Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật trong thơ tống biệt của đỗ phủ và lý bạch

  • 85 trang
  • file .pdf
TRƯỜ
TRƯỜ NG ĐẠ
ƯỜNG ĐẠII HỌC CẦN THƠ
THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NHÂ
NGỮ
BỘ MÔN NG Ữ VĂN
NGUYỄ
NGUY THỊỊ KI
ỄN TH KIỀỀU DI
DIỄỄM
MSSV: 6106303
TÌM HIỂU GI
HIỂ GIÁÁ TR
TRỊỊ NỘI DUNG VÀ NGH
NGHỆỆ
THU
THUẬẬT TRONG THTHƠ Ơ TỐNG BI
BIỆỆT CỦA
ĐỖ PH
PHỦ Ủ VÀ LÝ BẠCH
ướng
Cán bộ hướ THỊỊ TH
ng dẫn: ThS. GV BÙI TH ÚY MINH
THÚ
Lu nghiệệp đạ
Luậận văn tốt nghi đạii học
Ngàành Ng
Ng Ngữữ văn
Thơ
Cần Th ơ, năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Người Việt Nam chúng ta có truyền thống:
“Uống nước nhớ nguồn
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
Hay câu nói đạo lí nằm lòng:
“ Không thầy đố mày làm nên”.
Thật đúng như thế, từ những ngày đầu tiên bước chân vào
giảng đường Đại học, cuộc sống của em đã thay đổi, em có
nhiều bạn bè mới, quen với nhiều thầy cô mới và quan trọng hơn
đó là phương pháp học tập mới. Ban đầu em vẫn chưa quen với
phương pháp học tập của bậc Đại học nên gặp rất nhiều khó
khăn. Nhưng em đã dần khắc phục được và đạt được nhiều thành
tích trong học tập. Sở dĩ em được như vậy là nhờ vào công ơn
giúp đỡ của thầy cô rất nhiều. Trong quá trình học tập các thầy
cô đã nhiệt tình quan tâm, động viên, giúp đỡ chúng em, đưa ra
phương pháp dạy sinh động để chúng em dễ tiếp thu bài nhanh
chóng. Em rất cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Ngữ văn đã tạo
điều kiện thuận lợi cho chúng em học tập tốt. Đặc biệt, em chân
thành cảm ơn cô Bùi Thị Thúy Minh, người đã hướng dẫn em
hoàn thành luận văn tốt nghiệp. Cô đã tận tình giúp đỡ, chỉ ra cái
sai, cái yếu kém cần khắc phục và định hướng, đưa ra những cái
hay cho em thực hiện tốt công trình nghiên cứu của mình.
Một lần nữa em xin kính chúc quý thầy cô luôn dồi dào sức
khỏe, thực hiện thành công sứ mệnh cao cả của nhà giáo là
truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau.
Trân trọng.
ĐỀ CƯƠ NG TỔNG QU
ƯƠNG QUÁÁT
PHẦN MỞ ĐẦ
PHẦ ĐẦUU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
PHẦ
CHƯƠ
CHƯƠ NG MỘT: TÌM HI
ƯƠNG ỂU CHUNG VỀ TÁC GI
HIỂ Ả VÀ TH
GIẢ Ơ TỐNG BI
THƠ ỆT
BIỆ
1. Gi thiệệu về th
ới thi
Giớ biệệt
ơ tống bi
thơ
1.1. Vài nét về thơ tống biệt
1.2. Vị trí của thơ tống biệt đối với nền văn học Trung Quốc
Giớ
2. Gi thiệệu về tác gi
ới thi giảả
2.1. Đỗ Phủ
2.1.1. Cuộc đời
2.1.2. Sự nghiệp sáng tác
2.1.3. Thơ tống biệt của Đỗ Phủ
2.2. Lý Bạch
2.2.1. Cuộc đời
2.2.2. Sự nghiệp sáng tác
2.2.3. Thơ tống biệt của Lý Bạch
2.3. Cảm hứng sáng tác chủ đạo của hai nhà thơ
2.4. Tình bạn thân thiết giữa Đỗ Phủ và Lý Bạch
CHƯƠ
CHƯƠ NG HAI: GI
ƯƠNG GIÁ TRỊỊ NỘI DUNG VÀ NGH
Á TR Ệ THU
NGHỆ THUẬẬT TH
THƠƠ
TỐNG BIỆT CỦA ĐỖ PH
BIỆ PHỦỦ VÀ LÝ BẠCH
1.N
1.Nộội dung th
thơ biệệt của Đỗ Ph
ơ tống bi Phủủ
1.1. Tìm hiểu bài thơ Tân hôn biệt
1.1.1. Tình huống ly biệt
1.1.2. Tâm trạng người phụ nữ chốn khuê phòng
1.2. Tìm hiểu bài thơ Thùy lão biệt
1..2.1. Cảnh ly biệt của đôi vợ chồng già
1.2.2. Thực trạng xã hội bất công, chiến tranh loạn lạc
1.3. Tìm hiểu bài thơ Vô gia biệt
1.3.1. Hoàn cảnh làng quê sau chiến tranh
1.3.2. Tình cảnh người lính thua trận
2. Nội dung th
thơơ tống bi
biệệt của Lý Bạch
2.1. Tìm hiểu bài thơ Tống hữu nhân
2.1.1. Khung cảnh buổi tiễn đưa
2.1.2. Tình bằng hữu thâm giao
2.2. Tìm hiểu bài thơ Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng
2.2.1. Kỉ niệm buổi chia tay
2.2.2. Tâm trạng người đưa tiễn
2.3. Tìm hiểu bài thơ Độ Kinh Môn tống biệt
2.3.1. Bức tranh thiên nhiên
2.3.2. Nổi thương nhớ quê nhà
thơ
3. So sánh th biệệt của Đỗ Ph
ơ tống bi Phủủ và Lý Bạch
3.1. Giống nhau
3.2. Khác nhau
3.2.1. Nguyên nhân tống biệt
3.2.2. Chủ thể tống biệt
3.2.3. Con người trong thơ tống biệt
3.2.4. Nổi buồn tống biệt
3.2.5. Khung cảnh tống biệt
4. Ngh
Nghệệ thu
thuậật thơ tống bi
thơ biệệt của Đỗ Phủ và Lý Bạch
Phủ
4.1. Thể thơ
4.2. Không gian và thời gian nghệ thuật
4..2.1. Tìm hiểu chung
4.2.2. Phân tích không gian và thời gian nghệ thuật
4.3. Giọng điệu thơ tống biệt
4.4. Hình ảnh nghệ thuật trong thơ
PHẦN KẾT LU
PHẦ LUẬẬN
PHẦ
PH ẦN MỞ ĐẦ
ĐẦUU
1. Lí do chọn đề tài
chọ
Nói đến văn học Trung Quốc, chúng ta không thể bỏ qua thơ Đường. Bởi
lẽ thơ Đường là thành tựu tiêu biểu nhất của văn học Trung Quốc trong thời nhà
Đường và của thi ca Trung Quốc, điều này làm nên sự chói lọi cho sự phát triển
của văn học dân tộc Trung Hoa. Các tác phẩm thơ Đường đã đi sâu vào lòng
các dân tộc phương Đông và có tầm ảnh hưởng rất lớn đến các quốc gia khác
trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự
phát triển rực rỡ và phồn vinh của thơ Đường là đội ngũ sáng tác đông đảo, với
các nhà thơ nổi tiếng như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên,
Cao Thích, Sầm Tham ... Trong đó, Thi Tiên Lý Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ là
hai nhà thơ lớn, là ngôi sao sáng có thể đại diện giới nhà thơ trong thời kỳ phồn
vinh đời Đường. Thơ ca của Lý Bạch và Đỗ Phủ ảnh hưởng sâu sắc tới sự sáng
tác thơ ca trong đời sau Trung Quốc. Mỗi người một vẻ không ai giống ai
nhưng cũng không thể nào tách rời, tên hai nhà thơ đã gắn chặt với nhau, khi
nhắc đến người này không thể không nhắc đến người kia. Thật vậy, thơ ca của
hai thi nhân gộp lại mới nói lên được đầy đủ tâm hồn người Trung Quốc thời
ấy. Người ta thường nói văn chương Lý - Đỗ người đời khó ai sánh kịp, hai nhà
thơ ấy tiêu biểu cho hai đỉnh cao của thơ ca cổ điển Trung Quốc. Nếu như Lý
Bạch thiên về những vần thơ bay bổng lãng mạn với những cảnh sắc lung linh
mờ ảo, cảnh và tình hòa quyện vào nhau thì Đỗ Phủ lại mang duyên nợ với
những dòng thơ hiện thực gắn liền với cuộc sống đời thường cùng những con
người ở tầng lớp thấp cổ bé họng trong xã hội, vì vậy mà tiếng thơ ông mang
một nổi buồn ai oán, day dứt triền miên về những cảnh đời đau khổ, bất hạnh,
những bất công ngang trái trong xã hội mà chính ông cũng đã từng nếm trải
trong suốt cuộc đời mình.
Tuy cách thể hiện nỗi niềm, tâm trạng của Đỗ Phủ và Lý Bạch khác nhau
nhưng đều chung cảm hứng sáng tác vì xã hội Trung Quốc thời bấy giờ là thời
kì chiến tranh loạn lạc, cảnh thê lương hoang vắng nơi biên địa, nỗi nhớ mong
vợ con và quê hương bản quán của người lính, nhà thơ có thể không sống trực
tiếp trong cảnh chiến tranh biên ải xa xôi nhưng trong tâm hồn họ vẫn còn ghi
lại những hình ảnh, những cảm xúc khiến họ có thể tưởng tượng ra cảnh “túy
ngọa sa trường” bi hùng để rồi nghĩ đến cảnh “cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi”
và bao nhiêu hệ lụy của cảnh này xảy ra xung quanh người lính chiến với vợ
con, cha mẹ, anh em, bạn bè. Buổi đưa tiễn, cảnh chia ly kẻ ở người đi đã khiến
họ không tránh khỏi những bùi ngùi xúc động và đã viết nên những trang thơ
tràn đầy tình nghĩa, ngậm ngùi, thương cảm. Những bài thơ nói đến cảnh tiễn
đưa ấy được gọi là thơ tống biệt. Vậy thơ tống biệt của Đỗ Phủ và Lý Bạch
được thể hiện như thế nào, có những điểm giống và khác nhau ra sao? Do đó,
người viết đi vào nghiên cứu vấn đề này một mặt cho thấy giá trị nội dung và
giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm của hai nhà thơ, mặt khác so sánh để nhận
ra sự giống nhau và khác biệt về phong thái, tình cảm mà nhà thơ gửi gấm qua
các bài thơ tống biệt.
2. Lịch sử vấn đề
Là hai nhà văn lớn của Trung Quốc với số lượng tác phẩm đồ sộ nên có
không ít các công trình nghiên cứu về lĩnh vực, phương diện thơ Đỗ Phủ và Lý
Bạch, điều đó đã tạo nên sự phong phú trong nghiên cứu với nhiều công trình có
giá trị lớn. Trên cơ sở những tài liệu đã khảo sát trực tiếp và gián tiếp, người
viết có thể lược thuật các công trình nghiên cứu về thơ Đỗ Phủ và Lý Bạch của
nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng như ở Việt Nam. Dưới đây là một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu:
2.1. Công tr nghiêên cứu th
trìình nghi ơ Đỗ Ph
thơ ủ
Phủ
Ở Trung Quốc, từ trước tới nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu,
biên soạn, chuyên khảo và hàng nghìn bài báo viết về thời đại, cuộc đời và thi
phẩm Đỗ Phủ của các tác giả Kim Thánh Thán (đời Thanh), Hồ Thích, Lương
Khải Siêu, Quách Mạt Nhược, Hồ Thiếu Thạch, Văn Nhất Đa, La Dung, Bằng
Chí Bính, Tiễn Bá Hán, Tiêu Điều Phi, Khâu Chấn Thanh.
Nhà phê bình văn học nổi tiếng Kim Thánh Thán đã đánh giá cao thơ Đỗ
Phủ và xếp luật thi của Đỗ Phủ vào hàng lục tài tử (sáu bộ sách hay) trong văn
học cổ điển Trung Quốc. Trong sách Tuyển phê Đường thi nhất thiên thủ, ông
đã phê bình tám bài Thu hứng của Đỗ Phủ dưới góc độ thi pháp học. Có thể coi
đây là những bài phê bình thơ Đỗ Phủ sâu sắc và chính xác nhất.
Một công trình rất đáng chú ý có liên quan đến việc nghiên cứu nghệ
thuật thơ ca Đỗ Phủ là Lịch sử văn học Trung Quốc của Dịch Quân Tả, trong
chương Đỗ Phủ, phần III đã đề cập đến Thành tựu nghệ thuật thơ ca Đỗ Phủ,
trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến nghệ thuật trữ tình trong thơ Đỗ Phủ
được tác giả trình bày sáng tỏ. Tác giả cho rằng phong cách thơ Đỗ Phủ là
phong cách trầm uất trong cách sáng tạo ý cảnh, khí phách rộng lớn, bút pháp
lưu loát, phóng khoáng. Nhưng thơ trữ tình của Đỗ Phủ chỉ được nghiên cứu
trong phạm trù nghệ thuật thơ ca chứ chưa có sự tách bạch riêng lẻ.
Nhà thơ Văn Nhất Đa nói: “Đỗ Phủ là nhà thơ viết cho nhân dân, nhưng
nhân dân không hiểu”. Câu nói đó một phần đề cập đến sự thâm thuý, nhiều ý
nghĩa về nội dung, đồng thời cũng nói lên giá trị nghệ thuật cao siêu, sâu sắc
của thơ Đỗ Phủ.
Năm 1988, ở Trung Quốc xuất bản một số công trình bàn về sự phát triển
thể thơ luật thi và tuyệt cú của Đỗ Phủ như công trình của Diệp Gia Doanh,
Trần Bang Đạm .
Ở Việt Nam, thơ Đỗ Phủ cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Nhìn lại các công trình nghiên cứu, giới thiệu thơ Đỗ Phủ chúng ta gặp rất
nhiều tên tuổi các học giả có nhiều uy tín như Trần Xuân Đề, Phan Ngọc,
Nguyễn Khắc Phi, Hoàng Trung Thụng, Lê Đức Niệm và những công trình
khoa học có giá trị của Hồ Sĩ Hiệp, Nguyễn Thị Bích Hải.
Trần Trọng Kim trong Đường thi (Nxb Tân Việt Hà Nội, 1951) ở phần
Lời nói đầu đã gọi thơ Đỗ Phủ là loại thơ “Một lời ngụ trăm tình”.
Tác giả Nguyễn Hà trong cuốn Đường thi tứ tuyệt viết: “Có nhiều ý kiến
cho rằng thơ tứ tuyệt Đỗ Phủ đã đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình
phát triển của thơ tứ tuyệt đời Đường”. Và “Xét về bản thân sự phát triển của
thể tài tuyệt cú thì đến Đỗ Phủ có thể nói đã kết thúc một giai đoạn quan trọng”.
[1; tr.16].Tác giả còn khẳng định nét mới trong thơ Đỗ Phủ là đưa yếu tố tự sự,
đưa thời sự, đưa nghị luận vào thơ tứ tuyệt.
Trong quyển Thơ Đường ở phần Nghệ thuật tuyệt vời, tác giả Lê Đức
Niệm có nhận định: “Thơ Đỗ Phủ có sự nhất trí hoàn toàn giữa nội dung và
hình thức” [2; tr.150] và đưa ra những nhận xét cụ thể về nghệ thuật thơ Đỗ Phủ
trên ba phương diện: đề tài, hình tượng và ngôn ngữ. Về mặt đề tài, theo ông
nói thì Đỗ Phủ viết về ba loại đề tài lớn: đề tài thiên nhiên, xã hội và cá nhân,
nhưng dù có khai thác đề tài nào ông cũng lấy đề tài xã hội làm trung tâm. Về
mặt hình tượng, theo tác giả: “Hình tượng trong thơ Đỗ Phủ hết sức chân thực,
nó được tạo nên bằng sự kết hợp giữa khái quát và cụ thể, kết hợp tự sự và trữ
tình”[3; tr.156]. Về mặt ngôn ngữ thơ Đỗ Phủ, tác giả nhận xét: “Ngôn ngữ
trong thơ Đỗ Phủ thật hàm súc và tinh luyện”.[4; tr.156].
2.2. Công tr nghiêên cứu th
trìình nghi ơ Lý Bạch
thơ
Công trình nghiên cứu thơ Lý Bạch có thể là một vấn đề khá mới mẻ ở
Việt Nam hiện nay. Tuy công trình nghiên cứu không nhiều nhưng người viết
cũng điểm qua một vài đề tài nghiên cứu như sau:
Luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn của Phạm Hải Anh với đề tài: Thơ tứ tuyệt
Lý Bạch phong cách và thể loại (Đại học sư phạm Hà Nội, 1996). Luận án đã
vận dụng thi pháp học hiện đại để nghiên cứu phong cách thơ tứ tuyệt Lý Bạch.
Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Trần Trung Hỷ với đề tài: Thi pháp thơ Lý
Bạch - một số phương diện chủ yếu (Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn
Hà Nội, 2002). Luận án này đề cập đến ba vấn đề chính là quan niệm thơ ca và
con người Lý Bạch trong thơ, thời gian - không gian nghệ thuật và thể loại ngôn
ngữ thơ Lý Bạch.
Ngoài ra, còn phải kể đến rất nhiều đề tài khóa luận làm về Lý Bạch của
sinh viên Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Hà Nội như: Hình
ảnh người phụ nữ trong thơ Lý Bạch của Nguyễn Thế Hiệp (1965); Hình tượng
người phụ nữ trong thơ ca Lý Bạch của Nguyễn Đức Anh (1966); Bút pháp
lãng mạn trong thơ ca Lý Bạch của Nguyễn Hồng Vân (1970).
Đó là những công trình nghiên cứu tiêu biểu của các tác giả Việt Nam và
Trung Quốc khi nói về hai nhà thơ lớn Lý Bạch và Đỗ Phủ. Trong các công
trình nghiên cứu đó một số tác giả cũng có đề cập vài điều sơ lược khi so sánh
thơ Lý Bạch và Đỗ Phủ, ví dụ như phong cách sáng tác, quan niệm sáng tác
hoặc so sánh vài bài thơ cùng đề tài để chỉ ra điểm khác nhau. Trong các công
trình nghiên cứu về Lý Bạch và Đỗ Phủ người viết thường so sánh để nhận ra
những điểm khác nhau vì giữa hai ông người ta nhận thấy có sự khác nhau
nhiều hơn giống nhau. Tuy nhiên, việc nghiên cứu so sánh nhằm chỉ ra rõ hơn
và sâu sắc hơn những điểm tương đồng hay khác biệt trong thơ văn Lý Bạch,
Đỗ Phủ thì đến nay vẫn chưa thấy có công trình nào tiêu biểu, trong khi đó việc
nghiên cứu thường chỉ đề cập sơ lược qua chứ chưa đi vào phân tích chuyên sâu
nên người viết không đề cập đến các công trình nghiên cứu mang tính chất so
sánh đó.
3. Mục đích yêu cầu
đích
Khi nghiên cứu về đề tài này, người viết sẽ làm rõ các vấn đề trọng tâm
như tìm hiểu nguyên nhân vì sao có sự tống biệt, lý do ra đi của nhân vật trong
tác phẩm, tâm trạng của người ra đi và người ở lại thể hiện trong thơ tống biệt.
Đặc biệt là khi tìm hiểu qua các bài thơ, người viết cũng đồng thời phân tích
điểm giống và khác trong thơ tống biệt của Đỗ Phủ và Lý Bạch. Sau khi phân
tích các vấn đề đó ta sẽ thấy được hoàn cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc lúc bấy
giờ, ví dụ như cảnh chia ly của con người trong chiến tranh, khung cảnh điêu
tàng hoang vắng nơi biên địa. Bên cạnh đó, ta còn thấy được bức tranh sinh
động, đẹp đẽ của thiên nhiên đất nước Trung Hoa, tình bạn bè bằng hữu sẽ thể
hiện cụ thể qua các bài thơ của Lý Bạch và Đỗ Phủ. Đồng thời, qua các tác
phẩm đó cũng cho ta thấy được bút pháp nghệ thuật, cách sử dụng hình ảnh tài
tình của nhà thơ, cảm nhận được tư tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gấm.
Với mục đích đó, người viết mong muốn gửi đến bạn đọc biết được sâu
sắc hơn về nội dung thơ Đỗ Phủ và Lý Bạch, muốn cho bạn đọc thấy được thơ
văn Lý - Đỗ không chỉ khác nhau mà còn giống nhau ở nhiều mặt, người viết
muốn góp thêm một cái nhìn, một tiếng nói của mình khi nhìn nhận, đánh giá
về giá trị nội dung và nghệ thuật thơ tống biệt của hai nhà thơ lớn Trung Quốc.
4. Ph nghiêên cứu
ạm vi nghi
Phạ
Với đề tài nghiên cứu giá trị nội dung và nghệ thuật trong thơ tống biệt
của Đỗ Phủ và Lý Bạch, do dung lượng về thời gian và để tập trung chuyên
sâu vào vấn đề nên người viết chỉ khảo sát một số tác phẩm nói đến buổi chia
ly, cảnh tiễn đưa của người ra đi và người ở lại. Về thơ tống biệt của Đỗ Phủ
người viết tìm hiểu chùm thơ “Tam biệt” bao gồm các bài: Tân hôn biệt, Thùy
lão biệt, Vô gia biệt. Tìm hiểu thơ tống biệt của Lý Bạch người viết cũng khảo
sát trong ba tác phẩm: Tống hữu nhân, Tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng
Lăng, Độ Kinh Môn tống biệt. Bên cạnh đó, người viết còn tìm hiểu nhiều bài
thơ khác của Lý Bạch và Đỗ Phủ để tìm hiểu thêm điểm giống nhau về nội
dung thơ văn của hai nhà thơ.
5. Phươ
Phươ ng ph
ương nghiêên cứu
áp nghi
phá
Do việc nghiên cứu thơ tống biệt Đỗ Phủ và Lý Bạch rất phong phú, có
nhiều nội dung cần làm sáng tỏ, để thuyết phục người nghe và người đọc hiểu
hết vấn đề đang tìm hiểu thì trong quá trình thực hiện luận văn người viết có sử
dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu văn học như phân tích, tổng hợp,
so sánh, bình giảng… Cụ thể hơn, sau khi tìm hiểu các tác phẩm để thực hiện
luận văn người viết đã đi vào tìm hiểu các bản dịch thơ phù hợp với nội dung
của nguyên âm và dịch nghĩa nhằm phục vụ thuận lợi cho việc phân tích tác
phẩm. Sau đó đặt ra các khía cạnh có liên quan đến nội dung của bài thơ và đưa
ra các luận điểm chính. Sau khi đưa ra luận điểm chính, bước tiếp theo là sử
dụng phương pháp phân tích để phân tích, diễn giải các luận điểm ấy. Cách
phân tích ở đây là phân tích các luận điểm, tìm hiểu xem trong luận điểm chính
ấy có bao nhiêu luận cứ, trong các luận cứ ấy có những ý nhỏ nào cần giải
quyết. Khi đã có được dàn ý chính, bước tiếp theo là diễn giải các ý nhỏ đó sao
cho phù hợp với nội dung của luận điểm, đồng thời đưa ra dẫn chứng cụ thể để
chứng minh cho vấn đề đang nói nhằm thuyết phục người đọc. Trong luận văn
người viết đề cập đến nội dung thơ văn của hai nhà thơ lớn Trung Quốc là Đỗ
Phủ và Lý Bạch nên phương pháp so sánh là phương pháp không thể thiếu. Sau
khi đã tìm hiểu qua các tác phẩm của hai nhà thơ, người viết sẽ so sánh để tìm
hiểu xem thơ văn của Lý Bạch và Đỗ Phủ có những nét tương đồng và khác biệt
nào, đồng thời lý giải vì sao có sự giống và khác đó nhằm làm nổi bật nội dung
cũng như nghệ thuật của tác phẩm. Bước cuối cùng của việc nghiên cứu sau khi
phân tích, diễn giải, bình giảng là tổng hợp. Ở phương pháp này người viết sẽ
nhìn nhận, đánh giá lại một cách cô đọng, ngắn gọn về những nội dung đã
tìm hiểu.
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu để làm sáng tỏ vấn đề, mặc dù có
nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về dung lượng của luận văn, thời gian cũng
như tài liệu nghiên cứu nên công trình có thể gặp nhiều thiếu sót. Do vậy,
người viết rất mong nhận được ý kiến đóng góp, nhận xét của người đọc để
công trình nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
PHẦ
PH ẦN NỘI DUNG
CH ƯƠ NG MỘT: TÌM HI
ƯƠNG
CHƯƠ HIỂỂU CHUNG VỀ TÁC GI
GIẢẢ VÀ THƠ
THƠ
TỐNG BI ỆT
BIỆ
1. Gi thiệệu về th
ới thi
Giớ biệệt
ơ tống bi
thơ
1.1. Vài nét về thơ tống bi
thơ biệệt
Tống biệt ở đây được hiểu theo nghĩa là đưa tiễn, chia ly vì một lý do nào
đó mà có sự xa cách giữa người ra đi và người ở lại. Đề tài tống biệt là đề tài
thường gặp trong thơ văn xưa ở Trung Quốc, nhất là trong giai đoạn phát triển
hưng thịnh của thơ Đường. Nội dung thường đề cập của thơ tống biệt là lý do ra
đi và tình cảm của từng nhân vật trong thơ. Hầu như những nhà thơ nổi tiếng
đều có vài bài thơ hay về đề tài này. Dựa vào quyển 300 bài thơ Đường do Ngô
Văn Phú dịch, người viết giới thiệu một vài bài thơ tiêu biểu về đề tài tống biệt
của các nhà thơ như: Mạnh Hạo Nhiên với bài Lưu biệt Vương Duy; Vương
Xương Linh với Phù Dung lâu tống Tân Tiệm, Biệt Đổng Đại; bài thơ Tống biệt,
Tống tử châu Lý sứ quân, Võng Xuyên biệt nghiệp của Vương Duy; bài thơ
Tống Linh Triệt, Tống thượng nhân của Lưu Trường Khanh; Tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng, Tống hữu nhân của Lí Bạch; Tân hôn biệt, Vô gia biệt
của Đỗ Phủ….Các bài thơ gắn với tên tuổi của các nhà thơ nổi tiếng nói trên đã
góp phần tạo nên sự thành công và nổi bật trong thơ tống biệt của văn học
Trung Quốc.
tríí của th
1.2. Vị tr ơ tống bi
thơ đốii với nền văn học Trung Qu
biệệt đố Quốốc
Tống biệt là một đề tài thường gặp và có vị trí lớn đối với nền văn học
Trung Quốc. Để lí giải điều này ta dựa vào các giai đoạn phát triển của thơ
Đường. Thơ Đường có bốn giai đoạn phát triển: sơ Đường, thịnh Đường, trung
Đường và vãn Đường. Ta đặc biệt chú ý đến giai đoạn thịnh Đường, vì đây là
giai đoạn phồn thịnh nhất. Thơ Đường lúc này đã đạt đến sự thống nhất, hài hòa
giữa nội dung và hình thức. Những tác gia tiêu biểu của thơ Đường hầu hết đều
tập trung ở thời này như: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy,
Vương Xương Linh, Thôi Hiệu…Thơ thời thịnh Đường phong phú về nội dung
và tư tưởng tình cảm, có lúc lạc quan tươi trẻ, có lúc đăm chiêu tư lự về sự nhố
nhăng của thời đại, có lúc thét lên tiếng nói căm phẫn, cũng có lúc tự bó gối đầu
hàng. Nhiều vấn đề xã hội được các nhà thơ đề cập đến như: mâu thuẫn nội bộ
giai cấp thống trị, vấn đề tô thuế, về cuộc sống hiện thực đau khổ của nhân dân.
Mỗi nhà thơ đều có cách thể hiện khác nhau nhưng ta vẫn thấy chung một tư
tưởng, tình cảm đó là tình yêu quê hương đất nước, yêu những con người hiền
lành, yêu bạn bè, yêu thiên nhiên, phản đối chiến tranh, nói lên khát vọng hòa
bình. Các nhà thơ này đã gặp nhau và trở thành những đôi bạn thân thiết, họ có
sự đồng cảm về thời cuộc, con người, non sông đất nước. Nội dung của thơ
tống biệt cũng rất phong phú, thường nói về cuộc chia ly của đôi bạn thân thiết,
tình cảm lưu luyến của người ra đi và người ở lại, tình bằng hữu keo sơn gắn bó,
người ra đi vì chí lớn làm trai, hoặc đi ngao du sơn thủy, ngắm nhìn cảnh đẹp
quê hương, bên cạnh đó còn có sự chia ly, tiễn biệt do chiến tranh, chia ly để
lên đường bảo vệ cho sự thống nhất nhà Đường,…Chính vì thế mà ta thấy thơ
tống biệt có vị trí rất quan trọng, nó là đề tài lớn của văn học Trung Quốc, khi
nói đến thơ tống biệt là ta nói đến giai đoạn phát triển phồn thịnh của thơ ca với
các tác giả lớn thời Đường, biết đến vẻ đẹp của non sông gấm vóc và tình hình
lịch sử xã hội của đất nước Trung Hoa thời bấy giờ.
Giớ
2. Gi thiệệu về tác gi
ới thi ả
giả
2.1. Đỗ Phủ
Phủ
2.1.1. Cu đờii
ộc đờ
Cuộ
Đỗ Phủ sinh năm 712 mất năm 770, là người huyện Củng, tỉnh Hà Nam.
Xuất thân từ một gia đình Nho học, làm quan suốt mấy đời nhưng đến đời ông
thì bị sa sút trầm trọng. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời
Sơ Đường. Cha ông là Đỗ Nhàn, có làm quan.
Từ khi mới chào đời cho đến năm 746, với khoảng thời gian 35 năm, Đỗ
Phủ sống giữa thời kỳ phồn vinh của xã hội phong kiến thời Đường, cuộc sống
của ông gắn liền với công việc chính là làm thơ và ngao du sơn thủy. Đỗ Phủ là
người có trí thông minh hơn người nên ông làm thơ rất sớm, ông bắt đầu sáng
tác thơ ca vào lúc bảy tuổi, ông rất cần cù nhẫn nại với lại có tài nên đến năm
mười bốn tuổi đã trở thành nhà thơ trẻ được các bậc đàn anh mến phục.
Đỗ Phủ còn là một nhà thẩm âm thành thạo được các nhà tinh thông âm
luật như Lý Phạm, Thôi Điều, danh ca Lý Quy Niên mến chuộng. Năm hai
mươi tuổi, Đỗ Phủ bắt đầu ngao du trước sau ba lần với khoảng thời gian trên
dưới mười năm.
Lần đầu tiên viễn du ông đi suốt cả vùng Ngô Việt, Kim Lăng, Tường
Châu, Tô Châu, Sơn Âm, Tiền Đường. Năm hai mươi bốn tuổi, ông trở về Lạc
Dương thi tiến sĩ nhưng thi hỏng và sau đó tiếp tục cuộc sống ngao du.
Lần thứ hai, ông đến vùng Tề Triệu, một dải Hồ Nam, Sơn Đông, Hồ
Bắc, công việc chính của ông lúc này là ngao du và săn bắt. Đến năm 744, ông
đi về Lạc Dương và gặp Lý Bạch. Đại thi hào Lý Bạch hơn ông mười một tuổi
lúc này mới từ Trường An trở về vì sự dèm pha của Cao Lực Sĩ. Từ đó hai
người trở thành đôi bạn thân thiết cùng nhau làm thơ, uống rượu, ngắm trăng.
Lần thứ ba, Đỗ Phủ cùng Lý Bạch gặp người bạn mới là Cao Thích, cả
ba người cùng nhau đi săn bắn, uống rượu, ngâm thơ, thăm hỏi kẻ ẩn sĩ gần xa.
Sau đó Lý Bạch và Đỗ Phủ chia tay tại quận Lỗ (Duyện Châu, Sơn Đông) vào
mùa thu năm 745. Từ đó hai người không gặp nhau lần nào nữa nhưng họ vẫn
luôn theo dõi từng bước đi của nhau và tình bạn thì gắn bó suốt đời.
Những năm ngao du sơn thủy đã bồi dưỡng tinh thần lạc quan yêu đời và
lòng dũng cảm, góp phần làm phong phú nội dung và phong cách thơ ca của Đỗ
Phủ. Những bài thơ của Đỗ Phủ sáng tác trong thời kỳ này được truyền lại
không nhiều nhưng những bài như Họa ưng, Vọng nhạc, Tráng du, Phòng binh
tào hồ mã,... cho thấy phần nào tài năng của nhà thơ từ những ngày còn trẻ.
Năm 746, Đỗ Phủ trở về Trường An, kết thúc quãng đời ngao du đó đây.
Lần này ông trở về mục đích thực hiện hoài bão từ lâu ấp ủ trong lòng: “Trí
quân Nghiêu Thuấn thượng, Tái sử phong tục thuần” - ( Giúp vua vượt Nghiêu
Thuấn, Lại cho phong tục thuần) trong bài thơ Phụng tặng Vi tả thừa trượng
nhị thập nhị vận. Đó chính là ước mơ và lý tưởng chính trị của ông. Theo ông
thì con đường duy nhất để thực hiện lý tưởng đó là phải thi đỗ và làm quan.
Nhưng tiếc thay, đến đâu ông cũng vấp phải trở ngại.
Năm 751, nhân dịp Đường Huyền Tông cử hành đại lễ, Đỗ Phủ dâng lên
“Tam đại lễ phú”, được Đường Huyền Tông khen ngợi cho ghi tên vào Tiền
hiền viện, chờ bổ dụng nhưng vì bị Lý Lâm Phủ cản trở nên Đỗ Phủ chờ mãi
vẫn không có tin gì. Mãi đến năm 755, Đỗ Phủ được bổ làm Hà Tây huyện úy.
Mặc dù bao năm sống khổ cực ở đất Trường An nhưng Đỗ Phủ quyết không
nhận chức vì chức huyện úy này buộc ông phải cúi đầu vâng lệnh quan trên,
đánh đập kẻ dưới. Bị ông cự tuyệt giai cấp thống trị nhà Đường giao cho ông
chức quản lí kho quân giới. Đỗ Phủ nhận chức, ông xin phép về Phụng Tiên
thuộc tỉnh Thiểm Tây thăm gia đình. Có ngờ đâu khi vừa về đến nhà thì hay tin
đứa con đã chết vì đói.
Từ năm 746 đến năm 755, vì thất ý trên con đường công danh, lại thêm
cuộc sống gian nan cực khổ, Đỗ Phủ đã sáng tác hàng loạt bài thơ giàu tính hiện
thực xúc động lòng người. Các bài thơ như Lệ nhân hành, Binh xa hành, Xuất
tái, Vịnh hoài ngũ bách tự,... đánh dấu khởi điểm mới trong sáng tác của nhà
thơ, một bước phát triển mới trong phong cách sáng tác hiện thực phê phán.
Trong số những bài thơ sáng tác thời kỳ này có thể kể bài Tự kinh phó Phụng
Tiên vịnh hoài ngũ bách tự là bài thơ tổng kết mười năm khốn khổ trên đất
Trường An của ông.
Cùng lúc Đỗ Phủ ra làm quan thì thời cuộc cũng có những biến đổi lớn
lao. Tháng 11 năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn ở Phạm Dương và nhanh chóng
đánh xuống Lạc Dương, Đồng Quan, Trường An. Tháng 8 năm 756, nghe tin
Lý Hanh con của Đường Minh Hoàng lên ngôi ở Linh Vũ lấy hiệu Đường Túc
Tông, Đỗ Phủ đi tìm Túc Tông, giữa đường ông bị giặc bắt giải về Trường An.
Nửa năm trời sống trong vùng địch tận mắt thấy cảnh đất nước bị dày xéo, ông
viết khá nhiều bài thơ lâm ly, thống thiết như: Bi Trần Đào, Bi Thanh Bản,
Xuân vọng, Ai giang đầu,...
Tháng giêng năm 756, Đỗ Phủ không hợp tác với giặc, ông không quản
nguy hiểm tìm đường chốn khỏi Trường An tìm về Phụng Tường, nơi chính
quyền mới đóng. Sau đó, Đỗ Phủ được giữ chức Tả thập di. Tháng 9 năm 757,
quân nhà Đường lấy được Trường An, Đỗ Phủ bèn đưa gia quyến trở về Trường
An.
Ở Trường An không được bao lâu, vì dâng sớ cứu Phùng Quán thua trận
Trần Đào, nên Đỗ Phủ bị gian thần hãm hại. Tháng 6 năm 758, ông bị biếm ra
làm Tư công tham quân, một chức quan coi việc tế tự nghi lễ ở Hoa Châu. Mùa
xuân năm 759, trên đường từ Lạc Dương đi Hoa Châu, nhìn thấy cảnh đau
thương vô hạn của nhân dân ông viết sáu bài thơ nổi tiếng Tam biệt và Tam lại
được người đời truyền tụng.
Tháng 7 năm 759, Đỗ Phủ xin từ quan đưa gia đình từ Hoa Châu đến
Đồng Cốc. Tại đây, ông phải đi lượm hạt dẻ, đào hoàng tinh bao phen nhưng lại
trở về tay không, con cái đói meo kêu khóc. Ông làm bảy bài Càn Nguyên
Đồng Cốc huyện tác ca than thở cảnh khốn cùng lưu lạc, xa cách anh em. Chưa
đầy hai tháng, ông lại từ Đồng Cốc đến Thành Đô - Tứ Xuyên. Mùa xuân năm
760, nhờ sự giúp đỡ của bạn bè ông dựng mái nhà tranh bên suối Hoãn Hoa, đặt
tên là Thảo Đường. Lúc này Thành Đô chưa có nạn binh đao nên ông được
sống những ngày thư thái, đánh cờ với vợ, câu cá cùng con, uống rượu với
người trong xóm. Ông sinh sống bằng chính mảnh đất của mình, trồng cây
thuốc cây ngô. Thế là trong sáng tác xuất hiện một khoảng trời nghệ thuật mới
với vẻ đẹp hoà bình, êm ả của thiên nhiên, xoa dịu những vất vả đắng cay trong
cơn loạn lạc. Sáng tác thời kỳ này của ông chủ yếu là thể loại tuyệt cú, tả cảnh
điền viên sơn thuỷ và gửi gấm ước mơ trở về cố hương.
Tuy nhiên, cảnh yên bình ấy không kéo dài được lâu. Mùa thu năm 760
một cơn gió lốc lật mất mái tranh Thảo Đường, ông làm bài thơ nổi tiếng Mao
ốc vi thu phong sở phá ca với mơ ước có ngôi nhà lớn muôn gian để che chở
cho kẻ nghèo khắp thiên hạ. Bao giờ nhà lớn sừng sững hiện ra, riêng lều ta nát,
chịu chết rét cũng được.
Đầu năm 762 vì loạn nên ông đưa gia đình chạy loạn khắp nơi, gần hai
năm sau mới trở về lại mái nhà tranh ở Thành Đô. Được Nghiêm Vũ tiến cử,
Đỗ Phủ nhận chức Kiểm hiệu công bộ viên ngoại lang. Nghiêm Vũ mất, ông
cũng thôi việc. Lúc này bao bạn thân của ông như Lý Bạch, Cao Thích lần lượt
từ giã cõi đời, để lại cho ông nỗi buồn vô hạn.
Sau đó một mình ông phiêu bạt tới vùng Quỳ Châu. Quỳ Châu là nơi có
nhiều di tích nổi tiếng như thành Bạch Đế, Bát trận đồ của Gia Cát Võ Hầu, nhà
Tống Ngọc, Dữu Tín,... nên ông làm năm bài Chư tướng, năm bài Vịnh hoài cổ
tích, tám bài Thu hứng nổi tiếng. Trong hai năm ở Quỳ Châu ông sáng tác 437
bài thơ, chiếm ba phần mười toàn bộ thơ ca của ông, thơ luật chiếm đa số. Chất
hiện thực trong thơ ông không thay đổi, vẫn dạt dào tình cảm yêu nước, yêu dân,
tuy âm điệu có phần bi thương hơn trước. Ông bỏ công làm thơ luật nhiều hơn
trước và đã đẽo gọt, đưa thơ luật lên đến đỉnh cao của nó.
Năm 768 Đại Lịch, Đỗ Phủ rời Quỳ Châu, lênh đênh trôi dạt khắp nơi
đến Giang Lăng, Công An (Hồ Bắc), Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hồ Bắc), rồi
theo sông Tương ra Đàm Châu (Tương Đàm, Hồ Nam). Ở đây ông gặp lại danh
ca Lý Quy Niên và làm bài tuyệt cú Giang Nam phùng Lý Quy Niên nổi tiếng.
Rồi ở Đàm Châu có loạn, Đỗ Phủ lại cùng vợ con xuống thuyền đi Hành Châu
(Hành Dương, Hồ Nam), dự định theo sông Hán về Trường An. Cuộc sống đói
rét, bệnh tật, phiêu bạt cứ dày vò nhà thơ mãi. Mùa đông năm 770, vì bệnh tật
và nằm trên thuyền nghe gió thổi, Đỗ Phủ đã làm bài thơ ba mươi sáu vần
Phong tật chu trung phục chẩm thư hoài. Đó cũng là thiên tuyệt bút của nhà thơ,
vì chẳng bao lâu sau, Đỗ Phủ nhắm mắt lìa đời trong chiếc thuyền rách nát lênh
đênh trên sông Tương. Những bước thăng trầm của cuộc đời nhà thơ kết thúc.
Các nhà thơ Đường hiếm có ai nghèo khổ, lao đao và chịu ảnh hưởng của
chiến tranh và loạn lạc nhiều như ông. Sau khi Đỗ Phủ tạ thế, gia nhân vì nghèo
túng quá, đành phải tạm đặt linh cữu thi sĩ tại Nhạc Châu (Nhạc Dương, Hoài
Nam). Đến đời cháu là Đỗ Tự Nghiệp, mới đến Nhạc Châu, đem linh thần về an
táng tại chân núi Thủ Dương, ở Lạc Dương (Hà Nam), gần mộ Đỗ Dự và Đỗ
Thẩm Ngôn.
2.1.2. Sự nghi
nghiệệp sáng tác
Các bài thơ ông sáng tác đời gắn liền với cuộc đời thăng trầm của ông,
thơ Đỗ Phủ tập trung biểu hiện ba khía cạnh chủ yếu: tinh thần phản kháng
cường quyền, lòng yêu thương nhân dân và nhiệt tình yêu nước thiết tha.
Thường trong nhiều bài, ba nội dung ấy gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau tạo
nên giá trị hiện thực của thơ ca Đỗ Phủ. Tất cả đều xoay quanh một trục thống
nhất là bản thân ông. Từ chính những khổ đau của bản thân, ông hoà chung nỗi
đau của riêng mình với nỗi đau của nhân dân, của đất nước. Thơ ca của Đỗ Phủ
chính là những thiên ký sự về đời ông, một cuộc đời thăng trầm mà trầm nhiều
hơn thăng.
Đỗ Phủ kiêm gồm nhiều thể thơ từ ngũ ngôn đến thất ngôn, cổ thể đến
cận thể mà qua tay ông đều trở nên xuất sắc, nhuần nhuyễn. Thơ ông được dụng
công gọt dũa rất công phu: “Làm người tính thích câu thơ đẹp, Đọc chẳng kinh
người chết chẳng thôi” (Hí vi lục tuyệt cú). Ông sở trường về thơ ngũ ngôn,
vốn là thể khó làm hay vì câu thơ ngắn, nhịp điệu đơn giản. Nhưng ông vẫn
khéo truyền nỗi lòng chân thật, tha thiết vào thơ, nên những bài thơ ngũ ngôn
của ông dù rất dài như Vịnh hoài bách ngũ tự, Tráng du, Thuật hoài,... vẫn đầy
sức gợi cảm.
Thơ thất ngôn đến tay ông mới thật sự đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là thơ
luật, được ông chăm sóc, đẽo gọt tỉ mỉ nên trôi chảy tự nhiên, ít ai bì kịp. Đỗ
Phủ làm thơ rất dụng công, đúng như ông đã nói “Ngữ bất kinh nhân tử bất
hưu” - (Lời lẽ chưa kinh động lòng người thì chết chẳng yên). Hơn nữa, Đỗ
Phủ nắm rất vững thanh vận trong ngôn ngữ Trung Quốc và sử dụng nó để phát
huy được sức thể hiện và truyền cảm của thơ. Có những bài thơ dài hàng chục
đến trăm câu, ông chỉ dùng độc vận, cũng có thể trong một bài ngắn ông lại đổi
vần. Dùng vần trắc hay vần bằng ông đều có chủ định. Đỗ Phủ còn sáng tạo
những hình ảnh thi vị, mới mẻ, giàu sức truyền cảm, sáng tạo những ý cảnh, khí
phách rộng lớn. Ông thật xứng với danh xưng “Thi thánh” mà người đời sau
tôn tặng.
Đỗ Phủ tiếp thu có chọn lọc, kế thừa có phát huy những thành quả văn
học quá khứ rồi hun đúc thành cái của mình, sáng tạo và mới mẻ. Trong quyển
Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 1 của Dư Quang Anh có viết: “Đỗ Tử Mỹ,
trên thì làm mờ cả Phong Tao (Thi kinh, Sở từ), dưới thì kiêm cả Thẩm-Tống
(Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn), lời thơ vượt cả Tô-Lý (Tô Vũ, Lý Lăng), khí
thơ nuốt cả Tào-Lưu (Tào Thực, Lưu Côn), che khuất đỉnh cao Nhan-Tạ (Nhan
Diên, Tạ Linh Vận), nhuộm cả dòng thắm Dữu -Từ (Dữu Tín, Từ Lăng), có
được tất cả thể chế của cổ kim, và hết thảy cái đặc sắc của từng thi sĩ. Người
làm thơ xưa nay chưa từng có ai như Đỗ Tử Mỹ” ( Nguyên Chẩn: Đường cố
kiểm hiệu công bộ viên ngoại lang Đỗ Quân mộ hệ minh).[5; tr.529]
Đỗ Phủ đã để lại cho đời hơn 1400 bài thơ, được phân thành hai loại lớn
đó là cổ thể thi và cận thể thi. Cổ thể thi là loại thơ tự do, cận thể thi là loại thơ
cách luật.
Cổ thể thi: có đến 416 bài. Trong đó ngũ ngôn cổ thể 271 bài, thất ngôn
cổ thể 145 bài.
Cận thể thi: có 1037 bài. Trong đó luật thi có 772 bài, bài luật có 127
bài, tuyệt cú có 138 bài (31 bài ngũ ngôn, 107 bài thất ngôn).
2.1.3. Thơ tống bi
Thơ biệệt của Đỗ Phủ
Phủ
Ở quyển Thơ Đỗ Phủ do Nhượng Tống dịch ta biết được 7 bài thơ tống
biệt của Đỗ Phủ (kể cả nhóm thơ Tam biệt nổi tiếng) như: Biệt Tán Thương
nhân, Binh xa hành, Tiền xuất tái, Chùa Huệ Nghĩa tống Tân Viên ngoại; Tân
hôn biệt; Vô gia biệt; Thùy lão biệt . Đỗ Phủ tuy xuất hiện muộn hơn nhưng thơ
ông là nguồn bổ sung quan trọng làm cho thơ Đường đạt đến đỉnh cao nhất.
Mặc dù Đỗ Phủ sáng tác chủ yếu vào lúc xã hội đời Đường đã xuống dốc về
chính trị nhưng thơ ông vẫn mang đặc điểm của phong trào thơ ca thịnh Đường
nên vẫn ghép vào thơ ca thịnh Đường. Bởi thế, tuy các vấn đề trong thơ tống
biệt của Đỗ Phủ và Lý Bạch có khác nhau nhưng không thể tách rời, ngược lại
còn bổ trợ cho nhau làm cho nội dung càng thêm phong phú, khi đó ta sẽ hiểu
nhiều hơn về sự tiễn biệt, lý do ra đi của các nhân vật trong tác phẩm.
2.2. Lý Bạch
2.2.1. Cu đờii
ộc đờ
Cuộ
Qua một số tài liệu đã khảo sát về Lý Bạch, người viết rút ra được những
nét cơ bản về cuộc đời Lý Bạch như sau:
Lý Bạch sinh năm 701, mất năm 762, tự là Thái Bạch, hiệu Thanh Liên
cư sĩ. Vấn đề sinh quán của ông lâu nay được nhiều người bàn cãi. Người thì
cho ông là người tỉnh Cam Túc, người nói quê ở Tứ Xuyên, Sơn Đông, cũng có
người cho rằng ông là người ngoại tộc. Có ý kiến cho rằng: Lý Bạch quê ở
Thành Kỷ, Lũng Tây (nay gần huyện Thiên Thủy, tỉnh Cam Túc), sinh trưởng ở
làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, thuộc Miên Châu, (nay là huyện Miên
Dương, Tứ Xuyên). Hiện nay chưa có ý kiến nào thống nhất. Ta chỉ biết khi gia
đình ông đến Tứ Xuyên thì ông đã lên năm tuổi. Thành phần gia đình Lý Bạch
cũng là vấn đề còn bàn cãi. Hiện nay có người cho rằng ông thuộc thành phần
địa chủ quý tộc. Cũng có người cho rằng ông là con của một nhà buôn lớn.
Hồi nhỏ Lý Bạch rất thông minh. Lên năm tuổi, ngoài sách Nho gia, ông
còn đọc nhiều sách khác. Mười tuổi đã đọc Bách gia chư tử, mười lăm tuổi học
múa kiếm và sáng tác văn chương. Ông yêu thích cuộc sống hào hiệp gửi thân
vào chốn muôn đao, giết người giữa chốn bụi hồng, mới mười lăm tuổi đã giỏi
múa kiếm, vì phong trào học đạo múa kiếm thời này gắn với không khí cuộc
sống của lữ khách.
Phong trào viễn du thời Đường rất thịnh, nhiều nhà thơ như Cao Thích,
Sâm Tham, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,…đều sống qua những ngày viễn du. Vì thế,
từ năm 20 đến năm 24 tuổi, Lý Bạch cũng đã viễn du trên đất Tứ Xuyên. Là
người giàu tình cảm, thích đi ngao du để biết đây biết đó, những khung cảnh
đẹp đẽ lãng mạn khi lên núi ngắm trăng thưởng nguyệt với gió mát trăng thanh,
khung cảnh núi non và thiên nhiên rộng rãi, tươi đẹp bao la đó đã gieo vào lòng
thi nhân tình cảm man mác bay bổng. Trong bốn năm ở Tứ Xuyên, ông đã làm
quen với lối nhìn bao la, rộng rãi, tiếp xúc giữa cảnh với người.
Năm 25 tuổi ôm ấp trong mình một chí lớn, một lý tưởng cao đẹp đó là
phải có ý chí đi muôn nơi nên ông đã từ biệt cha mẹ rời xa quê hương để đi viễn
du. Mục đích của việc đi viễn du để tiếp xúc với nhiều người, nhất là những
người có vai vế, để làm cho mình lừng lẫy tiếng tăm và sẽ có người tiến cử vào
triều tham gia chính trị.
Rời Tứ Xuyên, ông đi qua Hồ Bắc, Hồ Nam, Sơn Đông, Sơn Tây, Giang
Tô, An Huy, Chiết Giang (kể theo các tỉnh ngày nay) tức là các khu vực trung
và hạ lưu Trường Giang và Hoàng Hà. Những danh lam thắng cảnh nơi đây đều
có ghi dấu chân của nhà thơ phóng đãng đó. Ông đã làm thân được nhiều bạn
hữu, hoặc quan lại địa phương hoặc những nhân vật lạc phách anh hùng, đồng
thời cũng thấy được phần nào cuộc sống của nhân dân. Từ Hồ Bắc đi tới Tương
Dương, rồi ở lại Tương Dương trong thời gian ngắn ngủi, ông đã viết Tương
Dương khúc và Tương Dương ca. Ông đi tới Yên Lục ( Hồ Bắc) được ba năm
thì kết hôn với cháu gái quan tể tướng Hứa Vũ Sư. Năm ấy ông được 27 tuổi,
lấy đất Yên Lục làm trung tâm để du lãm nhiều nơi khác và khi trở về lại nghỉ
ngơi ở đấy.
Thời gian ở Hồ Bắc ông đã gặp nhà thơ Mạnh Hạo Nhiên, Mạnh Hạo
Nhiên lớn hơn ông 11 tuổi và lúc này đã ở ẩn, uống rượu ngâm thơ. Tuy tuổi ha
nhà thơ cách nhau khá nhiều nhưng Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên nhanh chóng
trở thành đôi bạn thân thiết. Lý Bạch đã làm nhiều bài thơ tặng Mạnh Hạo
Nhiên, trong đó có bài thơ Tặng Mạnh Hạo Nhiên, Lý Bạch đã viết: “ Ta yêu
Mạnh Hạo Nhiên, phong lưu thiên hạ biết”. Ngoài ra, những nhà thơ đời
Đường làm bạn với Lý Bạch có Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh, Đỗ Phủ,
Gia Chí, Hạ Tri Chương. Tình bạn giữa ông và Mạnh Hạo Nhiên được thể hiện
sâu sắc trong bài thơ Tống Mạnh Hạo Nhiên chi quảng lăng.
Lý Bạch đi viễn du đến nay đã chẵn mười năm từ khi lấy đất Yên Lục
làm trung tâm. Trong khoảng thời gian đó Lý Bạch đi tới nhiều nơi như An Huy,
Giang Tô, Chiết Giang. Mười năm này là mười năm Lý Bạch uống rượu và ở ẩn
liên tiếp, nhưng đó lại là dịp đi sâu vào xã hội, tích lũy thêm nhiều nguồn sáng
tác, lúc trước đề tài thơ Lý Bạch thường ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên nhưng giờ
đây thơ ông đã mở rộng phạm vi đề tài để viết về xã hội.
Năm 42 tuổi, Lý Bạch gặp đạo sĩ Ngô Quân ở Thái Sơn. Sau đó, Lý
Bạch được tiến cử vào triều đình và ở đó trong vòng ba năm. Nhưng ba năm ở
Trường An, nhà thơ đã chính mắt nhìn thấy cuộc sống xa hoa của bọn thượng
lưu quý tộc. Căm phẫn bọn này, thấy lý tưởng của mình khó lòng mà thực hiện
nổi, nên ông xin vua cho ra khỏi cung đình.
Sau khi rời khỏi triều đình, Lý Bạch đi về phía Lạc Dương, ở đây ông đã
gặp Đỗ Phủ. Lúc này Đỗ Phủ mới 33 tuổi, kém Lý Bạch 11 tuổi. Lý Bạch đã
nổi tiếng trên toàn quốc còn Đỗ Phủ thì chưa thành danh. Hai nhà thơ gặp gỡ
nhau và họ đã trở thành đôi bạn thân thiết, vì Lý Bạch rất có tài và nổi tiếng nên
Đỗ Phủ rất mến mộ tài năng của Lý Bạch. Không bao lâu hai người đi tới Khai
Phong, đến đây họ đã gặp nhà thơ Cao Thích. Cả ba người cùng nhau sang Sơn
Đông săn bắn.
Chia tay với Đỗ Phủ, Năm 755 loạn An Lộc Sơn nổ ra. Lý Bạch tham
gia quân đội của Lý Lân năm 755 (loạn An Lộc Sơn), ông bị bắt và kết tội
chem.. May có ân nhân cũ Quách Tử Nghi xin nên ông thoát khỏi tội chết, sau