Tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn láng hạ thực trạng và giải pháp

  • 66 trang
  • file .doc
LỜI NÓI ĐẦU
Với sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO là mốc
son đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam. Tạp chí Asia Monitor số 17
tập 11 tháng 11 năm 2006 đã dự đoán Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc
độ khoảng 8% trong những năm tới, và có đủ khả năng để cất cánh bay lên và
đạt được tốc độ tăng trưởng ngoạn mục 10% như của Trung Quốc. Sau 20 năm
đổi mới Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn, tạo những tiền đề cơ bản để
chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn - giai đoạn cất cánh. Trong điều kiện
đó, khu vực kinh tế tư nhân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ được đặc biệt tạo
điều kiện để có những bước phát triển mạnh mẽ hơn; thu nhập và tích lũy của
các doanh nghiệp, của các tầng lớp dân cư sẽ gia tăng, sự hiểu biết được nâng
cao nên nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại cũng sẽ bùng nổ. Trong
năm 2007, chắc chắn là năm đầu tiên Việt Nam thoát ra khỏi danh sách các nước
nghèo trên Thế giới theo chuẩn quốc tế (thu nhập trên đầu người trên 2 USD
mỗi ngày, với mức thu nhập bình quân đầu người trên 750 USD/năm). Việt Nam
được các đánh giá là quốc gia có mức độ nhu cầu tiêu dùng tăng nhanh thứ 3 thế
giới.
Cũng từ khi đổi mới đến nay, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát
triển đáng kể trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động đầu tư, xây dựng,
thương mại…, phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho tăng việc làm, tăng thu
nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Trên thực tế, để
thúc đẩy xã hội phát triển thì nhu cầu của người dân cần được khẳng định, đó là
kênh gián tiếp góp phần tạo một xã hội với nền kinh tế phát triển. Nhưng phần
lớn người tiêu dùng không thể chi trả cho tất cả nhu cầu mua sắm cùng lúc, đặc
biệt là những tài sản có giá trị lớn. Thực tế này phát sinh nhu cầu “vay tiêu
dùng” và các ngân hàng thương mại chính là nơi cung cấp dịch vụ đó. “Cho vay
tiêu dùng” ra đời tạo điều kiện giúp người dân có thể thoả mãn nhu cầu của
mình trước khi có khả năng thanh toán, mang lại nhiều lợi ích cho xã hội như
1
góp phần tăng sức mua, tăng tốc độ lưu chuyển hàng hoá trên thị trường,…đồng
thời tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng.
Trong khi hoạt động cho vay đã và đang ngày một phát triển rộng khắp,
thì hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng là chưa phát triển mạnh. Vì vậy cần
phải mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, trở thành cầu nối hiệu quả cho nhu
cầu nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho người dân.
Năm 1996, sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới do đại hội VI của
Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng, hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt
Nam qua gần 9 năm hoạt động đã từng bước trưởng thành và có những kết quả
đáng khích lệ. Sau đó đã đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn Viêt Nam. Trong bối cảnh của cơ chế thị trường với nhiệm vụ mới
nặng nề hơn, tại khu vực đô thị Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Láng Hạ đã ra đời cùng chung sức với toàn hệ thống phục vụ cho sự
nghiệp phát triển chung của đất nước.
Từ thực tế, đi sâu vào nghiên cứu công tác cho vay tiêu dùng tại chi nhánh
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Láng Hạ em đã chọn đề tài:
“Tín dụng tiêu dùng tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Láng Hạ - Thực trạng và giải pháp” để làm chuyên đề tốt nghiệp
cho mình.
Nội dung chuyên đề ngoài lời Mở đầu và Kết luận được trình bày thành
ba chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng tiêu dùng.
Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Láng Hạ.
Chương III: Giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng tiêu
dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Láng Hạ.
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, kiến thức và kinh nghiệm thực tế nên
đề tài của em không tránh khỏi những sai sót em mong nhận được sự chỉ bảo,
đóng góp của các thầy cô và các anh chị để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
2
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
1. Tín dụng tiêu dùng đặc điểm và vai trò của nó
1.1. Khái niệm tín dụng tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng là các khoản cho vay của Ngân hàng nhằm mục đích
tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và các hộ gia
đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng trang trải các
nhu cầu trong cuộc sống như nhu cầu về nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, phương tiện
đi lại... Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch... cũng
có thể được tài trợ bởi tín dụng tiêu dùng. Việc cấp tín dụng đã giúp cá nhân, hộ
gia đình được thụ hưởng trước khi họ có đủ nguồn tài chính để trang trải. Điều
này khác với tín dụng thương mại ở chỗ tín dụng thương mại tài trợ cho các nhu
cầu về vốn lưu động trong các mục đích kinh doanh của các tổ chức kinh tế, cá
nhân trong xã hội.
1.2. Đặc điểm của tín dụng tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng có những đặc điểm sau:
Một là: Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình. Điều này làm cho
quy mô của từng khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay để mua bất động
sản), dẫn đến chi phí của Ngân hàng khi tổ chức cho vay cao, vì vậy lãi suất tín
dụng cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất của các loại tín dụng
trong lĩnh vực thương mại hay công nghiệp.
Hai là: Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và các
hộ gia đình, không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Do đó các khoản vay
hoàn toàn phụ thuộc vào nhu cầu và tính cách của từng đối tượng khách hàng và
chu kỳ kinh tế của khách hàng.
Ba là: Khách hàng vay với mục đích tiêu dùng thường kém nhạy cảm với
lãi suất mà họ thường quan tâm tới tổng số tiền phải thanh toán.
Bốn là: Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng vay thường
không cao.
3
Năm là: Nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng được trích từ nguồn thu
nhập mà không nhất thiết phải là từ kết quả của việc sử dụng những khoản vay.
Do đó, nguồn trả nợ của người đi vay có thể có những biến động lớn, nó phụ
thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của
khách hàng.
Sáu là: Cấp tín dụng tiêu dùng thường không có tài sản đảm bảo, chỉ căn
cứ vào thu nhập ổn định của người vay. Do vậy, Ngân hàng phải quan tâm tới
mức thu nhập, trình độ học vấn và công việc của người vay làm những tiêu chí
quan trọng khi quyết định cấp tín dụng.
Bảy là: Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định, song lại đặc biệt
quan trọng, quyết định sự hoàn trả các khoản vay.
Tám là: Công nghệ cho vay và công tác thu hồi nợ trong hoạt động tín
dụng tiêu dùng có nhiều điểm khác so với tín dụng thương mại.
1.3. Vai trò của tín dụng tiêu dùng
Đối với nền kinh tế - xã hội:
Có thể khái quát vai trò của tín dụng tiêu dùng đối với tăng trưởng kinh tế
qua các tác động chủ yếu sau đây:
i. Cho vay tiêu dùng là đòn bẩy quan trọng kích thích nền sản xuất phát
triển (kích cầu), tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
ii. Cho vay tiêu dùng góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo
iii. Do đặc thù của cho vay tiêu dùng là thủ tục tương đối đơn giản, nhanh
gọn nên góp phần quan trọng đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi từ đó giải quyết tốt
các mối quan hệ khác trong xã hội.
Đối với người tiêu dùng:
Nhờ có Tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng mà họ được hưởng các tiện ích
trước khi tích lũy đủ nguồn tài chính, điều quan trọng hơn nó đặc biệt cần thiết
trong trường hợp cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu chi tiêu mang tính cấp bách,
như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế. Tuy vậy, nếu lạm dụng việc đi vay để
phục vụ mục đích tiêu dùng thì cũng rất bất lợi vì nó có thể làm cho người đi
vay chi tiêu vượt quá mức cho phép, làm giảm khả năng tiết kiệm hoặc chi tiêu
4
trong tương lai, còn rất nghiêm trọng hơn nếu mất khả năng chi trả thì người này
có thể gặp rất nhiều phiền toái trong cuộc sống.
Đối với các NHTM:
Ngoài hai nhược điểm chính là rủi ro và chi phí cao, tín dụng tiêu dùng có
những lợi ích quan trọng như: thứ nhất, giúp mở rộng quan hệ với khách hàng
hiện tại cũng như tiềm năng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi
cho Ngân hàng; thứ hai, tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhờ
vậy có thể nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho Ngân hàng.
1.4. Phân loại tín dụng tiêu dùng
Phân loại tín dụng tiêu dùng là việc sắp xếp các khoản tín dụng theo từng
nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa
học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả
quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại tín dụng tiêu dùng dựa vào các căn cứ sau đây:
Căn cứ vào mục đích cấp tín dụng:
Người ta có thể chia tín dụng tiêu dùng làm hai loại:
a/ Tín dụng tiêu dùng cư trú (Residential Mortage Loan):
Tín dụng tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu
mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia
đình.
b/ Tín dụng tiêu dùng phi cư trú (Nonresidential Mortage Loan):
Tín dụng tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang
trải các chi phí mua sắm phương tiện, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải
trí, chữa bệnh và du lịch...
Căn cứ vào phương thức hoàn trả:
Có thể chia tín dụng tiêu dùng làm ba loại:
a/ Tín dụng tiêu dùng trả góp (Installment Consumer Loan):
Đây là hình thức tín dụng tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm số
tiền gốc và lãi) cho Ngân hàng làm nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong
thời hạn được cấp tín dụng. Phương thức này thường được áp dụng cho các
5
khoản cấp tín dụng có giá trị lớn hoặc thu nhập định kỳ của người đi vay không
đủ khả năng thanh toán một lần số tín dụng được cấp.
Đối với loại tín dụng tiêu dùng này, các NHTM thường chú ý tới những
vấn đề cơ bản có tính nguyên tắc sau:
- Loại tài sản được tài trợ: Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn
nếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài
trong tương lai. Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, Ngân hàng thường chú ý đến
điều kiện này, nên thường chỉ muốn tài trợ nhu cầu mua sắm những tài sản có
thời hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn. Vì với những loại tài sản như vậy,
người tiêu dùng sẽ được hưởng những tiện ích từ chúng trong một thời gian dài.
- Số tiền phải trả trước: Thông thường, Ngân hàng yêu cầu người đi vay
phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản cần mua sắm, số tiền này được gọi
là số tiền trả trước, phần còn lại, Ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước cần
phải đủ lớn để một mặt, làm cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu
của tài sản, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Một khi không
cảm nhận được mình là chủ sở hữu của tài sản hình thành từ tiền vay thì người
đi vay có thể sẽ có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ. Hầu hết các tài sản đã
qua sử dụng đều bị giảm giá trị, tức là giá trị thị trường nhỏ hơn giá trị hạch toán
của tài sản, cho nên số tiền trả trước có một vai trò rất quan trọng giúp Ngân
hàng hạn chế rủi ro. Số tiền trả trước nhiều hay ít thường tuỳ thuộc vào các yếu
tố sau:
(i) Loại tài sản: Đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền
trả trước nhiều và ngược lại.
(ii) Thị trường tiêu thụ tài sản khi đã sử dụng: tài sản khi đã sử dụng nếu
vẫn có thể được tiếp tục mua, bán dễ dàng thì số tiền trả trước có xu hướng thấp
và ngược lại.
(iii) Môi trường kinh tế, đó là tình hình lạm phát và các cơ chế chính sách
kinh tế của nhà nước trong từng thời kỳ.
(iv) Năng lực tài chính của người đi vay.
6
- Chi phí tài trợ: Là chi phí mà người đi vay phải trả cho Ngân hàng trong
việc sử dụng vốn. Bao gồm, lãi vay và các chi phí khác có liên quan. Chi phí tài
trợ phải trang trải được chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng thời
mang lại một phần lợi nhuận thoả đáng cho Ngân hàng.
- Điều kiện thanh toán: Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc
thanh toán nợ của khách hàng, Ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
(i) Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải thu nợ phù hợp với khả năng về
thu nhập của người vay, trong mối quan hệ hài hòa với các nhu cầu chi tiêu
khác của khách hàng;
(ii) Giá trị của tài sản tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa
được thu hồi;
(iii) Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng, kỳ hạn
trả nợ thường theo tháng, thông thường nguồn trả nợ chính của người được cấp
tín dụng tiêu dùng là từ thu nhập của người vay.
(iv) Thời hạn tài trợ không nên quá dài. Thời hạn tài trợ bị giới hạn bởi
thời hạn hoạt động của tài sản tài trợ. Thời hạn tài trợ quá ngắn dễ làm giá trị
tài sản tài trợ bị giảm mạnh. Hơn nữa, khi thời hạn tài trợ quá dài thì thiện chí
trả nợ của người được cấp tín dụng cũng như việc thu hồi nợ thường khó khăn.
Số tiền khách hàng phải thanh toán cho Ngân hàng mỗi định kỳ có thể
được tính bằng các phương pháp sau:
+ Phương pháp gộp (Add-on Method):
Đây là phương pháp được áp dụng trong tín dụng tiêu dùng trả góp, do
tính chất đơn giản và dễ hiểu của nó. Theo phương pháp này, trước hết lãi được
tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp
vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh
toán ở mỗi định kỳ. Công thức tính toán như sau:
T = (V + L) / n
Trong đó: T là số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng mỗi kỳ hạn
V: là vốn gốc
7
L: là chi phí tài trợ bao gồm lãi vay phải thanh toán và các chi
phí khác có liên quan
n: là số kỳ hạn
Theo phương pháp gộp, lãi được tính trên cơ sở vốn gốc ban đầu cho toàn
bộ thời hạn vay. Vào mỗi định kỳ, người được cấp tín dụng phải thanh toán một
phần vốn gốc, do đó vốn gốc ban đầu sẽ được giảm dần trong quá trình vay.
Cách tính như vậy, lãi suất được dùng để tính lãi không phải là lãi suất thực sự
được áp dụng đối với người được cấp tín dụng. Để bảo vệ quyền lợi của người
vay, khi tính toán theo phương pháp này, pháp luật các nước thường yêu cầu
Ngân hàng phải quy đổi từ lãi suất tính toán sang lãi suất hiệu dụng và niêm yết
để người được cấp tín dụng nắm được và cân nhắc chi phí vay mượn mà mình sẽ
phải trả cho Ngân hàng, từ đó có quyết định lựa chọn hợp lý.
Công thức để quy đổi ra lãi suất hiệu dụng như sau:
i = 2mL/V(n+1)
Trong đó: i: là lãi suất hiệu dụng
m: là số kỳ hạn thanh toán trong một năm
Nhìn chung tâm lý của người được cấp tín dụng trả góp thường rất thích
được tài trợ với thời hạn dài để giảm gánh nặng về số tiền thanh toán mỗi kỳ
hạn. Tuy nhiên, theo công thức trên cho thấy khi n càng lớn thì lãi suất hiệu
dụng càng có giá trị cao hơn. Điều đó có nghĩa là, người được cấp tín dụng phải
trả cho Ngân hàng lãi suất cao hơn nếu họ muốn được tài trợ với thời hạn dài
hơn.
+ Phương pháp lãi đơn (Simple Interest Method):
Theo phương pháp này, vốn gốc người được cấp tín dụng phải trả theo
định kỳ được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kỳ hạn
thanh toán, lãi phải trả mỗi định kỳ được tính trên số tiền khách hàng thực sự
còn thiếu Ngân hàng.
+ Phương pháp giá hiện hành (Present Value Method):
Theo phương pháp này, số tiền phải trả hàng định kỳ trong tương lai đều
được quy về giá trị hiện tại. Thông thường, người được cấp tín dụng có quyền
8
thanh toán tiền vay trước hạn mà không bị phạt. Nếu tiền trả góp được tính theo
phương pháp lãi đơn và phương pháp giá hiện hành thì vấn đề rất đơn giản,
người được cấp tín dụng phải thanh toán toàn bộ vốn gốc còn thiếu và lãi vay
của kỳ hạn hiện tại (nếu có) cho Ngân hàng.
- Vấn đề phân bổ lãi cho vay theo thời gian. Khi sử dụng phương pháp
gộp để tính lãi, các ngân hàng thường tiến hành phân bổ lại phần lãi cho vay đã
dự tính. Việc phân bổ có thể thực hiện theo định kỳ gắn liền với các kỳ thanh
toán hoặc cũng có thể thực hiện theo quý hay theo năm tài chính. Tuy nhiên việc
phân bổ lãi theo năm tài chính được các ngân hàng sử dụng nhiều hơn. Các
phương pháp được sử dụng là:
i. Phương pháp đường thẳng.(Straight-line Method) hay còn được gọi là
phương pháp tỷ lệ cố định(Pro Rate Method). Theo phương pháp này, phần
lãi cho vay được phân bổ ở mỗi kỳ tương ứng với tỷ trọng số tháng tính lãi
trong kỳ đó so với toàn bộ số tháng tính lãi của thời hạn vay.
ii. Phương pháp tỷ suất lợi tức hiệu dụng(Effective Yeild Method): hay còn
được gọi là quy tắc 78. Xuất phát từ kết quả của phép cộng của dãy số từ 1
tới 12, tượng trưng cho 12 kỳ trả góp của một khoản cho vay
(1+2+3+4+5+6+7+8+9+10+11+12=78). Dù vậy, quy tắc này cũng có thể
áp dụng đối với các khoản cho vay trả góp có số kỳ trả nợ khác 12.
iii. Phương pháp lãi (Interest method). Theo phương pháp này thì lãi suất được
quy đổi ra thành lãi suất hiệu dụng, sau đó, lãi suất hiệu dụng này được áp
dụng phương pháp hiện giá để tính phần lãi phân bổ cho kỳ đó.
- Vấn đề trả nợ trước hạn. Thông thương người đi vay có quyền trả nợ
trước hạn mà không bị phạt. Nếu tiền trả góp được tính theo phương pháp lãi
đơn hoặc phương pháp hiện giá thì vấn đề đơn giản hơn, người vay chỉ phải
thanh toán nốt số tiền gốc còn thiếu và tiền lãi kỳ hạn hiện tại. Nếu tiền trả góp
được tính bằng phương pháp gộp thì vấn đề có phần phức tạp hơn. Trong trường
hợp này, Ngân hàng thường áp dụng các phương pháp giống như các phương
pháp phân bổ lãi cho vay nói trên để tính ra số lãi thực sự phải thu, dựa trên thời
9
hạn nợ thực tế. Phương pháp được áp dụng phổ biến nhất là phương pháp quy
tắc 78.
b/ Tín dụng phi trả góp (Noninstallment Consumer Loan):
Theo phương pháp này số tiền cấp tín dụng được khách hàng thanh toán
cho Ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản tín dụng tiêu
dùng phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn
không dài.
c/ Tín dụng tuần hoàn (Revolving Consumer Credit):
+ Là các khoản tín dụng tiêu dùng trong đó Ngân hàng cho phép khách
hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên
tài khoản vãng lai. Theo phương pháp này, thời hạn tín dụng được thỏa thuận
trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ của khách
hàng sẽ được Ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một
cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
Lãi phải trả mỗi kỳ có thể tính dựa trên một trong ba cách sau:
+ Lãi được tính dựa trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương pháp
này số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khi
khách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng.
+ Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh: Theo
phương pháp này số dư nợ dùng để tính lãi là số dư nợ cuối mỗi kỳ có trước khi
khoản nợ được thanh toán.
+ Lãi được tính dựa trên cơ sở dư nợ bình quân.
Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ:
Chia tín dụng tiêu dùng thành 2 loại.
a/ Tín dụng tiêu dùng gián tiếp (Indirect Consumer Loan): Tín dụng tiêu
dùng gián tiếp là hình thức tín dụng trong đó Ngân hàng mua các khoản nợ phát
sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng.
10
SƠ ĐỒ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG GIÁN TIẾP
(1)
Ngân hàng (4) Doanh nghiệp bán lẻ
(5)
(6) (2) (3)
Người tiêu dùng
(1) Ngân hàng và Doanh nghiệp bán lẻ ký hợp đồng mua bán nợ. Trong
hợp đồng Ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng
được bán chịu, số tiền bán chịu tối đa và loại tài sản được bán chịu. Thực tế đây
là bước để Doanh nghiệp bán lẻ và Ngân hàng thoả thuận trước các điều kiện
với khách hàng.
(2) Doanh nghiệp bán lẻ và người tiêu dùng ký hợp đồng mua bán chịu
hàng hoá. Thông thường người tiêu dùng phái trả trước một phần giá trị tài sản.
(3) Doanh nghiệp bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4) Doanh nghiệp bán lẻ bán bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho Ngân
hàng. Lúc này hoạt động mua bán nợ thực sự diễn ra.
(5) Ngân hàng thanh toán tiền cho Doanh nghiệp bán lẻ.
(6) Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho Ngân hàng.
Tín dụng tiêu dùng gián tiếp có một số ưu điểm sau:
- Cho phép Ngân hàng dễ dàng tăng doanh số cấp tín dụng.
- Ngân hàng tiết kiệm giảm được chi phí khi cấp tín dụng.
- Đây là nguồn gốc của việc mở rộng mối quan hệ với khách hàng và các
hoạt động khác của Ngân hàng.
- Trong trường hợp giữa Ngân hàng và doanh nghiệp bán lẻ có mối quan
hệ tốt, việc cấp tín dụng tiêu dùng gián tiếp sẽ an toàn hơn so với việc cấp tín
dụng tiêu dùng trực tiếp.
Tuy nhiên, tín dụng tiêu dùng gián tiếp có những nhược điểm sau:
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán
chịu hàng hoá, dịch vụ....
11
- Việc cấp tín dụng tiêu dùng gián tiếp, thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng
khi doanh nghiệp bán lẻ thực hiện bán chịu hàng hóa, dịch vụ....
- Kỹ thuật nghiệp vụ về tín dụng tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
Do những nhược điểm kể trên, nên nhiều Ngân hàng không chú trọng tới
hình thức cấp tín dụng tiêu dùng gián tiếp. Những Ngân hàng nào tham gia vào
hoạt động này thì đều có các cơ chế kiểm soát tín dụng rất chặt chẽ.
b/ Tín dụng tiêu dùng trực tiếp (Direct Consumer Loan):
Là các khoản tín dụng tiêu dùng mà Ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cấp
tín dụng cho khách hàng cũng như trực tiếp thu nợ từ người được cấp tín dụng.
SƠ ĐỒ TÍN DỤNG TIÊU DÙNG TRỰC TIẾP
(3)
Ngân hàng Doanh nghiệp bán lẻ
(1) (5) (2) (4)
Người tiêu dùng
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng tín dụng.
(2) Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua hàng hoá cho Doanh
nghiệp bán lẻ.
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho Doanh nghiệp bán lẻ.
(4) Doanh nghiệp bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5) Người tiêu dùng thanh toán nợ vay cho Ngân hàng.
Khi cấp tín dụng tiêu dùng trực tiếp Ngân hàng có thể tận dụng được năng
lực sở trường của nhân viên tín dụng. Những người này thường được đào tạo
chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng nên các quyết định
tín dụng của Ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng
được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty
bán lẻ. Ngoài ra, trong hoạt động của mình nhân viên tín dụng Ngân hàng có xu
12
hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản tín dụng có chất lượng tốt, trong khi
nhân viên của công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc bán cho khách hàng
được nhiều hàng hoá, dịch vụ. Bên cạnh đó, tại các điểm bán hàng, các quyết
định tín dụng thường được cấp ra một cách không chính đáng. Hơn nữa, trong
một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín
dụng đối với khách hàng tốt của mình. Nếu người cấp tín dụng là Ngân hàng,
điều này có thể được hạn chế.
Tín dụng tiêu dùng trực tiếp có ưu điểm là linh hoạt hơn so với hình thức
tín dụng tiêu dùng gián tiếp. Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp quan hệ với
Ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thỏa mãn
quyền lợi cho cả hai phía giữa khách hàng và Ngân hàng.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng tiêu dùng
2.1. Từ phía ngân hàng
2.1.1. Chính sách tín dụng của Ngân hàng
Một chính sách tín dụng rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợi cho
việc cấp tín dụng của Ngân hàng cũng như khách hàng khi giao dịch. Hướng dẫn
cho đội ngũ cán bộ tín dụng các thủ tục, các bước phải thực hiện và chỉ rõ phạm
vi, trách nhiệm của họ. Hướng tới một danh mục đầu tư tín dụng có hiệu quả,
đạt được nhiều mục tiêu, như tăng khả năng sinh lời, hạn chế các rủi ro, đáp ứng
yêu cầu đòi hỏi trong công tác quản lý.
Chính sách tín dụng rõ ràng sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhà
quản lý Ngân hàng trong đường lối chỉ đạo cụ thể khi quyết định cấp tín dụng và
xây dựng danh mục đầu tư. Chính sách tín dụng rõ ràng sẽ tạo điều kiện giúp
cán bộ tín dụng từ chối những khoản cấp tín dụng không hiệu quả. Cấu trúc
danh mục tín dụng phản ánh chính sách đặt ra về cấp tín dụng của Ngân hàng.
Do vậy, nếu tín dụng tiêu dùng mà không nằm chung trong chính sách tín
dụng của Ngân hàng thì cá nhân và hộ gia đình sẽ không thể tiếp cận được
những khoản tín dụng từ Ngân hàng để phục vụ nhụ cầu chi tiêu của mình. Khi
Ngân hàng xác định việc đẩy mạnh và mở rộng tín dụng tiêu dùng là một chiến
lược và định hướng kinh doanh thì Ngân hàng mới tập trung đầu tư phát triển
13
lĩnh vực này. Như vậy, chính sách tín dụng của Ngân hàng sẽ ảnh hưởng trực
tiếp và quyết định tới sự tồn tại và phát triển của tín dụng tiêu dùng.
2.1.2. Nguồn vốn, quy mô và uy tín của Ngân hàng
Nguồn vốn và quy mô hoạt động của Ngân hàng là nhân tố quan trọng
quyết định tới cấu trúc và danh mục đầu tư của Ngân hàng. Đặc biệt và nguồn
vốn chủ sở hữu để xác định định mức cấp tín dụng tối đa cho một khách hàng.
Đối với các Ngân hàng nhỏ thường tập trung vào các nghiệp vụ tín dụng bán lẻ
hơn là bán buôn, mà chủ yếu các khoản tín dụng với giá trị nhỏ được cấp cho cá
nhân và hộ gia đình. Đối với các Ngân hàng lớn lại thường tập trung vào các
khách hàng lớn như các hãng kinh doanh, các tổng công ty..., việc cấp tín dụng
thường có giá lớn. Tín dụng tiêu dùng bao gồm tín dụng thông thường và tín
dụng bất động sản là hướng đi phù hợp đối với các NHTM có nguồn vốn và
quy mô hoạt động lớn, do mang lại thu nhập cao và chiếm ưu thế về chi phí.
2.1.3. Chất lượng và đa dạng các hình thức tín dụng tiêu dùng
Chất lượng và đa dạng các hình thức tín dụng tiêu dùng có ảnh hưởng trực
tiếp tới lĩnh vực tín dụng tiêu dùng của các NHTM. Vì nếu một Ngân hàng có
nguồn vốn và quy mô hoạt động lớn mạnh, nhưng các sản phẩm tín dụng tiêu
dùng quá đơn điệu và chất lượng không cao, sẽ không đáp ứng được nhu cầu
của khách hàng thì việc mở rộng tín dụng tiêu dùng sẽ khó khăn. Nhất là trong
điều kiện nền kinh tế thị trường, tính chất cạnh tranh giữa các TCTD ngày càng
quyết liệt, đặc biệt là về chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm. Do đó các
Ngân hàng luôn chú trọng đầu tư để không ngừng nâng cao chất lượng các sản
phẩm và thực hiện đa dạng hoá sản phẩm cung cấp cho khách hàng, nhằm củng
cố, mở rộng thị phần và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nếu Ngân
hàng nào không chú trọng đến những vấn này, coi như tự mình “đào thải” khỏi
danh sách những nhà cung cấp dịch vụ tín dụng tiêu dùng trên thị trường.
2.1.4. Trình độ nghiệp vụ của nhân viên Ngân hàng
Trong hoạt động Ngân hàng, yếu tố trình độ con người đóng vai trò cực
kỳ quan trọng, nó quyết định tới mọi hoạt động của Ngân hàng, vì bản thân của
hoạt động Ngân hàng là hoạt động dịch vụ. Điều này đã được chứng minh trong
14
cơ cấu chi phí hoạt động của Ngân hàng thì ngoài trả lãi tiền gửi, thì chi phí để
trả lương cho cán bộ nhân viên bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng
chi phí.
Đội ngũ nhân viên tín dụng tiêu dùng có ảnh hưởng đáng kể tới chất
lượng và việc mở rộng tín dụng tiêu dùng, vì họ là người quyết định tới chất
lượng các khoản cấp tín dụng cho khách hàng và thực thi tín dụng một cách tích
cực nhất. Khi đến giao dịch với Ngân hàng, điều đầu tiên khách hàng cảm nhận
hình ảnh Ngân hàng là thông qua nhân viên tín dụng, sau đó đến toàn bộ cán bộ,
nhân viên Ngân hàng cũng góp phần tạo nên hình ảnh của Ngân hàng. Nếu cảm
nhận về hình ảnh của Ngân hàng là tốt, sẽ góp phần làm tăng uy tín và tính cạnh
tranh của Ngân hàng khi cung cấp các sản phẩm cho khách hàng. Ngược lại, sẽ
góp phần làm xấu hình ảnh của Ngân hàng.
2.1.5. Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng và ngày càng có
vị trí quyết định đến hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động Ngân hàng nói
riêng. Công nghệ thông có thể mang lại những lợi ích và sức cạnh tranh mạnh
mẽ cho hoạt động của các NHTM. Việc xử lý nhanh và phân tích kịp thời thông
tin giúp các Ngân hàng đơn giản hoá các thủ tục hành chính, giảm chi phí, nâng
cao chất lượng sản phẩm cung cấp ra thị trường. Nếu công nghệ thông tin hiện
đại, các Ngân hàng có thể dễ dàng lưu trữ, truy cập và khai thác sử dụng được
thuận lợi, nhanh chóng. Đồng thời tạo điều kiện cho khách hàng trong quan hệ
giao dịch và tiếp cận các dịch vụ khác của Ngân hàng mà không nhất thiết phải
trực tiếp đến Ngân hàng.
2.2. Về phía khách hàng
Do đặc điểm của tín dụng tiêu dùng là cấp cho cá nhân và các hộ gia đình,
nên nhu cầu rất đa dạng từ các nhu cầu thiết yếu đến các nhu cầu cao cấp. Do
đời sống ngày càng được nâng cao thì nhu cầu để cải thiện tốt hơn về cuộc sống
càng lớn. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế – xã hội sẽ
xuất hiện những nhu cầu nổi bật mà khách hàng cần sự hỗ trợ về tài chính của
Ngân hàng. Đòi hỏi Ngân hàng phải pháp hiện được những nhu cầu đó nhanh
15
nhất để có thể đưa ra các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của
khách hàng, người đi đầu sẽ có ưu thế cạnh tranh trong thu hút khách hàng. Do
việc cấp tín dụng tiêu dùng là sản phẩm dịch vụ, nên nhu cầu của khách hàng sẽ
quyết định hình thức cấp tín dụng tiêu dùng, nhu cầu của khách hàng là nền
tảng, là cơ sở để Ngân hàng xác định mục tiêu, chiến lược phát triển sản phẩm
dịch vị tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng.
2.3. Môi trường pháp luật
Mọi hoạt động của cá nhân và các tổ chức trong một quốc gia đều bị chi
phối bởi các hệ thống luật pháp, trong đó hoạt động Ngân hàng nói chung, lĩnh
vực tín dụng tiêu dùng nói riêng không những không nằm ngoài sự chi phối của
pháp luật mà nó còn bị ràng buộc bởi những quy định chặt chẽ của các cơ quan
nhà nước, nhằm kiểm soát hoạt động Ngân hàng nói chung, lĩnh vực tín dụng
tiêu dùng nói riêng, với mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng phục vụ
công chúng và đảm bảo cho nền kinh tế phát triển lành mạnh.
Lý do các Ngân hàng bị kiểm soát chặt chẽ là vì lợi ích của người gửi
tiền, vì các NHTM có khả năng tạo tiền, do đó nếu không kiểm soát chặt chẽ
hoạt động Ngân hàng sẽ ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hơn
nữa, để tránh việc phân biệt đối xử trong tài trợ tín dụng, nhất là đối với cá nhân,
hộ gia đình, nếu bị phân biệt đối xử thì họ sẽ phải đói mặt với không ít khó khăn
khi muốn cải thiện cuộc sống và nâng cao đời sống cá nhân. Như vậy, nếu môi
trường pháp luật thông thoáng rõ ràng và có sự phối hợp thống nhất giữa các cơ
quan nhà nước sẽ giúp cho hoạt động Ngân hàng lành mạnh - an toàn – hiệu
quả.
2.4. Môi trường kinh tế – xã hội
Nếu khủng hoảng kinh tế xẩy ra nó sẽ làm thu nhập của người dân không
ổn định và có xu hướng giảm, từ đó NH sẽ phải thận trọng, hạn chế trong việc
cấp tín dụng tiêu dùng. Ngược lại, khi điều kiện kinh tế tăng trưởng ổn định thì
thu nhập của người dẫn sẽ được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng của họ tăng, từ đó
nhu cầu về tín dụng tiêu dùng sẽ tăng. Do vậy, điều kiện kinh tế, thu nhập bình
quân đầu người, tỷ lệ thất nghiệp .... là cơ sở quan trọng cho việc mở rộng tín
16
dụng tiêu dùng của NHTM. Đồng thời các chính sách kinh tế của nhà nước hợp
lý thì không những tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển mà còn có những tác
động, ảnh tốt đến hoạt động Ngân hàng nói chung và lĩnh vực cho vay tiêu dùng
nói riêng.
Trong hoạt động tín dụng tiêu dùng các yếu tố như: các tập quán xã hội,
bản sắc văn hoá dân tộc, tâm lý của người tiêu dùng giữa các vùng, miền và các
khu vực....ảnh hưởng rất lớn đến việc mở rộng tín dụng tiêu dùng và chất lượng
hoạt động tín dụng tiêu dùng của Ngân hàng.
3. Tổ chức kỹ thuật cho vay tín dụng tiêu dùng
+ Phân tích tín dụng tiêu dùng
Hầu hết các ngân hàng với số lượng lớn khách hàng xin vay tiêu dùng
thường bổ sung cho việc phân tích tín dụng của họ bằng hệ thống cho điểm tín
dụng thống kê. Hệ thống phân tích tự động này là phương tiện để đánh giá đề
nghị vay sử dụng mẫu cho điểm liệt kê những đặc điểm của đề nghị vay như
mức thu nhập, thời gian làm việc, quyền sở hữu nhà ở, và những hình thức tín
dụng đã có trước đây với những người bán lẻ hoặc những người cho vay khác.
Đề nghị vay được cho điểm theo mỗi đặc điểm và tổng số điểm cho ta thấy liệu
người đề nghị vay có đủ tiêu chuẩn vay hay không. Khả năng được chấp nhận sẽ
được dự báo dựa trên cơ sở dữ liệu của ngân hàng về những khách hàng có
những đặc điểm tương tự và về việc thanh toán các khoản vay trước đây đối với
ngân hàng của người xin vay đó.
Cho điểm tín dụng thường ít được sử dụng như một tiêu chí duy nhất đẻ
thực hiện các khoản tín dụng tiêu dùng. Những yếu tố khác như khả năng thanh
toán nợ, điều kiện kinh tế hiện tại và những yêu cầu về thế chấp, phải đáp ứng
được những tiêu chuẩn về bảo đảm an toàn của ngân hàng. Những thông tin
khách quan - như về cá nhân và hình thức bề ngoài của khách hàng, tiềm năng
về một mối quan hệ có lợi trong tương lai, và những yếu tố không thể định
lượng khác - sẽ giúp cho quá trình phân tích tín dụng có giá trị thực tế hơn. Phân
tích tín dụng là một quá trình nhờ đó cả những yếu tố chủ quan như những yếu
tố có thể định lượng được đánh giá đồng thời. Mục đích của quá trình này là
17
giảm thiểu rủi ro, tổn thất cho vay và những khoản cho vay khó đòi. Các bước
trong quá trình phân tích tín dụng tiêu dùng được liệt kê trong bảng dưới đây:
Biểu 1: Các bước trong quá trình phân tích tín dụng tiêu dùng
1. Xác định mục đích sử dụng khoản 3. Kiểm tra và xác minh thông tin
vay và số tiền vay 4. Phân tích
2. Thu thập thông tin: a. Báo cáo tài chính
a. Tín dụng tiêu dùng b. Lưu chuyển tiền mặt
b. Báo cáo tài chính cá nhân 5. Đánh giá tài sản bảo đảm, nếu cần
c. Thu nhập tính thuế thiết
Báo cáo tài chính hoạt động kinh 6. Đánh giá và cơ cấu khoản tín dụng
doanh 7. Thương lượng với người xin vay
+ Kỹ thuật thẩm định trong cho vay tiêu dùng trực tiếp
- Phương pháp hệ thống điểm số (Score System):
Hoạt động cho vay tiêu dùng trực tiếp của ngân hàng liên quan đến một số
lượng rất đông các khách hàng. Mỗi khách hàng thường vay một số tiền nhỏ hơn
nhiều so với trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Muốn có một mức dư nợ lớn
trong hoạt động cho vay tiêu dùng, các ngân hàng phải thực hiện một số lượng
các hợp đồng cho vay gấp nhiều lần so với cho vay trong các lĩnh vực nói trên.
Khi số lượng khách hàng lớn thì yêu cầu về một có chế kiểm soát an toàn và
hiệu quả đối với việc ra quyết định cho vay là hết sức cần thiết. Trong những
trường hợp như vậy ngân hàng thường sử dụng một phương pháp hỗ trợ rất đắc
lực để ra quyết định tín dụng, đó là hệ thống điểm số.
Hệ thống điểm số là một tập hợp các tiêu thức khác nhau liên quan đến
từng khách hàng vay tiêu dùng. Mỗi tiêu thức có một điểm số khác nhau tuỳ
theo tình trạng của tiêu thức này và tầm quan trọng của nó trong hệ thống các
tiêu thức, dựa trên cơ sở các kết quả thống kê trong lịch sử.
Trên thực tế, một hệ thống điểm số thường có rất nhiều yếu tố, được xây
dựng dựa trên nguyên tắc nói trên. Thông thường trong một hệ thống điểm số,
có khoảng 7 đến 12 yếu tố khác nhau được xem xét bao gồm: thời gian làm công
18
việc hiện tại; tình trạng gia đình (có gia đình, độc thân hay đã ly hôn); độ tuổi;
hình thức lao động (có kỹ năng hay không); thời hạn cư trú; số lượng người
sống phụ thuộc vào người vay; loại tài sản có tại ngân hàng...
Biểu 2: Hệ thống điểm số tại một ngân hàng ở Mỹ
Các yếu tố Điểm số
1. Nghề nghiệp của người vay
Chuyên viên hoặc các nhà quản trị 10
Lao động có tay nghề 8
Nhân viên văn phòng 7
Sinh viên 5
Lao động không có tay nghề 4
Lao động bán thời gian 2
2. Tình trạng cư trú
Có nhà riêng 6
Có nhà thuê hoặc chung cư 4
Ở với người bạn thân hoặc bạn bè 2
3. Hạng tín dụng
Tốt 10
Trung bình 5
Không có 2
Xấu 0
4. Thời gian làm việc đối với nghề nghiệp hiện
tại
Hơn một năm 5
Một năm hoặc ít hơn 2
5. Thời gian đã cư ngụ tại địa chỉ hiện tại
Hơn một năm 2
Một năm hoặc ít hơn 1
6. Có điện thoại tại chỗ ở
Có 2
Không 0
7. Số người sống dựa vào người vay
Không 3
Một 3
Hai 4
Ba 4
19
Nhiều hơn ba 2
8. Loại tài khoản có tại ngân hàng
Cả tài khoản séc lẫn tài khoản tiết kiệm 4
Chỉ có tài khoản tiết kiệm 3
Chỉ có tài khoản séc 2
Không có tài khoản nào 0
Điểm cao nhất có thể có đối với một khách hàng theo hệ thống điểm số
này là 43 điểm. Còn điểm thấp nhất là 9 điểm.
Căn cứ vào số liệu thống kê trong quá khứ về khả năng rủi ro của các loại
khách hàng có điểm số giống nhau, các ngân hàng thường đưa ra nhiều mức cho
vay tối đa khác nhau đối với từng khách hàng có điểm số ở những nhóm điểm số
khác nhau. Ví dụ trong bảng sau đây là các mức cho vay tối đa đối với từng
khách hàng có điểm số khác nhau của ngân hàng Mỹ nói trên:
Biểu 3: Mức cho vay tối đa theo điểm số của ngân hàng Mỹ
Điểm số Số tiền cho vay tối đa
Từ 28 điểm trở xuống 0
29-30 điểm 500
31-33 điểm 1.000
34-36 điểm 2.500
37-38 điểm 3.500
39-40 điểm 5.000
41-43 điểm 8.000
Phương pháp hệ thống điểm số dựa trên giả định các yếu tố trong hệ
thống là giống nhau, nếu các yếu tố này phản ánh chính xác các khoản tín dụng
là tốt hoặc xấu trong quá khức thì cũng sẽ tiếp tục có khả năng như vậy trong
tương lai với mức độ sai số có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, khi môi trường
kinh tế - xã hội có những biến động lớn ảnh hưởng đến các yếu tố tín dụng được
xem xét trong hệ thống điểm số thì rõ ràng giả định trên không còn phù hợp nữa.
Thế nên, các ngân hàng phải thường xuyên tiến hành tái xét, bổ sung và sửa đổi
hệ thống điểm số mà mình đang sử dụng.
20