Tiền tệ và chính sách tiền tệ

  • 35 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
I. KHÁI QUÁT CHUNG
Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc
điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung. Kinh tế học vĩ mô và kinh tế
học vi mô là hai lĩnh vực chung nhất của kinh tế học. Trong khi kinh tế học vi mô chủ yếu
nghiên cứu về hành vi của các cá thể đơn lẻ, như công ty và cá nhân người tiêu dùng, kinh
tế học vĩ mô lại nghiên cứu các chỉ tiêu cộng hưởng như GDP, tỉ lệ thất nghiệp, và các chỉ
số giá cả để hiểu cách hoạt động của cả nền kinh tế.
Kinh tế học vĩ mô là một lĩnh vực tổng quát nhưng có hai khu vực nghiên cứu điển
hình:
 Nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của biến động ngắn đối với thu nhập quốc
gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế).
 Nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các chuyên gia kinh tế học vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ
giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết
kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia, các chính sách ổn định kinh
tế vĩ mô của chính phủ. Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra được cả chính
1
phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế
và các chiến lược quản trị.
Lịch sử đã chứng minh rằng, các nền kinh tế thị trường thành công nhất đều không
thể phát triển một cách tự phát nếu thiếu sự can thiệp và hỗ trợ của Nhà nước. Các nền
kinh tế thị trường nguyên thuỷ dựa trên cơ sở sản xuất và trao đổi giản đơn có thể hoạt
động một cách có hiệu quả mà không cần sự can thiệp của Nhà nước. Tuy nhiên, vì nền
kinh tế tăng trưởng dưới tác động bên ngoài ngày một phức tạp nên sự can thiệp của Nhà
nước xuất hiện như một tất yếu cho sự hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế thị trường.
Trong các nền kinh tế thị trường đã Phát triển, Nhà nước có 3 chức năng kinh tế rõ rệt là:
can thiệp, quản lý và điều hoà phúc lợi. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, song sự
điều tiết của Nhà nước vẫn là một trong các hoạt động của nền kinh tế thị trường. Theo
đó, thị trường tự do với đúng nghĩa của nó không thể tồn tại, ngoại trừ trong các lý thuyết
kinh tế.
Quả thực, không thể phủ nhận vai trò của Nhà nước trong các lĩnh vực như: ổn
định kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tài chính và tiền tệ.
- Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách của Nhà
nước nhằm điều tiết chu kỳ kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn định giá cả và tăng
trưởng liên tục của nền kinh tế.
- Chính sách tiền tệ là quá trình quản lý hỗ trợ đồng tiền của chính phủ hay ngân
hàng trung ương để đạt được những mục đích đặc biệt- như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn
định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế. Chính sách lưu
thông tiền tệ bao gồm việc thay đổi các loại lãi suất nhất định, có thể trực tiếp hay gián
tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; qui định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi
trên thị trường ngoại hối.
Sau đây em xin trình bày những vấn đề chính của chính sách tiền tệ. Mục tiêu là
tìm hiểu về thị trường tiền tệ; Tìm hiểu chính sách tiền tệ mà chính phủ đã sử dụng để
điều tiết nền kinh tế vĩ mô.
II. NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH
- Tìm hiểu khái quát về tiền tệ
- Các hình thái tiền tệ
2
- Các chức năng của tiền tệ
- Cung tiền tệ
- Cầu tiền tệ
- Tác động của tiền tệ đối với hoạt động kinh tế
- Cân bằng trên thị trường tiền tệ
- Tìm hiểu khái quát về ngân hàng
- Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
- Phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài chính
- Chính sách tiền tệ năm 2010
1. Tìm hiểu khái quát về tiền tệ
a) Tính chất và nguồn gốc của tiền tệ
 Tính chất của tiền tệ
Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, tiền tệ (hay tiền trong lưu thông)
phải có các tính chất cơ bản sau đây:
 Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ, người
dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽ không được coi là
tiền nữa. Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ương phát hành cũng sẽ mất đi bản
chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát, người ta không chấp nhận nó như là một
phương tiện trao đổi.
 Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết, người
ta có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng. Chính vì thế những tờ giấy bạc do
ngân hàng trung ương phát hành được in ấn trông không giống bất cứ một tờ giấy chất
lượng cao nào khác.
 Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau sao cho
người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanh toán bằng một loại
tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại. Tính chất này giúp cho tiền tệ khắc
phục được sự bất tiện của phương thức hàng đổi hàng: nếu một người mang một con bò đi
đổi gạo thì anh ta phải nhận về số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có
được những thứ khác cũng cần thiết không kém.
3
 Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữ giá
trị cũng như mới có ích trong trao đổi. Một vật mau hỏng không thể dùng để làm tiền,
chính vì vậy những tờ giấy bạc được in trên chất liệu có chất lượng cao còn tiền xu thì
được làm bằng kim loại bền chắc.
 Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mang theo,
tiền tệ phải dễ vận chuyển. Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc và những đồng xu có kích
thước, trọng lượng rất vừa phải chứ tiền giấy không được in khổ rộng ví dụ như khổ A4.
 Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm vì
nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩa trong việc cất trữ
giá trị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa. Vì thế trong lịch sử những kim loại
hiếm như vàng, bạc được dùng làm tiền tệ và ngày nay ngân hàng trung ương chỉ phát
hành một lượng giới hạn tiền giấy và tiền xu.
 Tính đồng nhất: tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhau không
phân biệt người ta tạo ra nó lúc nào, một đồng xu 5.000 VND được làm ra cách đây 2
năm cũng có giá trị như một đồng xu như thế vừa mới được đưa vào lưu thông. Có như
vậy tiền tệ mới thực hiện chức năng là đơn vị tính toán một cách dễ dàng và thuận tiện
trong trao đổi
 Nguồn gốc tiền tệ
Từ rất sớm trong lịch sử loài người đã xuất hiện nhu cầu phải có một hình thức tiền
tệ làm trung gian trao đổi.
Ngày nay, chúng ta sử dụng cả tiền xu và tiền giấy, nhưng thực tế không phải lúc
nào cũng vậy. Trước khi những đồng tiền kim loại và tiền giấy có mặt, con người đã sử
dụng nhiều thứ khác thường để mua thứ họ cần, Chẳng hạn, ở một nơi nọ trên thế giới,
người ta sử dụng răng cá mập như là tiền. Ở nhiều nơi khác, tiền có thể là những chiếc
lông chim sặc sỡ và những chiếc vỏ sò quý hiếm. Có nơi người ta còn dùng cộng lông
cứng trên đuôi voi để làm tiền. Lông chim là loại tiền nhẹ nhất từ trước đến nay. Chúng
được sử dụng trên đảo Santa Cruz. Đá là loại tiền nặng nhất từ trước đền giờ. Chúng
được sử dụng trên đảo Yap ở Thái Bình Dương. Có hòn nặng trên £500 (1£ = 0,4536
kg). Loại tiền nhỏ nhất từ trước đến nay được phát hiện ở Hy Lạp. Tiền được làm bằng
kim loại, nhưng có kích thước nhỏ hơn hạt táo. Không ai biết chính xác người ta bắt đầu
4
sử dụng tiền dưới những hình thức đồng tiền kim loại từ khi nào. Các nhà khảo cổ đã
phát hiện những đồng tiền kim loại có từ năm 600 trước công nguyên, vì thế ta biết chúng
đã được lưu hành trong suốt một thời gian dài. Lúc đầu người ta sử dụng những kim loại
quý như vàng và bạc để chế tiền xu. Họ in hình người hoặc (con) thú trên mỗi đồng tiền
để xác định giá trị của nó. Trong những năm 1200, người Trung Quốc đúc những đồng
tiền bằng sắt. Những đồng tiền này giá trị chẳng là bao, cho nên người dân phải sử dụng
một số lượng lớn khi mua hàng. Do đó rất bất tiện khi phải mang một số lượng lớn những
đồng tiền sắt nặng nề nên chính phủ đã cho in những giấy biên nhận. Người ta mang các
biên nhận này đến ngân hàng để đổi ra tiền xu. Đây là ví dụ đầu tiên ta có được về việc
phát hành và sử dụng tiền giấy. Ngày nay, hầu hết các nước đều sử dụng cả tiền xu lẫn
tiền giấy. Ở Mỹ, các loại tiền giấy đều có cùng kích cỡ và màu sắc như nhau. Chẳng hạn,
tờ một đô la có cùng kích cỡ và màu sắc y như tờ một trăm đô la. Ở nhiều quốc gia khác,
tiền giấy được in dưới nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau. Tờ có kích thước nhỏ hơn thì
có giá trị thấp hơn. Việc này tạo điều kiện cho chúng ta chỉ cần nhìn thoáng qua là có thể
xác định được giá trị của chúng. Tất cả những sự kiện này khiến lịch sử tiền tệ trở thành
một công cuộc nghiên cứu lý thú.
b. Khái niệm tiền tệ
Tiền tệ là bất cứ một phương tiện nào được thừa nhận chung để thanh toán cho
việc giai hàng hoặc để thanh toán nợ nần.
Tiền tệ là tiền khi chỉ xét tới chức năng là phương tiện thanh toán, là đồng tiền
được luật pháp quy định để phục vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay
nền kinh tế. Vì định nghĩa như vậy, tiền tệ còn được gọi là "tiền lưu thông". Tiền tệ có
thể mang hình thức tiền giấy hoặc tiền kim loại (tiền xu) do Nhà nước (ngân hàng trung
ương, Bộ Tài chính, v.v...) phát hành.
Khi phân biệt tiền tệ của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác, người ta dùng
cụm từ "đơn vị tiền tệ". Đơn vị tiền tệ của nhiều quốc gia có thể có cùng một tên gọi (ví
dụ: dollar, franc...) và để phân biệt các đơn vị tiền tệ đó người ta thường phải gọi kèm
tên quốc gia sử dụng đồng tiền (ví dụ: dollar Úc). Với sự hình thành của các khu vực tiền
tệ thống nhất, ngày nay có nhiều quốc gia dùng chung một đơn vị tiền tệ như đồng EUR.
Đơn vị tiền tệ của Việt nam được gọi là đồng, ký hiệu dùng trong nước là "đ", ký hiệu
5
quốc tế là VND, đơn vị nhỏ hơn của đồng là hào (10 hào = 1 đồng) và xu (10 xu = 1
hào). Tiền tệ là phương tiện thanh toán pháp quy nghĩa là luật pháp quy định người ta
bắt buộc phải chấp nhận nó khi được dùng để thanh toán cho một khoản nợ được xác lập
bằng đơn vị tiền tệ ấy. Một tờ séc có thể bị từ chối khi được dùng để thanh toán nợ nhưng
tiền giấy và tiền kim loại thì không. Tuy nhiên tiền kim loại có thể là phương tiện thanh
toán pháp quy bị luật pháp của một quốc gia giới hạn không vượt quá một số lượng đơn
vị tiền tệ nào đó tuỳ theo mệnh giá của những đồng tiền kim loại ấy. Theo luật pháp của
Việt nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới
hạn.
Ngoài ra trong kinh tế học còn có một số khái niệm về tiền:
 Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại. Có khả năng thanh toan
cao nhất.
 Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại
nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dễ dàng
chuyển thành tiền mặt.
 Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái
phiếu, kỳ phiéu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.
2. Các hình thái tiền tệ
Nghiên cứa lịch sử phát sinh và phát triển của tiền tệ cho thấy tiền tệ đã trải qua
nhiều hình thái. Sau đây là các hình thái cơ bản của tiền tệ.
a. Hóa tệ
Một hàng hóa nào đó giữ vai trò làm vật trung gian trao đổi được gọi là hóa tệ. Hóa
tệ bao gồm: Hóa tệ không kim loại và hóa tệ bằng kim loại
 Hóa tệ không kim loại
Sản xuất và trao đổi hàng hoá ngày càng phát triển. Sự trao đổi không còn ngẫu
nhiên, không còn trên cơ sở của định giá giản đơn. Trao đổi đã vượt khỏi cái khung nhỏ
hẹp một vài hàng hoá, giới hạn trong một vài địa phương. Sự trao đổi ngày càng nhiều
hơn đó giữa các hàng hoá đòi hỏi phải có một hàng hoá có tính đồng nhất, tiện dụng trong
vai trò của vật ngang giá, có thể tạo điều kiện thuận lợi trong trao đổi, và bảo tồn giá trị.
Những hình thái tiền tệ đầu tiên có vẻ lạ lùng, nhưng nói chung là những vật trang sức
6
hay những vật có thể ăn. Thổ dân ở các bờ biển Châu Á, Châu Phi, trước đây đã dùng vỏ
sò, vỏ ốc làm tiền. Lúa mì và đại mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở
quần đảo Philippines. Trước Công nguyên, ở Trung Quốc kê và lụa được sử dụng làm
tiền…
Tiền tệ bằng hàng hoá có những bất tiện nhất định của nó trong quá trình phục vụ
trao đổi như không được mọi người mọi nơi chấp nhận, dễ hư hỏng, không đồng nhất …
do đó dẫn đến việc sử dụng hoá tệ bằng kim loại.
 Hóa tệ bằng kim loại
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển kèm theo sự mở rộng phân công lao
động xã hội, đồng thời với sự xuất hiện của Nhà nước và giao dịch quốc tế thường xuyên,
kim loại ngày càng có những ưu điểm nổi bậc trong vcai trò của vật ngan giá bởi những
thuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến, Những đồng tiền bằng kim loại: đồng, chì, kẽm,
thiếc, bạc, vàng…xuất hiện thay thế cho các hóa tệ không kim loại.
- Lịch sử phát triển của tiền kim loại quý đã trải qua ba biến cố chủ yếu, quyết
định đến việc sử dụng phổ biến tiền bằng kim loại quý.
- Sự gia tăng dân số và phát triển đô thị ở các nước Châu Âu từ thế kỷ XIII đưa
đến sự gia tăng nhu cầu trao đổi.
- Các mỏ vàng ở Châu Âu không đủ cung ứng.
- Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bạch kim loại bị mất giá, trong thời gian dài
vàng, bạc song song được sử dụng làm tiền; các nước Châu Âu sử dụng cả vàng lẫn bạc.
Chỉ các nước Châu Á mới sử dụng bạc (do không đủ vàng) đến cuối thế kỷ XIX bạc ngày
càng mất giá do vậy các nước Châu Âu và cả Hoa Kỳ quyết định và sử dụng vàng, các
nước Chấu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Hoa do lệ thuộc sự nhập cảng nguyên liệu
máy móc… từ Phương Tây nên cũng bãi bỏ bạc sử dụng vàng. Ở Đông Dương, bạc được
sử dụng làm tiền từ 1885 đến 1931. Đến năm 1931 đồng bạc Đông Dương từ bản vị bạc
sang bản vị vàng, có thể cho rằng, khoảng từ 1935 chỉ còn một kim loại quý được tất cả
các nước chấp nhận làm tiền trên thế giới là vàng.
b. Tín tệ
Tín tệ được hiểu là thứ tiền tự nó không có giá trị nhưng do sự tín nhiệm của mọi
người mà nó được lưu dụng. Tín tệ có thể bao gồm tiền bằng kim loại và tiền giấy.
7
- Tiền bằng kim loại thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái
hoá tệ. Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giá trị danh
nghĩa.
- Tiền giấy bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán.
- Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc ký
thác ở ngân hàng. Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổi
lấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy khả hoán đó.
Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy. Vì những nhu cầu mua bán, các
thương gia hình thành từng thương hội có nhiều chi nhánh ở khắp các thị trấn lớn. Các
thương gia ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận giấy chứng nhận của
hội sở thương hội, với giấy chứng nhận này các thương gia có thể mua hàng ở các thị trấn
khác nhau có chi nhánh của thương hội, ngoài loại giấy chứng nhận trên triều đình nhà
Tống còn phát hành tiền giấy và được dân chúng chấp nhận.
Ở Việt Nam vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy.
Nhân dân ai cũng phải nộp tiền đồng vào cho Nhà nước, cứ 1 quan tiền đồng đổi được 2
quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quý Ly thất bại vì nhà Hồ sớm bị lật đổ,
dân chưa quen sử dụng tiền giấy và sai lầm khi xác định quan hệ giữa tiền đồng và tiền
giấy (bao hàm ý nghĩa tiền giấy có giá trị thấp hơn).
Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ các
nước Châu Âu. Từ đầu thế kỷ thứ XVII, ở Hà Lan ngân hàng Amsterdam đã cung cấp cho
những thân chủ gởi vàng vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm nhiều tờ
nhỏ.Khi cần, có thể đem những tờ nhỏ này đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng.Trong
thanh toán cho người khác các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận.Sau đó một ngân hàng
Thụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay.Từ đó ngân hàng
Palmstruch có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có.Với nhiều loại tiền giấy được phát
hành, lưu thông tiền tệ bị rối loại vì nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiệt hại cho
dân chúng. Do đó, vua chúa các nước phải can thiệp vì cho rằng việc đúc tiền từ xưa là
vương quyền và mặt khác việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi to lớn. Vương quyền
các nước Châu Âu thừa nhận một ngân hàng tự có quyền phát hành tiền giấy với những
điều kiện nhất định:
8
+ Điều kiện khả hoán: có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng phát hành.
+ Điều kiện dự trữ vàng là đảm bảo: ban đầu là 100%, sau còn 40%.
+ Điều kiện phải cho Nhà nước vai không tính lãi khi cần thiết.
- Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không thể
đem tiền giấy này đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc.
Nguồn gốc của tiền bất khả hoán là bởi những nguyên nhân sau:
+ Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn đủ vàng để
đổi cho dân chúng.Nước Anh từ năm 1931 đã cưỡng bức lưu hành tiền giấy bất khả hoán,
nước Pháp năm 1936.
+ Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 dẫn đến ở nước Đức mọi người đua
nhau rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng trả nợ nước ngoài và
do đó số trữ kim gần như không còn.Tiến sĩ Schacht (1933 – 1936) đã áp dụng chính sách
tiền tài trợ bằng cách phát hành trái phiếu, để tài trợ sản xuất và những chương trình kinh
tế, xã hội lớn.Biện pháp này làm giảm 50% thất nghiệp, sản xuất tăng 41% (1934).Từ đó,
nhiều nhà kinh tế cho rằng giá trị tiền tệ không phải dựa vào dự trữ vàng như các quan
điểm trước đây.
c. Bút tệ
Bút tệ là một hình thái tiền tệ được sử dụng bằng cách ghi chép trong sổ sách kế
toán của Ngân hàng.Bút tệ xuất hiện lần đầu tại nước Anh,vào giữa thế kỷ XIX. Để tránh
những quy định chặt chẽ trong việc phát hành giấy bạc, các nhà ngân hàng Anh đã sáng
chế ra hệ thống thanh toán qua sổ sách ngân hàng.Bút tệ ngày càng có vai trò quan trọng,
ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển và hệ thống ngân hàng phát triển, người dân có
thói quen sử dụng bút tệ.
d. Tiền điện tử
Có nhiều tên gọi cho thứ tiền này: tiền nhựa, tiền thông minh…Đây có phải là một
hình thái tiền tệ không là vấn đề chưa thống nhất. Một số quan điểm cho rằng đây chỉ là
“phương tiện chi trả mới”, sự “chuyển dịch vốn bằng điện tử”
3. Các chức năng của tiền tệ
a. Chức năng phương tiện trao đổi
9
Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trong việc
trao đổi các hàng hóa, dịch vụ. Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lí do tại
sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa.
Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ
bán và mua với một người khác. Điều đó sẽ đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người
tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm liếm
như vậy là quá cao. Vì vậy, người ta cần sử dụng tiền làm môi giớitrong quá trình này, tức
là người ta trước hết sẽ đổi hàng hóa của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hóa
mình cần. Rõ ràng việc thực hiện lần lược các giao dịch bán và mua với hai người sẽ đễ
dàng hơn nhiều so với việc thực hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người.
Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất
định:
- Được chấp nhận rộng rải: nó phải được con người chấp nhận rộng rải trong lưa
thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hóa mới đồng ý đổi
hàng lấy tiền;
- Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc trao đổi giữa các hàng hóa có
giá trị khác nhau;
- Dễ vận chuyển;
- Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;
- Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong trao
đổi;
- Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngan nhau.
b. Chức năng đơn vị đánh giá
Chức năng thứ hai của tiền là đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn
vị để đo giá trị của hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế. Trong chức năng này giá trị của
các hàng hóa được biểu hiện nằmg tiền. Nhờ đó mà việc trao đổi hàng hóa được diển ra
thuận lợi hơn.
Là một đơn vị đánh giá, nó tạo ra cơ sở thuận lợi cho việc sữ dụng tiền làm phương
tiện trao đổi. Nhưng củng chính trong quá trình trao đổi, sử dụng tiền làm trung giang, các
tỉ lệ trao đổi được hình thành theo tập quán tức là ngay từ khi mới ra đời, việc sử dụng
10
tiền làm phương tiện trao đổi đã dẩn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá. Đầu tiên
những phương tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hóa củng có giá trị
như các hàng hóa khác. Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hóa khác chính là
tiền củng có giá trị sử dụng như các hàng hóa khác (theo phân tích của C.Mác về sự phát
triển của các hình thái biểu hiện giá trị hàng hóa: giá trị hàng hóa được biểu hiện ở giá trị
sử dụng của hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá chung). Vì vậy, trong thời
đại ngày nay, mặc dù các phương tiện được sử dụng là tiền không có giá trị như các hàng
hóa khác nhưng nó được mọi người chấp nhận trong lưa thông (có giá trị sử dụng đặc
biệt), do đó vẩn được sử dụng để đánh giá giá trị các hàng hóa. Trong bất kể nền kinh tế
tiền tệ nào, việc sử dụng tiền làm đơn vị đo lường giá trị điều mang tính chất trừu tượng,
vừa mang tính pháp lí, vừa có tính quy ước.
c. Chức năng phương tiện dự trữ giá trị
Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian. Khi
người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu
ngay, tiền là một phương tiện dùng cho việc cất giữ sức mua trong các trường hợp này
hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải.
Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tùy thuộc
vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng
hóa mà nó có thể đổi được. Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại.
Sự mất giá nhanh chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy
ra khi lạm phát cao. Vì vậy, để tiền thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sức mua của tiền
phải ổn định.
d. Phương tiện thanh toán
Trong một nền kinh tế không có một chuẩn mực đo giá trị chung (thí dụ như là
tiền) thì một giao dịch thành công giữa 2 vật trong kinh tế đòi hỏi các nhu cầu trao đổi
phải phù hợp với nhau. Một thí dụ: Một người nông dân muốn bán ngũ cốc và cần dụng
cụ. Một thợ thủ công muốn đổi dụng cụ để lấy thịt. Giữa 2 người này sẽ không bao giờ có
một cuộc mua bán trao đổi vì ý định bán của người nông dân không phù hợp với ý định
mua của người thợ thủ công. Cả hai người có thể phải tìm kiếm rất lâu cho đến khi gặp
được một người có ý định giao dịch phù hợp. Cùng với tiền quá trình này được đơn giản
11
hóa đi rất nhiều: Người nông dân có thể bán ngũ cốc cho một người thứ ba và dùng tiền
thu được dể đổi lấy dụng cụ tại người thợ thủ công. Người thợ thủ công có thể dùng tiền
thu được mua thịt tại một người thứ tư.
e. Tiền tệ thế giới
Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm
chức năng tiền tệ thế giới. Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình
thái ban đầu của nó là vàng. Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện
mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã
hội.
Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với
nhau. Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu
thông hàng hoá.
4. Cầu tiền tệ
Việc nghiên cứa cầu tiền tệ luôn được nhà kinh tế quan tâm, và nó có thể cho
những gợi ý về hoạch định chính sách của những người chịu trách nhiệm điều hành nền
kinh tế.
a. Các loại tài sản tài chính
- Tài sản giao dịch (thanh khoản) không tạo ra thu nhập, nhưng được dùng để
thanh toán khi mua hàng hóa và dịch vụ…
- Các tài sản tài chính khác tạo ra thu nhập (tín phiếu, cổ phiếu, sổ tiết kiệm…)
nhưng không thể dùng trực tiếp để mua hàng hóa.
Hầu hết các hộ gia đình và doanh nghiệp giữ của cải của họ dưới dạng kết hợp cà 2
loại tài sản này. Trong phần này, mọi tài sản giao dịch được gọi là tiền và mọi tài sản khác
có thu nhập được gọi chung là trái phiếu.
b. Mức cầu về tiền
Khối lượng tiền cần để chi tiêu thường xuyên, đều đặn cho nhu cầu tiêu dùng cá
nhân và kinh doanh sản xuất…gọi là mức cầu về tiền (giao dịch).
Khi giá cả tăng lên, mức cầu về tiền danh nghĩa cũng tăng theo để đảm bảo thu
mua đủ khối lượng hàng hóa cần thiết đã dự định, như vậy, thực chất của mức cầu tiền tệ
là cầu về cán cân tiền tệ thực tế.
12
Mứa cầu tềin thực tế phụ thuộc vào hai nhân tố:
- Thu nhập thực tế: con người giữ một phần tài sản ở dạng tiền để có thể mua
được hàng hóa, dịch vụ. Khi thu nhập tăng, tiêu dùng cũng sẽ tăng và theo đó cầu tiền
củng tăng lên.
- Lãi suất: chi phí giữ tài sản dưới dạng tiền và thu nhập từ lãi suất mà các tài sản
có thể tạo ra nếu như để chúng dưới dạng trái phiếu. Lãi suất chính là chi phí cơ hội củ
việc giữ tiền.
Quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lãi suất và mức cầu về tiền được gọi là hàm cầu về tiền
(hàm ưa thích tiền thanh khoản).
Hàm này có dạng:
LP = kY – hi
Trong đó:
LP: mức cầu về tiền thực tế
Y: thu nhập
i : lãi suất
k,h : các hệ số phản ánh dộ nhạy cảm của mưc cầu tiền đối với thu nhập và lãi
suất.
c. Mức cầu tài sản
Mức cầu về tài sản là mức cầu các loại tài sản chính có sinh lợi dưới dạng trái
phiếu. Các loại trái phiếu tuy sinh lợi nhưng chịu nhiều rủi ro, vì giá cả của chúng được
quyết định trên thị trường, khó dự báo trước. Giữ tiền không tạo ra lãi, nhưng không bị rủi
ro trừ trường hợp gặp lạm phát. Nhiều người chỉ định giảm mức rủi ro của họ bằng cách
đa dạng hóa các dạng tài sản vừa để tài sản ở dạng tiền, vừa để ở dạng trái phiếu. Vì vậy,
trong thực tế có thể có sự chuyển hóa mức cầu từ trái phiếu sang tiền hoặc ngược lại.
5. Mức cung tiền tệ
Để cung ứng cho nhu cầu sử dụng tiền tệ trong nền kinh tế, một số tổ chức như
NHTƯ, các ngân hàng thương mại cung ứng tiền ra lưa thông.
a. Cung ứng tiền của Ngân hàng Trung ương
NHTƯ phát hành tiền mặt chủ yếu dưới hình thức giấy bạc ngân hàng. Quá trình
này được thực hiện khi NHTƯ cho vay đối với các tổ chức tín dụng, cho vay đối với kho
13
bạc Nhà nước, mua vàng, ngoại tệ trên thị trường ngoại hối hoặc mua chính khoáng trong
nghiệp vụ thị trường mở khối lượng tiền phát hành của NHTƯ được gọi là tiền mặt hay
cơ số tiền (MB) bao gồm hai bộ phận: tiền mặt trong lưa hành (C) và tiền dự trữ của các
ngân hàng kinh doanh (R) trong đó chỉ có bộ phận tiền mặt ngoài ngân hàng mới được sữ
dụng, đáp ứng cho nhu cầu về tiền.
b. Cung ứng tiền của ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác tạo tiền chuyển khoản (D)
theo cơ chế tiền trong toàn bộ hệ thống ngân hàng. Khối lượng tiền do các tổ chức này
cung ứng được tạo ra trên cơ sở lượng tiền dự trữ nhận từ NHTƯ và các hoạt động nhận
tiền gửi cho vay và thanh toán không dùng tiền mặt của hệ thống ngân hàng. Khi NHTƯ
phát hành tiền đưa vào hệ thống ngân hàng, các ngân hàng thương mại sử dụng số tiền dự
trữ này để cho vay. Khi các doanh nghiệp hoặc dân cư vay khoản tiền đó nó được sử dụng
để thanh toán chi trả và có thể một phần hoặc toàn bộ được kí gửi trở vào một ngân hàng
với hinh thức tiền gửi không kì hạn,ngân hàng lại tiếp tục có vốn để cho vay. Như vậy, từ
lượng tiền dự trữ ban đầu, hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động của mình có thể
làm hình thành lượng tiền gửi không kì hạn rất lớn. số tiền này được các doanh nghiệp,
dân cư sữ dụng để thanh toán qua ngân hàng, vì vậy nó được tính là một bộ phận của khối
tiền giao dịch trong nền kinh tế, được sữ dụng để đáp ứng nhu cầu về tiền.
c. Mức cung tiền tệ
Khối lượng tiền giao dịch do NHTƯ và các tổ chức tín dụng cung ứng cho nền
kinh tế đáp ứng cho nhu cầu sữ dụng tiền bao gồm hai bộ phận chính là tiền mặt trong lưa
hành (C) và tiền gửi không kì hạn (D) . Tiền dự trữ của các ngân hàng kinh doanh (R).
NHTƯ với chứa năng là ngân hàng phát hành thực hiện viện kiểm soát và điều tiết
khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định thị trường, nó trực
tiếp điều chỉnh khối lượng tiền mặt đang tồn tại và kiểm soát gián tiếp việc tạo ra các
khoản tiền gửi không kì hạn của các ngân hàng thương mại. Toàn bộ khối lượng tiền cung
ứng được xác định theo hệ số tạo tiền so với lượng tiền cơ bản do NHTƯ phát hành theo
công thức :
MS = MB.m
Trong đó:
14
MS : mức cung tiền giao dịch
MB: cơ số tiền
m : hệ số tạo tiền
m= (1 + C/D)/ (rD + rE + C/D)
Với : C/D: Tỉ lệ tiền mặt trong lưa hành so với tiền gửi không kì hạn
rD :Tỉ lệ dự trữ bắt buộc
rE : Tỉ lệ dự trữ dư thừa của các NHTM
Mặc dù có rất nhiều chủ thể có tác động tới mức cung ứng tiền nhưng NHTƯ vẩn
có thể sữ dụng các công cụ của mình để điều chỉnh mức cung tiền theo ý muốn chủ quan
để thực hiện chính sách tiền tệ.
6. Tác động của tiền tệ đối với hoạt động kinh tế
Sự phân tích cung cầu tiền tệ cho thấy, trong cơ chế thị trường bất kì sự thay đổi
nào của mức cung tiền tệ cũng sẽ được thị trường điều tiết để có sự cân đối giữa mức
cung tiền tệ và mức cầu tiền tệ. Sự điều chỉnh đó không chỉ đơn thuần gây ra những thay
đổi trong mức giá chung mà còn có tác động tới nhiều hoạt động của nền kinh tế. Để thấy
rõ hơn vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế, chúng ta đi vào xem xét tác động của tiền tệ
tới các hoạt động kinh tế.
Theo mô hình tổng cung-tổng cầu (AD - AS), sự thay đổi của AD dẩn đến sự thay
đổi của sản lượng và giá cả. Khi tổng cầu tăng sẽ làm tăng sản lượng và mức giá cả,
ngược lai việc giảm AD có thể dẩn tới sự sụt giảm sản lượng và làm lạm phát giảm.
Sự tác động của tiền tệ tới hoạt động kinh tế được thể hiện thông qua sự tác động
tới các bộ phận của tổng cầu bao gồm những tác động tới chi tiêu đầu tư, chi tiêu tiêu
dùng và buôn bán quốc tế.
a. Chi tiêu đầu tư
Sự thay đổi của Ms tác động tới I thông qua:
- Chi phí đầu tư.
Việc thu hẹp của mức cung tiền tệ của NHTƯ (Ngân hàng Trung ương) sẽ đẩy lãi
suất tăng lên, chi phí tài trợ cho các hoạt động đầu tư có thể tăng lên dẩn tới giảm lượng
đầu tư, AD suy giảm làm giảm sản lượng và giá cả.
15
Ngược lại khi NHTƯ mở rộng tiền tệ, lãi suất cân bằng của thị trường giảm đi, chi
phí đầu tư rẻ hơn có thể mở rộng đầu tư, tổng cầu tăng làm tăng sản lượng và giá cả. Tuy
nhiên lãi suất không thể đại diện đầy đủ cho chi phí đầu tư nên những tác động này có thể
không rỏ ràng.
- Sự sẳn có của các nguồn vốn
Khi chính sách tiền tệ là thắt chặt, mức cung tiền giảm, mặc dù lãi suất có thể thay
đổi rất ít nhưng khả năng cho vay của các ngân hàng có thể giảm (rD tăng). Việc hạn chế
tín dụng của các ngân hàng thương mại làm cho chi tiêu đầu tư giảm xuống dẩn tới AD
giảm. Khi NHTƯ mở rộng tiền tệ, có thể làm tăng khả năng cho vay của các ngân hàng
thương mại, làm cho chi tiêu đầu tư tăng lên. Sự tác động này được thể hiện rỏ ở sơ đồ:
Ms ↑ → khả năng cho vay ↑ → I ↑ → AD ↑ → thu nhập và giá cả ↑
Tuy nhiên khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại được mở rộng không
đồng nghĩa với việc nguồn vốn này sẽ được tận dụng ngay, nó còn tùy thuộc vào khả
năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Việc hạn chế khả năng cho vay của hệ thống ngân hàng
có tác dụng tốt hay không còn tùy thuộc gới hạn của viẽc kiểm soát vốn quốc tế.
Ngoài ra, sự thay đổi của cung tiền tệ có tác dụng đến giá cổ phiếu, khi dân chúng
giữ nhiều tiền hơn họ muốn chẳng hạn, chi tiêu vào thị trường cổ phiếu có thể tăng lên
làm tăng giá cổ phiếu. Giá trị ròng của các hãng tăng lên có nghĩa là những người cho vay
sẽ được đảm bảo nhìêu hơn cho các khoản vay của mình, như vậy khuyến khích cho vay
để tài trợ cho chi tiêu đầu tư, tổng cầu tăng thúc đẩy sự gia tăng sản lượng và giá cả.
b. Chi tiêu tiêu dùng
- Ảnh hưởng đối với lãi suất
Do chi tiêu tiêu dùng hàng ngày lâu bền thường được tài trợ một phần bằng đi vay,
do vậy lãi suất thấp hơn sẽ khuyến khích người tiêu dùng tăng chi tiêu tiêu dùng lâu bền.
Sự ảnh hưởng của tiền tệ đối với tổng cầu như sau:
M ↑ → I ↓ → chi tiêu dùng lâu bền ↑ → AD ↑ → thu nhập và giá cả ↑
Cũng tương tự như đối với ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư, sự ảnh hưởng của lãi
suất đến chi tiêu tiêu dùng lâu bền có thể là nhỏ.
- Ảnh hưởng tới thị trường cổ phiếu
16
Chi tiêu tiêu dùng cho hàng hóa lâu bền và dịch vụ của dân cư phụ thuộc rất lớn
vào thu nhập cả đời của họ chứ không phải chỉ là thu nhập hiện tại. Khi giá cổ phiếu tăng
lên, giá trị tài sản tài chính tăng lên làm thu nhập cả đời của người tiêu dùng và tiêu dùng
sẽ tăng lên.
Cơ chế tác động này như sau:
M ↑→ giá cổ phiếu ↑→ thu nhập cả đời ↑→ tiêu dùng ↑→ AD ↑→Y,P ↑
Mặt khác, khi giá cổ phiếu tăng, giá trị tài sản tài chính tăng, người tiêu dùng có
khả năng tài chính đảm bảo hơn sẽ đánh giá những khó khăn tài chính ít xảy ra hơn. Việc
chi tiêu về hàng hóa lâu bền của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi những khó khăn tài
chính có thể xảy ra trong tương lai. Khi những khó khăn này xảy ra, họ sẽ phải bán các tài
sản của mình để tăng thên tiền mặt, việc bán các tài sản tài chính như cổ phiếu sẽ thuận
lợi cho việc bán các hàng hóa tiêu dùng lâu bền như vật dụng tiêu dùng, phương tiện đi
lại, nhà ở…Do vậy, giá cổ phiếu tăng có thể khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu nhiều
hơn cho hàng tiêu dùng lâu bền.
Cơ chế tác động sẽ là:
M ↑→ giá cổ phiếu ↑→ giá trị tài sản tài chính ↑→ khả năng khó khăn tài chính ↓
→ chi tiêu nhà ở, hàng tiêu dùng lâu bền ↑→ AD ↑→ Y,P ↑
c. Xuất khẩu ròng
Trong bối cảnh nền kinh tế mở của các quốc gia và việc áp dụng chế độ tỉ giá thả
nổi, sự ảnh hưởng này thông qua tác động vào tỉ giá hối đoái. Khi lãi suất trong nước
giảm (lạm phát chưa thay đổi) tiền gửi bằng nội tệ sẽ hấp dẫn hơn so với tiền gửi ngoại tệ,
kết quả là nhu cầu về ngoại tệ cao hơn so với nội tệ làm cho giá đồng nội tệ giảm so với
ngoại tệ và làm cho hàng hóa nội địa rẻ hơn so với hàng ngoại, xuất khẩu ròng tăng lên vì
vậy tổng cầu tăng lên.
 Như vậy: Sự thay đổi của mức cung tiền tệ có tác động tới các hoạt động kinh tế
thông qua các tác động tới những bộ phận của tổng cầu như chi tiêu đầu tư, chi tiêu tiêu
dùng, xuất khẩu ròng. Tuy nhiên, sự tác động này mạnh hay yếu còn tùy thuộc vào sự
phản ứng của nền kinh tế. Nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển và linh hoạt thì
chính sách tiền tệ có hiệu quả hơn. Trong trường hợp nền kinh tế trì truệ, các nguồn tài
17
chính được tạo ra có thể không được tận dụng đầy đủ và chính sách tiền tệ ít có hiệu quả
hơn.
7. Cân bằng trên thị trường tiền tệ
Công cụ để phân tích là đường cung và đường cầu về tiền. Đường cung tiền là
đường thẳng đứng (cung cố định) trên cơ sở cho rằng NHTƯ sữ dụng các công cụ của nó
đã cung ứng cho thị trường một sức cung tiền theo dự kiến. Đó là khối lượng tiền xác
định cho mọi mức lãi suất i (với giả định cho rằng giá cả không thay đổi nên lãi suất danh
nghĩa cũng chính là lãi suất thực tế của nó). Đường cầu về tiền là đường dốc nghiên đi
xuống, biến thiên giãm theo lãi suất.
I MS
Io E
Lp
M
Cân bằng của thị trường tiền
Tác động qua lại giữa cung và cầu tiền xác định lãi suất cân bằng gọi là lãi suất thị
trường. Đó là giao điểm E. E là điểm cân bằng của thị trường tiền. Tại mức lãi suất cân
bằng Io mức cầu tiền vừa đúng bằng mức cung tiền.
Ở mức lãi suất thấp hơn Io sẽ có mức dư cung trái phiếu tương ứng làm cho giá trái
phiếu giảm xuống, lợi tức trái phiếu tăng lên và đẩy lãi suất thị trường lên tới Io .
Sự dịch chuyển đường cung hoặc đường cầu sẽ làm thay đổi vị trí cân bằng của thị
trường tiền tệ.
Khi NHTƯ tác động đến mức cung tiền, giả sữ là bán trái phiếu hoặc tăng tỉ lệ dự
trữ bắt buộc dẩn đến lượng cung tiền giảm xuống.
Việc kiểm soát tiền tệ trong thực tế phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô thật không
đơn giản. Có hai cánh kiểm soát, hoặc là kiễm soát mức cung tiền thì lãi suất thị trường sẽ
giãm xuống bởi tác động của cầu, hoặc kiểm soát lãi suất (ổn định lãi suất) thì buộc phải
18
để lực lượng thị trường quyết định mức cung tiền. Cả hai cách điều gặp những khó khăn
nhất định như kiểm soát lượng tiền cơ sỡ (H) thì vấp phải vấn đề hạn chế tiền mặt và tín
dụng gây khó khăn cho hoạt động NHTM và các hoạt động giao dịch, khi kiểm soát lãi
suất lại gặp khó khăn trong nhận biết chính xác đường cầu tiền và sự dịch chuyển của
nó… Việc lựa chọn kiểm soát mức cung tiền hay kiểm soát lãi suất tùy thuộc vào chính
sách tiền tệ của mỗi nước.
8. Tìm hiểu khái quát về ngân hàng
Hệ thống ngân hàng nước ta là hệ thống ngân hàng hai cấp, trong đó ngân hàng
nhà nước làm nhiệm vụ của NHTƯ, còn các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín
dụng hoạt động như là các ngân hàng trung gian thực hiện chức năng kinh doanh.
- Ngân hàng Trung ương
- Ngân hàng thương mại
a. Ngân hàng Trung ương
 Định nghĩa
Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về
tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng
lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân
hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các
ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu
của Nhà nước, nhưng vẫn có một mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ.
 Bản chất của NHTƯ
Ngân hàng Trung ương là ngân hàng phát hành, là nơi tập trung các quyền lực của
nhiều ngân hàng vào một ngân hàng, là một bộ máy quyền lực to lớn có khả năng chi phối
cả về mặt kinh tế và chính trị trong nước. Ngân hàng Trung ương dù được gọi với nhiều
tên gọi khác nhau như: ngân hàng nhà nước, ngân hàng quốc gia, ngân hàng dự trữ, …
nhưng điều thể hiện là một trung tâm tài chính tiền tệ lớn của quốc gia, đóng vai trò rất
lớn trong hệ thống tín dụng và ngân hàng ở các nước.
 Chức năng của NHTƯ
- Phát hành tiền tệ
19
Ở phần lớn các nước, ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất có quyền phát
hành tiền tệ. Ở một số nước khác, ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất phát hành
tiền giấy, còn tiền kim loại với tư cách là tiền bổ trợ thì do chính phủ phát hành. Cục Dự
trữ Liên bang- ngân hàng trung ương của Mỹ- không có chức năng phát hành tiền, thay
vào đó là Bộ Tài chính đảm nhiệm chức năng này. Cũng có thông tin cho rằng Chính phủ
Mỹ không có quyền phát hành đồng Đô-la, mà là do Cục Dự Trữ Liên Bang./
- Ngân hàng của các tổ chức tín dụng
Ngân hàng trung ương thực hiện công việc tái chiết khấu các hối phiếu đối với các
tổ chức tín dụng, cấp vốn thông qua cho vay đối với các tổ chức này (đồng thời qua đây
kiểm soát lãi suất.
Ngân hàng trung ương còn mua và bán các giấy tờ có giá, qua đó điều tiết lượng
vốn trên thị trường.
Ngân hàng trung ương có quyền yêu cầu các ngân hàng thương mại mở tài khoản
tại chỗ mình và các ngân hàng phải gửi vào tài khoản của họ một lượng tiền nhất định.
Thông thường lượng tiền này được quy định tương đương với một tỷ lệ nào đó tiền gửi
vào ngân hàng thương mại, gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Trong trường hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh hưởng đến cả hệ
thống tài chính của quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng đó
để cứu nó. Vì thế, ngân hàng trung ương được gọi là người cho vay cuối cùng (hay người
cho vay cứu cánh).
- Ngân hàng của Chính phủ
Ở nhiều nước, ngân hàng trung ương là người quản lý tiền nong cho chính phủ.
Chính phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại ngân hàng trung ương. Tuy nhiên,
ở một số nước, chẳng hạn như ở Việt Nam, chức năng này do kho bạc đảm nhiệm.
Ngân hàng trung ương còn làm đại diện cho chinh phủ khi can thiệp vào thị trường
ngoại hối
b. Ngân hàng thương mại (NHTM)
 Định nghĩa
20