàn bộ
quy trình công nghệ thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng phân xưởng.
Đối với doanh nghiệp tổ chức sản xuất phân xưởng nhưng mỗi phân xưởng sản
xuất chỉ sản xuất một loại sản phẩm riêng biệt, độc lập thì đối tượng tập hợp chi
phí là từng phân xưởng từng sản phẩm trong phân xưởng đó.
2. Khái niệm giá thành sản phẩm, phân loại giá thành sản phẩm, đối
tượng tính giá thành sản phẩm tại đơn vị
2.1. Khái niệm giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm (công việc, lao vụ) là chi phí sản xuất tính cho một
khối lượng một đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp sản xuất
đã hoàn thành.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mật thiết với
nhau nhưng phạm vi và nội dung vủa chúng có những điểm khác nhau:
- Chỉ tính những chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ nhất định
(tháng, quý, năm) không tính đến chi phí đó có liên quan đến số sản phẩm đã
hoàn thành hay chưa. Trong khi đó, giá thành sản phẩm là giới hạn số chi phí
sản xuất liên quan đến khối lượng sản phẩm, dịch vụ hoàn thành (thành
phẩm).
- Chi phí sản xuất tính trong một kỳ còn gi thành sản phẩm liên quan
đến chi phí sản xuất của kỳ trước chuyển sang, chi phí phát sinh kỳ này và số
kỳ này chuyển sang kỳ sau.
§Æng c«ng sü - NQCD8112 18
- Chi phí sản xuất không gắn liền với khối lượng, chủng loại sản phẩm
hoàn thành, nhưng giá thành sản phẩm lại liên quan đến khối lượng, chủng
loại hoàn thành.
Tuy vậy chi phí sản xuất là cơ sở duy nhất để tính giá thành sản phẩm.
2.2 Phân loại giá thành sản phẩm.
* Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá
thành.
Theo cách phân loại này giá thành sản phẩm được chia thành 03 loại:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ
sở chi phí sản xuất kế hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch. Giá
thành kế hoạch bao giờ cũng được tính toán trước khi bắt đầu quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ. Giá thành kế hoạch là
mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp và việc tiết kiệm hợp lý chi phí sản xuất
để hạ giá thành sản phẩm sản xuất là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình
thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp.
- Giá thành định mức: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ
sở xác định định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm. Giá
thành định mức được tính trước khi bắt đầu quá trình sản xuất chế tạo sản
phẩm.
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ
sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh do kế toán tổng hợp và số
lượng sản phẩm được sản xuất thực tế trong kỳ. Giá thành sản xuất thực tế
được tính sau quá trình sản xuất, có sản phẩm hoàn thành tương ứng với kỳ
tính giá thành mà doanh nghiệp đã xác định.
Ba loại giá thành này có những điểm khác nhau cơ bản là:
- Chi phí sản xuất kế hoạch, giá thành định mức được tính trên cơ sở
xác định mức chi phí hiện hành thì giá thành thực tế được tính căn cứ vào số
liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ và sản
§Æng c«ng sü - NQCD8112 19
lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ. Thời điểm tính giá thành trong
khi giá thành kế hoạch và giá thành định mức đều được tính trước khi bắt đầu
quá trình sản xuất thì giá thành thực tế lại chỉ có thể tính sau khi kết thúc quá
trình sản xuất.
- Chỉ tiêu tính: Cả giá thành thực tế và giá thành kế hoạch đều được
tính cho hai chỉ tiêu là tổng giá thành và giá thành đơn vị trong khi giá thành
định mức chỉ tính cho giá thành đơn vị.
- Vai trò: Trong khi giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh
nghiệp và giá thành định mức là công cụ đánh gía đúng đắn các giải pháp
kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện thì giá thành thực tế phản ánh
kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong viẹc tổ chức và sử dụng các giải
pháp kinh tế kỹ thuật đó. Việc so sánh giữa giá thành thực tế và giá thành kế
hoạch là căn cứ để phân tích, đánh giá thực hiện kế hoạch hạ giá thành của
doanh nghiêp. Đặc biệt giá thành định mức được sử dụng rộng rãi trong kế
toán quản trị để so sánh với giá thành thực tế để tìm ra những chênh lệch
(nguyên nhân, bản chất của chênh lệch) từ đó ra những quyết định phù hợp.
Giá thành định mức được sử dụng cho mục đích kiểm soát hợp lý.
* Phân loại giá thành theo phạm vi tiêu thức chi phí:
Theo cách này giá thành gồm 04 loại:
- Giá thành sản xuất toàn bộ: Là loại giá thành mà trong đó bao gồm
biến phí và định phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp,chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm hoàn thành.
- Giá thành sản xuất theo biến phí: Là loại giá thành mà trong đó chỉ
bao gồm biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm hoàn thành.
- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý chi phí cố định: Là loại giá
thành trong đó bao gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm hoàn
§Æng c«ng sü - NQCD8112 20