Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương - một số vấn đề lý luận và thực tiễn

  • 69 trang
  • file .pdf
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
 
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 33 (2007 – 2011)
TIỀN LƢƠNG TỐI THIỂU ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG
LÀM CÔNG ĂN LƢƠNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hƣớng dẫn Sinh viên thực hiện
Võ Hoàng Yến Mai Quốc Việt
MSSV: 5075159
Lớp: Luật Tƣ pháp 2 K33
Cần Thơ, 4/2011
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
Cần thơ, ngày…....tháng…....năm…….
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
.......................................................................................
Cần thơ, ngày…....tháng…....năm…….
MỤC LỤC
Lời nói đầu ............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài .................................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài .................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài ............................................................................ 2
5. Kết cấu của đề tài................................................................................................. 3
Chƣơng 1. Lý luận chung về tiền lƣơng tối thiểu đối với ngƣời lao
động làm công ăn lƣơng trong pháp luật Việt Nam ............................................. 4
1.1. Khái niệm và lịch sử về tiền lương tối thiểu qua các thời kỳ
phát triển của đất nước ............................................................................................. 4
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................. 4
1.1.1.1. Khái niệm tiền lương ....................................................................... 4
1.1.1.2. Khái niệm tiền lương tối thiểu .......................................................... 6
1.1.1.3. Khái niệm người lao động làm công ăn lương .................................. 7
1.1.2. Lịch sử về tiền lương tối thiểu qua các thời kỳ phát triển
của đất nước ....................................................................................................... 8
1.1.2.1. Thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp ..................................................... 8
1.1.2.2. Thời kỳ kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa ................................................................. 9
1.2. Đặc điểm, bản chất và vai trò của tiền lương tối thiểu ..................................... 13
1.2.1. Đặc điểm của tiền lương tối thiểu ........................................................... 13
1.2.2. Bản chất của tiền lương tối thiểu ............................................................. 15
1.2.3. Vai trò của tiền lương tối thiểu ............................................................... 15
1.3. Cơ sở để tiến hành xây dựng tiền lương tối thiểu ............................................ 17
1.3.1. Nhu cầu tiêu dùng tối thiểu cho bản thân người lao động
và gia định họ ................................................................................................... 17
1.3.2. Cung – cầu lao động ............................................................................... 18
1.3.3. Khả năng kinh tế của đất nước ................................................................ 19
1.3.4. Chỉ số giá sinh hoạt theo từng thời kỳ ..................................................... 20
1.4. Các loại tiền lương tối thiểu theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành ....................................................................................................... 21
1.4.1. Tiền lương tối thiểu chung ...................................................................... 21
1.4.2. Tiền lương tối thiểu vùng ........................................................................ 22
1.4.3. Tiền lương tối thiểu ngành ...................................................................... 24
1.4.4. Tiền lương tối thiểu trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ................. 25
Chƣơng 2. Thực trạng thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật về tiền lƣơng tối thiểu đối với ngƣời lao động
làm công ăn lƣơng ................................................................................................ 27
2.1. Mối quan hệ giữa tiền lương tối thiểu với người lao động làm
công ăn lương ........................................................................................................ 27
2.1.1. Tầm quan trọng của tiền lương tối thiểu đối với người lao động ............. 27
2.1.2. Sự tác động của người lao động đến tiền lương tối thiểu ......................... 28
2.2. Chính sách và vai trò quản lý Nhà nước về tiền lương tối thiểu
đối với người lao động làm công ăn lương ............................................................. 29
2.3. Thực trạng thực hiện về tiền lương tối thiểu đối với người lao
động làm công ăn lương ......................................................................................... 30
2.3.1. Thực trạng thực hiện về tiền lương tối thiểu ............................................ 30
2.3.2. Những thành tựu đạt được và một số vướng mắc còn tồn tại
về tiền lương tối thiểu ....................................................................................... 34
2.3.2.1. Những thành tựu đạt được của chính sách về tiền lương
tối thiểu ....................................................................................................... 34
2.3.2.2. Những vướng mắc còn tồn tại của chính sách về tiền
lương tôí thiểu ............................................................................................ 37
2.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tiền lương tối thiểu
đối với người lao động làm công ăn lương ............................................................ 46
2.4.1. Các định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về tiền
lương tối thiểu .................................................................................................. 46
2.4.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tiền lương tối
thiểu đối với người lao động làm công ăn lương .............................................. 48
Kết luận ................................................................................................................ 58
Danh mục tài liệu tham khảo
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có nhiều thay
đổi quan trọng, đánh dấu bước ngoặc trên con đưòng phát triển ở tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội. Có được những thành tựu đó là do đường lối đổi mới đã được
Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện thông qua các chính sách và biện pháp trên
mọi lĩnh vực trong đó có chính sách về tiền lương tối thiểu. Chính sách tiền lương là
một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, là
một trong những công cụ kinh tế cực kỳ quan trọng và vô cùng nhạy cảm, có liên
quan chặt chẽ đến sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu lực và hiệu
quả quản lý Nhà nước, khai thác các khả năng tiềm lực từ mọi người lao động. Với
sự phát triển của nền kinh tế đất nước và nhu cầu tối thiểu của xã hội, tiền lương đã
qua nhiều lần thay đổi, điều chỉnh. Hiện nay, tiền lương đã đặt ở mức tương đối,
trong tương lai tiền lương sẽ còn tăng nhiều hơn nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cần
thiết trong sinh hoạt hàng ngày của người lao động. Đồng thời tạo điều kiện cho họ
an tâm làm việc, phát huy khả năng sang tạo khoa học, cống hiến hết mình cho đất
nước, không còn những lo toan vất vả về cơm, áo, gạo, tiền. Cùng với trào lưu phát
triển chung của thế giới, cũng như nền kinh tế của đất nước ngày một nâng cao, nhu
cầu tối thiểu của xã hội cũng phải được nâng lên. Vì vậy chính sách về tiền lương
tối thiểu hiện hành vẫn chưa phải là tối ưu mà chắc chắn sẽ được thay đổi và nâng
cao nhiều lần hơn nữa cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Hiện nay, tiền lương tối thiểu chung ở nước ta đang đạt mức 730.000
đồng/người/tháng và sắp tới đây tiền lương tối thiểu sẽ được Nhà nước ta điều chỉnh
tăng lên mức 830.000 đồng/người/tháng từ tháng 5/2011. Đây chính là tín hiệu đáng
mừng cho người lao động, đánh dấu một bước ngoặc mới của sự phát triển nền kinh
tế đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đó, chúng ta cũng không
thể tránh khỏi những khó khăn gặp phải như: mức thu nhập bình quân thấp hơn rất
nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới, tình trạng làm phát tăng cao
làm cho cuộc sống của người dân lao động không được đảm bảo. Đó là điều bất lợi
không chỉ đối với người lao động mà còn đối với sự phát triển nền kinh tế của đất
nước. Chính vì vậy, sự cần thiêt của việc nghiên cứu tiền lương nhất là về tiền
lương tối thiểu phải luôn luôn được xã hội quan tâm hàng đầu, trao đổi thường
xuyên và liên tục để có thể giúp các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà
chức trách có được một cái nhìn đầy đủ, toàn diện, chính xác và sâu sắc hơn nữa về
“đòn bẩy” kinh tế đặc biệt quan trọng này. Đông thời cần xác định được những ưu
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 1 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
điểm, hạn chế, để từ đó lý giải nguyên nhân và đưa ra những kiến nghị góp phần
nâng cao hiệu quả của chế độ tiền lương tối thiểu trong thực tiễn.
Với tầm quan trọng nêu trên, bản thân là một sinh viên chuyên ngành luật,
người viết cũng đã có điều kiện để được tiếp xúc và tìm hiểu về một số vấn đề có
liên quan đến tiền lương tối thiểu, đặc biệt là đã nhận thấy được tầm quan trọng của
chính sách về tiền lương tối thiểu, là một trong những vấn đề quan trong bậc nhất
trong công cuộc phát triển và đổi mới đất nước. Vì lý do đó người viết chọn đề tài
“Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương – một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” để làm đề tài tốt nghiệp cho mình với mong muốn thông qua việc
thực hiện đề tài sẽ được tìm hiểu rõ hơn về chính sách tiền lương tối thiểu ở nước ta
hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên cơ sở các quy định của pháp
luật hiện hành về chế độ tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn
lương và thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật. Trên cơ sở này, chỉ ra những quy
định còn bất cập của chế độ tiền lương tối thiểu hiện hành, để từ đó rút ra những kết
luận và đồng thời đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề tiền
lương tối thiểu ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu một cách cơ bản có tính hệ thống những vấn đề lý luận và
thực tiễn về chế độ tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
qua các thời kỳ phát triển đất nước và trong giai đoạn hiện nay. Với đề tài “Tiền
lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương – một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” ngươi viết tập trung vào việc nêu lên những đề xuất, kiến nghị trong
lộ trình cải cách chính sách về tiền lương tối thiểu, nhằm nâng cao đời sống của
người lao động cho phù hợp với tình hình mới, phù hợp với xu hướng phát triển và
hội nhập.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người viết đã dựa trên cơ sở sử dụng quan điểm
triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách
pháp luật của Nhà nước. Đồng thời người viết còn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu đặc thù của khoa học pháp lý như: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh,
để từ đó phân tích và tổng hợp lại các vấn đề về lý luận, pháp lý cũng như thực
trạng về “tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương” thông
qua việc sử dụng, tham khảo và chọn lọc tài liệu để từng bước cụ thể hóa các nội
dung và mục đích mà đề tài đã đặt ra.
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 2 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
5. Kết cấu của đề tài
Nội dung của đề tài được người viết kết cấu thành hai chương:
- Chương 1. Lý luận chung về tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm
công ăn lương trong pháp luật Việt Nam.
- Chương 2. Thực trạng thực hiện và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật về tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương.
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 3 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIỀN LƢƠNG TỐI THIỂU ĐỐI VỚI NGƢỜI
LAO ĐỘNG LÀM CÔNG ĂN LƢƠNG TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.2. Khái niệm và lịch sử về tiền lƣơng tối thiểu qua các thời kỳ phát triển của
đất nƣớc
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm tiền lương
Ở mỗi thời kỳ khác nhau, tiền lương được hiểu theo nhiều hướng khác nhau:
Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, về thực chất tiền lương dưới chủ nghĩa
xã hội được hiểu là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hinh thức tiền tệ,
được nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân viên chức phù hợp với số
lượng và chất lượng của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc trả công
cho công nhân viên chức, dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản
xuất sức lao động
Khi chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường, thời kỳ này mọi người được tự do mua bán sức lao động của mình, vì thế
sức lao động được nhìn nhận như một hàng hóa và tiền lương không phải là một thứ
gì khác, mà nó chính là giá cả sức lao động. Người sử dụng lao động phải trả cho
người lao động một số tiền nhất định để đổi lấy quyền sử dụng sức lao động của
người lao động. Về phía người lao động, họ muốn bán sức lao động để lấy một
khoản tiền nhất định để nuôi bản thân và gia đình. Vì vậy, giữa người sử dụng lao
động và người lao động nảy sinh quan hệ mua - bán và cái được trao đổi, mua bán
ở đây là sức lao động của người lao động, số tiền của người sử dụng lao động trả
cho người lao động chính là giá cả sức lao động hay nói cách khác tiền lương chính
là giá cả sức lao động.
Trong giai đoạn hiện nay tiền lương được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
như: tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua sự thỏa thuận giữa người
sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động
trong nền kinh tế thị trường; Tiền lương là khoản tiền mà người lao động nhận được
khi họ đã hoàn thành hoặc sẽ hoàn thành một công việc nào đó, mà công việc đó
không bị pháp luật cấm; Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả
cho người lao động… Nói tóm lại, tiền lương là một khoản tiền mà người lao động
trả cho người lao động khi họ hoàn thành một công việc nào đó theo đúng số lượng
và chất lượng đã thỏa thuận. Trong đó, sức lao động là hàng hóa, tiền lương là giá
cả sức lao động và người sử dụng sức lao động căn cứ vào số lượng và chất lượng
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 4 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
của người công nhân cũng như mức độ phức tạp, tính chất độc hại của công việc để
trả lương cho người lao động. Từ đó, ta có thể thấy được tiền lương là một hiện
tượng phức tạp, đồng thời là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác
nhau, nhưng chủ yếu và trước hết là khoa học kinh tế và khoa học pháp lý 1.
Dưới góc độ kinh tế: Dưới góc độ kinh tế tiền lương được gọi dưới nhiều tên
gọi khác nhau như: tiền lương, tiền công, thù lao lao động…
Về mặt kinh tế, tiền lương có thể hiểu là sự biểu hiện bằng tiền của tất cả sức
lao động được hình thành trên cơ sở xác định giá trị sức lao động thông qua sự thỏa
thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động và do người sử dụng lao động
trả cho người lao động, đồng thời chịu sự chi phối của quy luật kinh tế trong đó có
quy luật cung cầu. Bên cạnh đó, còn tuân theo những quy định pháp luật của Nhà
nước trong từng thời kỳ. Mặt khác tiền lương phải bao gồm đầy đủ các yếu tố cấu
thành để đảm bảo rằng tiền lương chính là nguồn thu nhập chủ yếu bảo đảm được
cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình họ, là điều kiện để người hưởng
lương hòa nhập vào đời sống xã hội.
Dưới góc độ pháp lý:
Theo Điều 1 Công ước số 95 năm 1949 của tổ chức lao động Quốc tế ( ILO)
thì: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào,
mà có biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng
lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy Quốc gia, do người sử
dụng lao động trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động viết hay bằng
miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch
vụ đã làm hay sẽ phải làm”.
Nhìn ra pháp luật của nhiều nước thì tiền lương cũng có nhiều tên gọi khác
nhau. Chẳng hạn như: Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản (1976), Chương I,
nguyên tắc chung, Điều 11 ghi: “Tiền lương nói trong luật này, bất luận được gọi là
tiền lương, lương bổng, tiền được chia lãi hoặc bằng những tên gọi khác, là chỉ thù
lao lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho công nhân”. Còn theo Điều lệ
thuê nhân công (1977) của Hồng Kông, Phần I, nguyên tắc chung, Điều 2 quy định:
“Tiền lương là chỉ mọi khoản thù lao, thu nhập hay phụ cấp có tính chất lương
(được chỉ định hay do tính toán), biểu hiện bằng tiền mà người làm công nhận được
vì thỏa thuận hoàn thành hay phải hoàn thành một công việc nào đó theo hợp đồng
lao động, nhưng không kể những chi phí về nhà ở, phí đào tạo, thức ăn, chất đốt,
chiếu sáng, thuốc men, nước uống mà người sử dụng lao động cung cấp; những
1
Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học khoa học xã hội nhân văn – Giáo trình Luật lao động Việt Nam.
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội – 1999. Trang 211.
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 5 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
khoản đảm phụ về quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ công ích thuộc nghĩa vụ đóng góp của
người sử dụng lao động; những khoản trợ cấp thôi việc hay tiền thưởng khi chấp dứt
hợp đồng lao động; tiền thưởng cuối năm và mọi khoản thưởng theo chủ động tùy
nghi của người sử dụng lao động” 2.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quy định tại Điều 55 Bộ Luật lao động
thì: “Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động
và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương
của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy
định”.
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, tiền lương được hiểu là số tiền mà người sử
dụng lao động phải trả cho người lao động theo sự thỏa thuận giữa hai bên trong
hợp đồng lao động, trên cơ sở năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công
việc nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
1.2.1.2. Khái niệm tiền lương tối thiểu
Để có thể duy trì được cuộc sống thì con người cần có đủ điều kiện sinh hoạt ở
mức tối thiểu, con người không chỉ cần được đáp ứng đầy đủ về mặt sinh học như:
ăn, ở, mặc, sức khỏe… mà còn cần phải đáp ứng về mặt xã hội như: học tập, giải
trí… Ở mỗi thời kỳ khác nhau, con người có những nhu cầu khác nhau và do đó có
mức sống tối thiểu cũng phải khác nhau. Mức sống thối thiểu là mức độ thỏa mãn
những nhu cầu tối thiểu của người lao động và để có thể đáp ứng được những nhu
cầu tối thiểu đó phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, tiền lương tối
thiểu là một yếu tố quan trọng, nó đảm bảo cho mức sống tối thiểu của người lao
động được tốt hơn.
Vậy, trước hết ta có thể hiểu rằng: tiền lương tối thiểu là mức lương thấp nhất
mà người sử dụng lao động trả cho người lao động nhằm duy trì cuộc sống tối thiểu
cho bản thân và gia đình người lao động.
Theo quy định tại Điều 56 Bộ Luật lao động Việt Nam: “ Mức lương tối thiểu
được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản
đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một
phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính
các mức lương cho các loại lao động khác”.
Mức lương tối thiểu là một chế định quan trọng của pháp luật lao động nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, nhất là trong thời buổi kinh tế thị
2
Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học khoa học xã hội nhân văn – Giáo trình Luật lao động Việt
Nam. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội – 1997. Trang 128, 129.
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 6 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
trường và trong điều kiện sức lao động cung lớn hơn cầu. Theo Điều 7 Bộ Luật lao
động quy định: người lao động được trả lương trên cơ sở thỏa thuận với người sử
dụng lao động nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Đồng thời tại Điều 55 cuả Bộ luật cũng nói rõ: mức lương của người lao động
không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Như vậy, từ quy
định của luật ta có thể hiểu rằng: mức lương tối thiểu là mức lương nền móng được
pháp luật quy định và bắt buộc người sử dụng lao động phải tuân theo. Các hành vi
trả lương cho người lao động cho dù là sự thỏa thuận của hai bên mà thấp hơn mức
lương tối thiểu sẽ bị coi là vi phạm pháp luật và phải chịu sự chế tài.
Theo quy định tại Điều 3 Công ước số 26 năm 1928 về tiền lương tối thiểu của
Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì các mức lương tối thiểu được ấn định là bắt
buộc đối với những người sử dụng lao động và những người lao động hữu quan;
những mức đó không thể bị hạ thấp bởi những người sử dụng lao động và những
người lao động, dù là bằng thỏa thuận cá nhân hay bằng thỏa ước tập thể, trừ khi
các nhà chức trách có thẩm quyền chung hoặc cho phép đặc biệt.
Tóm lại, tiền lương tối thiểu được hiểu là số tiền nhất định được trả cho người
lao động tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ
nhàng nhất diễn ra trong điều kiện lao động bình thường, số tiền đó đảm bảo nhu
cầu tiêu dùng các tư liệu sinh hoạt ở mức tối thiểu để tái sản xuất sức lao động của
bản thân người lao động.
1.2.1.3. Khái niệm người lao động làm công ăn lương
Theo Điều 6 Bộ Luật lao động nước ta thì “ người lao động là người ít nhất đủ
15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Vậy người lao
động là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có cam kết
lao động với chủ sử dụng lao động. Họ làm việc theo yêu cầu, nhận lương và chịu
sự quản lý của chủ lao động trong thời gian cam kết làm việc. Kết quả lao động của
họ là sản phẩm dành cho người khác sử dụng và được trao đổi trên thị trường hàng
hóa, sản phẩm chân tay thì có giá trị thấp hơn sản phẩm trí óc.
Người lao động có thể được hiểu theo hai nghĩa 3:
Theo nghĩa rộng: người lao động là người làm công ăn lương. Công việc của
người lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê lao
động. Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung
cấp mà người lao động được hưởng lương từ người chủ thuê lao động.
3
http://www.doanhnhan360.com/Desktop.aspx/Quan-ly-360/Nguon-nhan-
luc/Nguoi_lao_dong_la_ai/
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 7 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
Theo nghĩa hẹp: người lao động còn là người làm các việc mang tính thể chất,
thường trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (cách hiểu này ảnh hưởng từ quan
niệm cũ: phân biệt người lao động với người trí thức).
Ngoài ra, dưới góc độ kinh tế học thì người lao động là những người trực tiếp
cung cấp sức lao động – một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng
dịch vụ, hàng hóa cơ bản của nền kinh tế.
Như vậy, qua phân tích khái niệm người lao đông, ta có thể hiểu người lao
động làm công ăn lương là người lao động theo thỏa thuận, có sự xác lập, giao kết
hợp đồng lao động giữa người lao động và chủ sử dụng lao động. Họ chịu sự quản
lý của chủ sử dụng lao động và thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất,
sản phẩm tinh thần tao ra mà người lao động được hưởng lương từ chủ thể thuê lao
động.
1.2.2. Lịch sử về tiền lương tối thiểu qua các thời kỳ phát triển của đất nước
1.2.2.1. Thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp
Vào những ngày đầu thành lập nước, chưa có doanh nghiệp nhà nước. Chỉ có
một số doanh nghiệp trưng thu của chế độ cũ để lại. Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số
10-SL về việc tạm thời áp dụng các văn bản pháp luật của chế độ cũ để lại miễn là
không trái với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó có chế độ về tiền
lương và phụ cấp. Tuy nhiên chưa có một văn bản nào quy định cụ thể về tiền lương
tối thiểu. Do Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên việc bảo vệ
người dân và đặc biệt là người lao động càng trở nên cấp thiết và trở thành vấn đề
quan tâm hàng đầu của đất nước. Nhận thức được tầm quan trọng đó, ngày
12/03/1947 Hồ Chủ tịch đã ký công bố Sắc lệnh số 29-SL quy định chế độ lao động
trong toàn cõi Việt Nam. Tại tiết thứ 5 của Sắc lệnh này đã định nghĩa về tiền công
tối thiểu như sau: “Tiền công tối thiểu là số tiền công do Chính phủ ấn định theo giá
sinh hoạt để một công nhân không chuyên nghiệp sinh sống một mình trong một
ngày ở một khu vực nhất định”. Sắc lệnh cũng chỉ rõ căn cứ để xác định tiền công
tối thiểu là theo giá sinh hoạt để đảm bảo cuộc sống cho một công nhân và xác định
trách nhiện các bên trong lĩnh vực trả công lao động. Đồng thời Sắc lệnh còn quy
định thẩm quyền của các cơ quan trong việc ấn định, công bố mức lương tối thiểu.
Năm 1950 giá sinh hoạt mỗi nơi mỗi khác, giá trị thực tế của đồng tiền suy
giảm. Tháng 5 năm 1950 Sắc lệnh 77-SL quy định “công nhân giúp việc Chính phủ
(nay gọi là quốc doanh) áp dụng thang lương chung 18 bậc”. Đặc điểm lương lúc
này là có sự thống nhất về chế độ tiền lương giữa công nhân và công chức. Theo
Sắc lệnh 98-SL lương và phụ cấp hàng tháng được ấn định theo giá gạo: lương tối
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 8 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
thiểu bằng 35kg gạo, lương tối đa bằng 53kg, còn lương tối đa của công chức bằng
72kg. Cho đến tháng 12 năm1955, Nghị định 650-TTg quy định chế độ tiền lương
mới, bỏ chế độ lương theo cung cấp trong kháng chiến, thực hiện việc trả lương
bằng tiền. Nghị định đã có sự phân biệt riêng giữa thang bậc lương của công chức
với thang bậc lương của công nhân.
Năm 1960, Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng đã được triệu tập. Tháng 4
năm 1960 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết 115-NQTW về cải cách
chế độ tiền lương và tăng lương năm 1960. Đại hội đã định nền kinh tế nước ta phát
triển hoàn toàn theo hướng kế hoạch hóa, mọi vấn đề lao động đều theo kế hoạch
trực tiếp của Nhà nước và được triển khai thực hiện bẳng mệnh lệnh hành chính.
Nhà nước xác định mức lương tối thiểu bằng cách quy định cụ thể các mức lương
trong các ngành , tùy thuộc vào tính chất của từng loại công việc. Trong mỗi ngành
đều có mức lương thấp nhất, đó chính là mức lương khởi điểm của ngành được trả
cho người lao động ứng với công việc đòi hỏi trình độ lao động thấp nhất và công
việc lao động nhẹ nhàng nhất. Các vấn đề khác như thời gian trả lương, hình thức
trả lương, nâng bậc lương… đều do Nhà nước định sẵn thông qua hệ thống các bậc
lương và hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách Nhà nước. Đến tháng 7 năm 1960
Chính phủ ra Nghị định 24-CP về chế độ lương. Lúc nay lương tối thiểu được tính
toán khá chi li, trong đó cơ cấu ăn chiếm khoảng 64,77%, mặc, ở chiếm 21,89%,
văn hóa, dịch vụ chiếm 13,34% và lương tối thiểu được xác định trong thời gian này
là 27 đồng 3 hào 4.
Như vậy, trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương tối thiểu
không được quan tâm đúng mức. Trên thực tế, người ta quan niệm và coi bậc lương
một của ngành là mức lương tối thiểu.
1.2.2.2. Thời kỳ kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa
Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1992: mặc dù đất nước đã thống nhất nhưng
do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, thiên tai, lũ lụt trong nước đã làm cho
nền kinh tế nước ta rơi vào hoàn cảnh kiệt quệ, đời sống người lao động gặp nhiều
khó khăn. Tiền lương tuy có tăng nhưng giá cả thị trường cũng tăng gấp nhiều lần,
tình trạng lạm phát cao… đã làm cho giá trị tiền lương giảm hơn nhiều so với giá cả
thị trường.
Với chủ trương chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do kinh
4
Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường Đại học khoa học xã hội nhân văn – Giáo trình Luật lao động Việt
Nam. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội – 1997. Trang 143.
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 9 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
doanh đã trở thành nguyên tắc hiến định trong đường lối quản lý kinh tế của Nhà
nước. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý để
giới hạn hành vi của các cá nhân, tổ chức khi tham gia quan hệ pháp luật ở mọi lĩnh
vực trong đó có vấn đề trả lương cho người lao động. Trong giai đoạn này tiền
lương tối thiểu đã được quan tâm đúng mức hơn và thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó.
Năm 1985 Hội đồng Bô trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số
235/NĐ-HĐBT ngày 18/9/1985 về cải cách chế độ tiền lương của công nhân, viên
chức và các lực lượng vũ trang. Theo đó mức lương tối thiểu là 220 đồng/tháng.
Với mức lương này cuộc sống của người dân lao động đã được cải thiện đáng kể.
Nhưng với nền kinh tế khó khăn, tổng thu nhập quốc dân tính trên đầu người thấp
cùng với tình trạng lạm phát đã làm cho giá trị của đồng lương giảm sút nhanh
chóng và không đánh giá đúng giá trị thực tế sức lao động của người lao động. Vì
vậy Nhà nước ta đã không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình
nền kinh tế - xã hội và ổn định đời sống nhân dân, đặc biệt là đối với người lao
động.
Do đó, tới năm 1986 cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội lần VI của
Đảng Cộng sản Việt Nam đề xướng đòi hỏi tiền lươn g tối thiểu phải có sự thay đổi
để phù hợp với thực tế. Sau Đại hội Nhà nước ta đã quyết định tăng tiền lương lên
102,27% so với năm 1985. Đây thật sự là bước chuyển mình của chính sách tiền
lương, chế độ bao cấp tiền lương mới thật sự được xóa bỏ.
Đến năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 202-HĐBT ngày
28/12/1988 về tiền lương công nhân, viên chức sản xuất kinh doanh khu vực quốc
doanh và công ty hợp doanh và Quyết định số 203-HĐBT về tiền lương công nhân,
viên chức hành chính sự nghiệp, lực lượng vũ trang và các đối tượng hưởng chính
sách xã hội. Theo đó, tiền lương tối thiểu là 22.500 đồng/tháng.
Sau khi xóa bỏ nền kinh tế tập trung bao cấp, quan điểm về nền kinh tế có
nhiều thay đổi. Bắt đầu từ việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1987. Từ đó nước ta xuất hiện thêm một thành phần kinh tế đó là kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài. Lao động làm việc trong khu vực này đòi hỏi phải chịu áp luật cao
hơn, đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và cường độ lao động cao hơn so với
lao động làm việc trong các doanh nghiệp trong nước. Cho nên, để đánh giá đúng
sức lao động mà người lao động bỏ ra và đảm bảo sự công bằng, đòi hỏi phải có
quy định riêng về tiền lương tối thiểu cho lao động làm việc trong khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài. Theo quy định của pháp luật trong giai đoạn này thì tiền lương
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 10 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
tối thiểu của người lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 50
USD/tháng 5.
Nhìn chung, trong giai đoạn này đã có những tiến bộ vượt bậc trong quá trình
cải cách về tiền lương tối thiểu. Tiền lương tối thiểu đã kịp thời có những thay đổi
hợp lý, đảm bảo được cuộc sống của người lao động. Đồng thời cũng đã có sự phân
định rõ ràng về tiền lương tối thiểu đối với các doanh nghiệp trong nước và các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đảm bảo sự công bằng trong việc trả công cho
người lao động.
Giai đoạn từ năm 1993 cho đến nay: từ khi chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, việc
thay đổi quan điểm về tiền lương cũng là tất yếu của sự phát triển khách quan của
các quy luật kinh tế. Hiến pháp năm 1992 ra đời đã cho thấy chính sách tiền lương
được nhà nước ngày càng quan tâm. Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Quốc hội khóa
IX đã đề ra nhiệm vụ cải cách chính sách tiền lương mới, phải làm cho tiền lương
trở thành thước đo giá trị sức lao động. Đặc biệt là tiền lương tối thiểu phải thật sự
là lưới an toàn cho người lao động, đảm bảo cho họ duy trì được mức sống tối thiểu
cần thiết và tái sản xuất sức lao động.
Tháng 5 năm 1993, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Quyết định số 69-QĐTW
và sau khi được Quốc hội thông qua đề án cải cách tiền lương, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ra Quyết định số 35-UBTVQH về quy định tạm thời chế độ tiền lương
mới năm 1993. Thực hiện điều đó, ngày 23/5/1993 Chính phủ ban hành Nghị định
số 26-CP quy định tạm thời chế độ tiền lương mới trong các doanh nghiệp và Nghị
định số 25-CP quy định chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính
sự nghiệp và lực lượng vũ trang. Theo đó mức lương tối thiểu áp dụng thống nhất
cho các đối tượng trên là 120.000 đồng/tháng.
Ngày 23/6/1994 Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ Luật lao
động, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam. Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành các quy định về tiền lương tối thiểu,
ngày 31/12/1994 Chính phủ ban hành Nghị định số 197-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật lao động về tiền lương.
Sau một thời gian thực hiện chính sách tiền lương mới năm 1993, mức lương tối
thiểu so với nhu cầu của người lao động và mục tiêu đặt ra là quá thấp, không đáp
ứng được các nhu cầu thiết yếu của người lao động. Do đó, ngày 21/1/1997 Chính
phủ ra Nghị định số 06/CP về việc giải quyết tiền lương và trợ cấp năm 1997 đối với
công chức, viên chức hành chính - sự nghiệp, người nghỉ hưu, nghỉ mất sức, lực
5
Điều 1 Quyết định số 365-LĐTBXH/QĐ ngày 29/8/1990 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy
định về mức lương tối thiểu của lao động trong xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 11 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
lượng vũ trang cán bộ xã, phường và một số đối tượng hưởng chính sách xã hội nâng
mức lương tối thiểu lên 144.000 đồng / tháng.
Ngày 15/12/1999, Chính phủ ra Nghị định số 175/1999/NĐ-CP về việc điều
chỉnh mức tiền lương tối thiểu, mức trợ cấp sinh hoạt phí đối với các đối tượng
hưởng lương, phụ cấp, trợ cấp và sinh hoạt phí từ nguồn kinh phí thuộc nguồn ngân
sách Nhà nước và ngày 27/3/2000 Chính phủ ra Nghị định số 10/2000/NĐ-CP về
việc quy định tiền lương tối thiểu trong các doanh nghiệp. Nghị định này quy định
mức tiền lương tối thiểu là 180.000 đồng/tháng.
Như vậy, tiền lương đã được tăng 25% so với trước đó, góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ. Tuy nhiên, dưới sự tác
động của các quy luật cung - cầu, giá cả, cạnh tranh đòi hỏi tiền lương tối thiểu phải
tiếp tục được nâng lên mới thực hiện được các nhiệm vụ của nó. Do đó, ngày
15/12/2000 Chính phủ ra Nghị định số 77/2000/NĐ-CP về việc điều chỉnh mức
lương tối thiểu, mức trợ cấp và sinh hoạt phí đối với các đối tượng hưởng lương,
phụ cấp, trợ cấp và sinh hoạt phí. Nghị định quy định mức lương tối thiểu là
210.000 đồng/tháng.
Ngày 15/01/2004, Chính phủ ra Nghị định số 03/2003/NĐ-CP về việc điều
chỉnh tiền lương, trợ cấp xã hội và đổi mới một bước cơ chế quản lý tiền lương.
Nghị định này quy định mức lương tối thiểu là 290.000 đồng/tháng.
Ngày 14/12/2004, Chính phủ ra Nghị định số 203/2004/NĐ-CP quy định mức
lương tối thiểu tăng lên 310.000 đồng/tháng. Tiếp đó, theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài
chính, ngày 15/09/2005 Chính phủ ra Nghị định số 118/2005/NĐ-CP điều chỉnh
mức lương tối thiểu chung lên 350.000 đồng/tháng.
Để đảm bảo đời sống của người lao động và phù hợp với tình hình chung của
nền kinh tế đất nước, năm 2006 Nhà nước ta đã có nhiều thay đổi về chính sách tiền
lương. Ngày 07/09/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/2006/NĐ-CP điều
chỉnh mức lương tối thiểu chung, nâng mức lương tối thiểu chung lên 450.000
đồng/tháng.
Từ ngày 01/01/2008 tiền lương tối thiểu chung được nâng lên 540.000
đồng/tháng. Việc nâng lương này được Chính phủ quy định tại Nghị định số
166/2007/NĐ-CP ngày ngày 16/11/2007 quy định mức lương tối thiểu chung. Đồng
thời, Chính phủ còn ban hành các Nghị định như: Nghị định số 167/2007/NĐ-CP
quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty,
doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức
khác của Việt Nam có thuê mướn lao động, Nghị định số 168/2007/NĐ-CP quy
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 12 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và
cá nhân người nước ngoài tại việt Nam.
Ngày 06/4/2009 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 33/2009/NĐ-CP
quy định mức lương tối thiểu chung. Theo Nghị định kể từ ngày 01/5/2009 mức
lương tối thiểu được nâng từ 540.000 đồng/tháng lên 650.000 đồng/tháng. Đến ngày
28/03/2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/2010/NĐ-CP quy định mức
tiền lương tối thiểu chung áp dụng từ ngày 01/5/2010 với mức lương tối thiểu là
730.000 đồng/tháng.
Tóm lại, cùng với sự biến đổi không ngừng của nền kinh tế đất nước như hiện
nay và nhu cầu tối thiểu của xã hội ngày càng cao thì trong tương lai chính sách tiền
lương nhất định sẽ được cải thiện cao hơn nữa để đời sống của người dân nói chung
và người lao động làm công ăn lương nói riêng ngày càng được cải thiện tốt hơn.
Theo dự kiến kể từ ngày 01/5/2011 tiền lương tối thiêu chung sẽ tăng từ 730.000
đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng. Riêng đối với các doanh nghiệp ngoài Nhà
nước mức lương tối thiểu 830.000 đồng/tháng đã được áp dụng kể từ ngày
01/01/2011 ở một số địa bàn, số địa bàn còn lại sẽ áp dụng từ ngay 01/7/2011 6.
1.3. Đặc điểm, bản chất và vai trò của tiền lƣơng tối thiểu
1.3.1. Đặc điểm của tiền lương tối thiểu
Từ khái niệm tiền lương tối thiểu cho thấy tiền lương tối thiểu có những đặc
điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với trình độ lao động
giản đơn nhất. Nghĩa là, người lao động không cần phải thông qua sự đào tạo
trường lớp, tiền lương tối thiểu của người lao động sẽ được xác định dựa trên trình
độ lao động giản đơn nhất, lao động chân tay, không có sự đòi hỏi về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, về tính chất kỹ thuật phức tạp và không phụ thuộc vào khả
năng lao động thực tế của người lao động đó. Đối với người lao động có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ thông qua sự đào tạo như Cao đẳng, Đại học, Cao học…
hoặc có sự đào tạo tay nghề qua các trường hợp cụ thể thì tiền lương danh nghĩa mà
họ nhận được phải cao hơn mức lương tối thiểu mà pháp luật quy định.
Thứ hai, tiền lương tối thiểu được xác định tương ứng với cường độ lao động
nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện bình thường. Giữa năng suất lao động, sức
khỏe của người lao động và cường độ của người lao động có mối quan hệ chặt chẽ
6
Xem Nghị định 108/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010 và Phụ lục kèm theo Nghị định này.
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 13 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
với nhau. Cường độ lao động ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất lao động và quyết
định sức khỏe người lao động. Hiện nay chưa có quy đinh cụ thể nào về cường độ
lao động khi xác định tiền lương tối thiểu. Việc hiểu cường độ lao động nhẹ nhàng
nhất còn rất chung chung và trừu tượng. Tuy nhiên ta có thể hiểu rằng cường độ lao
động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong điều kiện lao động bình thường là người lao động
làm việc trong một môi trường lao động với mức tiêu hao năng lượng thấp và điều
kiện lao động không có yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Nếu
người lao động làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại hoặc vùng xa xôi, hẻo
lánh, khí hậu khắc nghiệt thì người sử dụng lao động phải trả lương cao hơn mức
lương tối thiểu và ngoài ra cần phải trả thêm khoản phụ cấp lương nếu có những
yếu tố không xác định được hết trong tiền lương tối thiểu như phụ cấp độc hại, nguy
hiểm, phụ cấp khu vực…
Tóm lại, tiền lương tối thiểu không chỉ xác định tương ứng với cường độ lao
động nhẹ nhàng nhất mà nó còn căn cứ vào một điều kiện lao động bình thường.
Nghĩa là việc xác định tiền lương tối thiểu phải dựa vào quá trình tổ chức công việc,
không có tính chất khó nhọc, làm việc trong môi trường tự nhiên bình thường và
điều kiện xã hội ổn định nhất.
Thứ ba, tiền lương tối thiểu phải đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức tối thiểu
cần thiết cho người lao động và gia đình họ. Trong cuộc sống con người luôn có
những nhu cầu ở mức độ tối thiểu cả về vật chất lẫn tinh thần. Để đáp ứng những
nhu cầu đó, con người cần phải lao động, đồng thời lao động còn đảm bảo được sự
tồn tại của bản thân và gia đình người lao động.
Bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động dưới sự tác động của các quy
luật cung cầu trong nền kinh tế. Thông qua tiền lương người lao động có thể bù đắp
lại sự hao phí sức lao động bằng cách thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng
như: ăn, ở, học tập, sức khỏe, giải trí và những nhu cầu khác. Ngoài lo cho chính
bản thân, người lao đông còn phải lo cho cái ăn, cái mặc, việc học hành của con cái
và sự phát triển của gia đình. Con cái của người lao động chính là đội ngũ lao động
kế thừa sẽ thay thế họ trong tương lai. Vì vậy, tổng số những tư liệu sinh hoạt cần
thiết cho việc sản xuất và tái sản xuất sức lao động phải bao gồm những tư liệu sinh
hoạt cần thiết cho những người thay thế đó.
Như vậy, tiền lương tối thiểu phải đảm bảo cho sự phát triển, đáp ứng được
những nhu cầu thiết yếu để có thể duy trì cuộc sống và tái sản xuất sức lao động của
bản thân người lao động và một phần cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình họ.
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 14 SVTH: Mai Quốc Việt
Luận văn tốt nghiệp Tiền lương tối thiểu đối với người lao động làm công ăn lương
1.3.2. Bản chất của tiền lương tối thiểu
Tiền lương tối thiểu là một bộ phận cấu thành của tiền lương. Về bản chất thì
tiền lương tối thiểu là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao
động. Giá cả sức lao động ở đây được hiểu là giá cả thấp nhất của hàng hóa sức lao
động. Tiền lương tối thiểu không chỉ áp dụng cho lao động giản đơn mà là khung
pháp lý quan trọng do Nhà nước quy định, mang tính chất bắt buộc. Người sử dụng
lao động phải trả tiền lương cho người lao động thấp nhất là bằng chứ không được
thấp hơn mức lương tối thiểu mà nhà nước đã ấn định. Tiền lương tối thiểu được
quy định phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ nhằm bảo vệ người lao
động. Tiền lương tối thiểu phải đảm bảo được nhu cầu tối thiểu như chi phí về ăn, ở,
đi lại, nhằm bù đắp một lượng nhất định những hao phí sức lao động: cơ bắp, trí tuệ,
thần kinh để duy trì sức khỏe bản thân của người lao động trong trạng thái bình
thường và tái sản xuất sức lao động cả về lượng và chất. Tuy nhiên, trên cơ sở là giá
trị sức lao động, việc xác định mức tiền lương tối thiểu chỉ bao gồm những chi phí
cần thiết để duy trì sức khỏe và đảm bảo tái sản xuất sức lao động ở mức cần thiết.
Nghĩa là tiền lương tối thiểu chỉ đáp ứng cho giá trị sức lao động có trình độ giản
đơn nhất trong điều kiện bình thường với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất. Nó
không đáp ứng được tất cả nhu cầu cuộc sống của người lao động và gia đình họ,
mà chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu cần thiết để duy trì cuộc sống nhằm tái sản
xuất sức lao động.
Việc xác định tiền lương tối thiểu không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của
người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động mà được quyết
định bởi quyền lực nhà nước, tuy nhiên nhà nước luôn khuyến khích người sử dụng
lao động áp dụng mức lương tối thiểu cho người lao động cao hơn mức lương tối
thiểu mà nhà nước quy định.
1.3.3. Vai trò của tiền lương tối thiểu
Tiền lương tối thiểu có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển
đất nước. Xác định được tầm quan trọng của vấn đề trong những năm qua nhà nước
ta đã không ngừng cải cách tiền lương tối thiểu để phù hợp với nhu cầu của cuộc
sống nhất là đối với người lao động làm công ăn lương.
Đối với người lao động làm công ăn lương, tiền lương tối thiểu có sự ảnh
hưởng đặc biệt hàng ngày đối với họ, bởi vì tiền lương là nguồn thu nhập chính
nhằm duy trì và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân người lao
động và gia đình. Sự phân phối công bằng, hợp lý hay không sẽ quyết định đến sự
tận tâm, tận lực của người lao động đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc trả
đúng, trả đủ tiền lương cho người lao động sẽ khuyến khích họ quan tâm đến hoạt
GVHD: Võ Hoàng Yến Trang 15 SVTH: Mai Quốc Việt