Thực trạng và và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế tài chính trên thị trường chứng khoán việt nam trong giai đoạn hiện nay

  • 111 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là một xu thế tất yếu của
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Và Việt Nam không thể tách rời xu thế đó.
Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển sẽ cùng thị trường tiền tệ tạo ra
một thị trường tài chính vận hành có hiệu quả hơn, góp phần đắc lực trong việc
huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Sự phát triển đó của thị trường chứng khoán phụ thuộc rất nhiều vào một
lực lượng trung gian quan trọng trên thị trường - đó là các định chế tài chính.
Qua hơn bẩy năm hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
cho thấy, nhờ có vai trò của các định chế tài chính mà thị trường chứng khoán
đã hoạt động sôi động và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong quá trình đó, các định
chế tài chính cũng bộc lộ những mặt còn hạn chế, tác động tới sự phát triển
chung của thị trường.
Đặc biệt trong năm 2006 và 2007, thị trường chứng khoán có những bước
phát triển mới, khung pháp lý về chứng khoán và thị trường chứng khoán cũng
có nhiều thay đổi, tác động mạnh tới vai trò của các định chế tài chính trên thị
trường chứng khoán. Chính vì vậy, người viết đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt
nghiệp là “Thực trạng và và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế
tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.
Khóa luận nhằm tìm hiểu những vai trò của các định chế tài chính trên
TTCK. Thông qua đó, khóa luận sẽ phân tích, đánh giá thực trạng những vai trò
chủ yếu và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế tài
chính trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với mục tiêu này, cấu trúc của khóa luận gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về định chế tài chính và vai trò của chúng
trên thị trường chứng khoán.
Chương II: Thực trạng vai trò của các định chế tài chính trên thị
trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của các định chế tài
chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của Cô giáo.
Xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ
CỦA CHÚNG TRÊN TTCK
I. Tổng quan về các định chế tài chính
1. Khái niệm
Thị trường tài chính là một bộ phận quan trọng, chi phối hoạt động của nền
kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của nó sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát
triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Thị trường tài chính là thị trường mà
trong đó vốn được chuyển từ những người hiện có dư thừa sang những người
thiếu vốn, tức là đưa vốn từ những người không thể sử dụng nó một cách sinh
lợi cho mình, sang những người có thể sử dụng nó một cách sinh lợi, nhờ vậy
đưa đến hiệu quả kinh tế cao hơn. Và một trong những nhân tố giúp cho thị
trường tài chính phát huy được vai trò của mình đối với nền kinh tế là các
ĐCTC - một trung gian quan trọng giúp thỏa mãn nhu cầu của cả những người
có vốn lẫn những người thiếu vốn.
Định chế tài chính là một doanh nghiệp mà tài sản chủ yếu của nó là các
tài sản tài chính hay còn gọi là các hình thức trái quyền (như cổ phiếu, trái
phiếu và các khoản cho vay); hay là một tổ chức nắm giữ các chứng khoán, các
giấy nhận nợ được phát hành bởi những người đi vay (chứng khoán sơ cấp) và
đồng thời bán các giấy nhận nợ của chính nó (chứng khoán thứ cấp) cho những
người tiết kiệm. Điều này có nghĩa, các tổ chức này huy động vốn từ những
người tiết kiệm và chuyển nó tới các nhà đầu tư bằng cách cho vay, mua các
chứng khoán, đồng thời cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng như dịch vụ
thanh toán, bảo quản tài sản, tư vấn đầu tư, môi giới, bảo hiểm…
Như vậy, các ĐCTC là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, khác với các
loại hình doanh nghiệp khác vì tài sản chủ yếu của các tổ chức này là các tài sản
tài chính, trong khi tài sản chủ yếu của các doanh nghiệp khác là các tài sản hiện
vật như nhà cửa, công cụ, nguyên liệu…
2. Chức năng và vai trò của các ĐCTC
Chức năng của các ĐCTC
Chức năng cơ bản nhất của các ĐCTC là chức năng dẫn vốn từ những
người có thu nhập nhiều hơn chi tiêu đến những người có nhu cầu sử dụng vốn
nhiều hơn thu nhập. Các ĐCTC đóng vai trò là người trung gian hay người thứ 3
giữa người cho vay và người đi vay vốn, và giúp cho vốn được luân chuyển từ
người này sang người kia. Các ĐCTC có các chức năng chủ yếu sau:
Chức năng tạo vốn
Để có thể cho vay hoặc đầu tư, các ĐCTC tiến hành huy động vốn tạm thời
nhàn rỗi trong nền kinh tế hình thành các quỹ tiền tệ tập trung. Với chức năng
này, các ĐCTC đã đem lại lợi ích cho chính mình và cho phần lớn những người
có những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua lãi suất huy
động vốn.
Chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế
Tiền vốn được huy động từ những người có vốn tạm thời nhàn rỗi là để
thực hiện mục tiêu cung ứng vốn cho những người tạm thời thiếu vốn. Trong
nền kinh tế thị trường, những người cần vốn là các doanh nghiệp, Chính phủ,
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Với chức năng này, các ĐCTC đã
cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời nhu cầu tài trợ vốn cho những người cần
vốn.
Chức năng kiểm soát
Các ĐCTC thực hiện chức năng kiểm soát nhằm giảm tới mức tối thiểu
vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức do thông tin không cân xứng gây
ra. Chức năng này giúp cho các chủ thể thuộc mọi vị trí khác nhau trong nền
kinh tế có thể đưa ra những quyết định hợp lý nhất đối với việc cho vay và đi
vay vốn.
Vai trò của các định chế tài chính
Ngày nay, các ĐCTC càng ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh
tế của mỗi quốc gia trên thế giới. Nó thực sự đem lại lợi ích cho cả người có
vốn, những người cần vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh,
bằng việc thỏa mãn nhu cầu về vốn của cả hai bên, một việc rất khó đối với mỗi
cá nhân tham gia trên thị trường.
 Hoạt động của các ĐCTC làm giảm bớt những chi phí thông tin và giao
dịch lớn cho mỗi cá nhân, tổ chức và cho nền kinh tế.
 Do chuyên môn hóa và thành thạo trong nghề nghiệp, các ĐCTC đáp
ứng đầy đủ, chính xác và kịp thời yêu cầu giữa người có vốn và người cần vốn.
 Bôi trơn các mối quan hệ tài chính thông qua việc thực hiện có hiệu quả
các dịch vụ như môi giới, tư vấn, tài trợ, trợ cấp và phòng ngừa rủi ro.
3. Hệ thống các định chế tài chính
Có rất nhiều cách khác nhau để phân loại các ĐCTC trên thị trường. Tuy
nhiên, để thuận tiện cho việc nghiên cứu của các phần tiếp theo, người viết xin
dựa vào cách phân loại các ĐCTC của Frederic S.Mishkin. Theo Mishkin, các
ĐCTC có thể được phân thành ba loại: các tổ chức nhận tiền gửi; các tổ chức
nhận tiền gửi tiết kiệm theo hợp đồng; các trung gian tài chính đầu tư.
3.1. Các tổ chức nhận tiền gửi
Các tổ chức nhận tiền gửi là những trung gian tài chính nhận tiền gửi từ
các cá nhân, tổ chức và cho vay. Nguồn vốn chủ yếu phục vụ cho các hoạt động
kinh doanh của các trung gian tài chính này là nhận tiền gửi từ các cá nhân và tổ
chức, và nguồn thu nhập chủ yếu là chênh lệch giữa các khoản đi vay và các
khoản cho vay. Nhóm các ĐCTC này bao gồm: NHTM; các hiệp hội tiết kiệm
và cho vay; các ngân hàng tiết kiệm tương trợ và các liên hiệp tín dụng.
 Các ngân hàng thương mại
Phần lớn người dân khi có nhu cầu về các giao dịch tài chính, họ thường
nghĩ tới các NHTM đầu tiên. Đây là trung gian tài chính quan trọng nhất trong
nền kinh tế, chủ yếu hoạt động bằng cách thu hút vốn thông qua các khoản tiền
gửi phát séc, tiền gửi tiết kiệm và các khoản tiền gửi có kỳ hạn. Sau đó, ngân
hàng sử dụng nguồn vốn này để cho vay, như cho vay thương mại, cho vay tiêu
dùng, cho vay thế chấp... Điểm đặc biệt của các ngân hàng là khả năng tạo tiền
cho nền kinh tế. Khi ngân hàng nhận được thêm một khoản tiền gửi, nó được lợi
thêm một khoản tiền dự trữ như thế; và ngược lại, khi nó mất đi một khoản tiền
gửi nó mất một khoản tiền dự trữ như thế. Lợi nhuận của ngân hàng được tạo ra
từ tổng thể các hoạt động chuyển đổi tài sản đi vay và cho vay. Đối với tất cả
các quốc gia trên thế giới, NHTM là một nhân tố không thể thiếu trong nền kinh
tế.
 Các hiệp hội tiết kiệm và cho vay
Nguồn vốn huy động chủ yếu của loại ĐCTC này là các khoản tiền gửi tiết
kiệm, các khoản tiền gửi có kỳ hạn, các tiền gửi phát séc được. Các khoản tiền
vốn huy động được chủ yếu dùng để cho vay thế chấp. Đây là điểm khác biệt
giữ các ĐCTC này với các NHTM. Các khoản vay thế chấp thường là các khoản
vay dài hạn, vì vậy mà các tổ chức này bị rằng buộc nhiều hơn so với các
NHTM. Khi luật pháp cho phép các tổ chức này có thể mở rộng phạm vi và đối
tượng cho vay thì nó sẽ trở thành một đối thủ cạnh tranh với các NHTM.
 Các ngân hàng tiết kiệm tương trợ
Định chế tài chính này giống như các hiệp hội cho vay và tiết kiệm, nhưng
khác ở chỗ họ luôn được tổ chức như có sự “tương trợ”, tức là họ hoạt động như
một hợp tác xã, trong đó những người sở hữu tiền gửi lại là các chủ ngân hàng.
 Các liên hiệp tín dụng
Đây là tổ chức cho vay rất nhỏ có tính chất hợp tác xã được tổ chức xung
quanh một nhóm xã hội đặc biệt: Các thành viên trong một liên hiệp là những
người làm công ăn lương của một công ty hay một tổ chức nào đó…Liên hiệp
tín dụng sẽ nhận các khoản tiền gửi rồi tiến hành cho vay thế chấp hoặc cho vay
tiêu dùng.
3.2. Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng
Các ĐCTC này có nguồn thu vốn một cách định kỳ trên cơ sở hợp đồng.
Họ có thể dự tính được tương đối chính xác khoản tiền phải thanh toán trong
thời gian tới nên họ có thể sử dụng một phần nguồn vốn của mình để đem đầu tư
vào các mục đích khác như trái phiếu công ty, các khoản cho vay thế chấp…Các
ĐCTC thuộc loại này bao gồm công ty bảo hiểm và quỹ trợ cấp.
 Công ty bảo hiểm
Bảo hiểm về bản chất là sự chia nhỏ rủi ro, là hoạt động thể hiện người bảo
hiểm đứng ra cam kết hợp đồng bồi thường theo quy luật thống kê cho người
được bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro, với điều kiện người được bảo
hiểm đã mua phí bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm là người ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhận trách nhiệm về
rủi ro, được hưởng phí bảo hiểm và bồi thường khi có tổ thất xảy ra.
Cùng với sự phát triển của xã hội, bảo hiểm có nhiều loại khác nhau, trong
đó có bảo hiểm thương mại và bảo hiểm xã hội. So với bảo hiểm xã hội thì bảo
hiểm thương mại có khả năng mất vốn hơn nếu tai họa xảy ra nên công ty bảo
hiểm thương mại thường nắm giữ các tài sản có tính lỏng hơn tài sản của công
ty bảo hiểm xã hội.
 Quỹ trợ cấp
Là các ĐCTC cung cấp thu nhập hưu trí dưới dạng các món nợ trợ cấp hàng
năm cho những người làm công thuộc phạm vi một chương trình trợ cấp. Vốn
nhận được từ sự đóng góp của những người thuê nhân công hoặc từ người làm
thuê. Tài sản có của quỹ chủ yếu là trái khoán công ty và cổ phiếu.
3.3. Các trung gian đầu tư
Nhóm ĐCTC này bao gồm công ty tài chính, quỹ đầu tư và các công ty
chứng khoán.
 Công ty tài chính
Đây là các ĐCTC mà nguồn vốn là các khoản vay trung và dài hạn bằng
cách phát hành các trái khoán hoặc cổ phiếu nhưng lại cho vay những món tiền
nhỏ, ngược lại với hoạt động của các NHTM là huy động các món tiền nhỏ và
cho vay trung và dài hạn.
Các công ty tài chính có một số đặc điểm khác với các NHTM như: không
nhận tiền gửi ngắn hạn và dưới hình thức mở tài khoản của các cá nhân và tổ
chức; không thực hiện các dịch vụ thanh toán và tiền mặt, không sử dụng vốn
vay của dân để làm phương tiện thanh toán; và không bị kiểm soát chặt chẽ như
các NHTM.
 Quỹ đầu tư
Quỹ đầu tư là một ĐCTC thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để
đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ hay các loại tài sản khác. Tất cả các
khoản đầu tư này đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý
quỹ, ngân hàng giám sát và các cơ quan có thẩm quyền khác.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều cách phân loại quỹ đầu tư.
 Căn cứ vào nguồn vốn huy động: có quỹ công chúng và quỹ thành viên.
- Quỹ công chúng là quỹ huy động bằng cách phát hành rộng rãi ra công
chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhưng đa phần là nhà đầu
tư riêng lẻ.
- Quỹ thành viên là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành riêng lẻ cho một
nhóm nhỏ các nhà đầu tư (có thể lựa chọn trước) là các cá nhân hay các ĐCTC
hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ sẽ thấp hơn quỹ
công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ này thường có lượng vốn lớn, và đổi lại
họ có thể tham gia vào kiểm soát đầu tư của quỹ.
 Căn cứ vào cấu trúc huy động vốn: có quỹ đóng và quỹ mở.
Quỹ đóng là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ một lần duy nhất khi tiến
hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện mua lại cổ phiếu/chứng chỉ
quỹ khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo ra tính thanh khoản cho loại
quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ
này sẽ được niêm yết trên TTGDCK. Tổng số vốn huy động của quỹ sẽ không
thay đổi trong suốt thời gian hoạt động của quỹ.
Khác với quỹ đóng, tổng số vốn huy động của quỹ mở biến động theo từng
ngày giao dịch do tính chất đặc thù của quỹ là nhà đầu tư được quyền bán lại
chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ quỹ đầu tư
theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch. Đối với hình thức quỹ này, các giao
dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ và
các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên TTGDCK. Do đòi hỏi tính thanh
khoản cao nên quỹ dạng này chỉ tồn tại ở những nước có nền kinh tế và TTCK
phát triển như Mỹ, châu Âu, Canada…
 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ : có quỹ đầu tư dạng
công ty và quỹ đầu tư dạng hợp đồng.
- Quỹ đầu tư dạng công ty là một pháp nhân, tức là một công ty được
hình thành theo quy định của pháp luật của từng nước. Cơ quan điều hành cao
nhất của quỹ là hội đồng quản trị do các cổ đông (nhà đầu tư) bầu ra, có nhiệm
vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của qũy, lựa chọn công ty quản lý quỹ,
giám sát hoạt động của công ty quản lý quỹ và có quyền thay đổi công ty quản
lý qũy.
- Quỹ đầu tư dạng hợp đồng là mô hình quỹ tín thác đầu tư. Trong mô
hình này, quỹ đầu tư không phải là một pháp nhân. Công ty quản lý quỹ đứng ra
thành lập, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục
tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ
(nhưng không phải là cổ đông của quỹ) và ủy thác cho công ty quản lý quỹ để
đảm bảo khả năng sinh lời cao nhất từ khoản vốn đóng góp.
 Công ty chứng khoán
CTCK là một tổ chức ở thị trường chứng khoán, thực hiện trung gian tài
chính thông qua một số nghiệp vụ như: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng
khoán, đại lý phát hành và bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn chứng khoán
…Nhờ có các tổ chức này trên thị trường chứng khoán mà các chứng khoán
được buôn bán tập nập trên thị trường, qua đó, một lượng vốn lớn từ các nguồn
lẻ tẻ, phân tán trong dân được tập hợp lại.
II. Các định chế tài chính tham gia trên TTCK
1. Một số vấn đề cơ bản về TTCK
1.1. Khái niệm và bản chất của TTCK
Trong nền kinh tế thị trường, dòng vốn luân chuyển từ người cho vay –
người tiết kiệm tới người đi vay thông qua hai con đường chính là tài chính trực
tiếp và tài chính gián tiếp. Trong tài chính gián tiếp, vốn được chuyển từ người
cho vay tới người đi vay thông qua trung gian tài chính, chủ yếu là các NHTM.
Còn trong tài chính gián tiếp, người đi vay vay vốn trực tiếp của người cho vay
bằng cách phát hành chứng khoán trên TTCK.
Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền và lợi ích
hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với vốn hay tài sản của tổ chức
phát hành. Chứng khoán bao gồm:
 Cổ phiếu
 Trái phiếu
 Chứng chỉ quỹ đầu tTTCK
 Các loại chứng khoán khác (quyền mua, chứng quyền, options,
futures, các chỉ số chứng khoán, nhóm chứng khoán).
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các
loại chứng khoán.
Hoạt động mua bán chứng khoán được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi
người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở
những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát
hành ở thị trường sơ cấp.
Như vậy, xét về hình thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi,
mua bán, chuyển nhượng các chứng khoán, qua đó làm thay đổi chủ thể nắm giữ
chứng khoán.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ
cấp hay thứ cấp; tại sở giao dịch hay thị trường chứng khoán phi tập trung; ở thị
trường giao ngay hay thị trường có kỳ hạn. Quan hệ mua bán, trao đổi này làm
thay đổi chủ sở hữu chứng khoán, và như vậy, đây thực chất là quá trình vận
chuyển tư bản, chuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh..
Xét về bản chất, TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ cung cầu của vốn
đầu tư mà ở đó, giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay
giá cả của vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán không giống như các thị trường
hàng hoá thông thường khác vì hàng hoá trên thị trường chứng khoán là một loại
hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản.
1.2. Cấu trúc của TTCK
Có rất nhiều cách để phân chia TTCK theo các tiêu chí khác nhau. Sau
đây là một số cách phân chia phổ biến:
Phân loại theo sự luân chuyển của các nguồn vốn
Theo tiêu thức này, có thể chia TTCK thành thị trường sơ cấp và thị trường
thứ cấp.
 Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1
Là nơi phát hành chứng khoán hoặc nơi chứng khoán mua bán lần đầu tiên.
Thông qua thị trường sơ cấp, các doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu hay
trái phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp; Chính phủ có thể phát hành trái
phiếu để huy động tiền từ tất cả các thành phần của nền kinh tế. Thị trường sơ
cấp là nơi duy nhất đem lại vốn cho người phát hành. Hàng hóa trên thị trường
sơ cấp có thể là các chứng khoán mới phát hành, cả chứng khoán phát hành lần
đầu và phát hành bổ sung, hoặc chứng khoán do cổ phần hóa các công ty phát
hành. Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do người phát hành quyết định.
Những người bán trên thị trường sơ cấp có thể là kho bạc, ngân hàng trung
ương, công ty phát hành, công ty bảo lãnh phát hành…
 Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 Là nơi giao dịch các chứng
khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Trên thị trường này, các chứng
khoán được mua bán tiếp theo nhiều lần sau đợt phát hành đầu tiên trên thị
trường sơ cấp. Chứng khoán được mua bán tự do giữa các nhà đầu tư và giá cả
chứng khoán lên hay xuống do cung cầu chứng khoán trên thị trường (định giá
cao hay thấp giá trị cổ phần của công ty phát hành). Các nhà đầu tư sẽ kiếm
được lợi nhuận dựa vào chênh lệch giá do bán cổ phiếu với giá cao hơn so với
mức mua vào nên nhà đầu tư cần phải nghĩ đến khả năng tính toán và chịu đựng
rủi ro. Do đó, thị trường thứ cấp không đem lại vốn cho nhà phát hành như trên
thị trường sơ cấp. 1.2.2. Phân loại theo hàng hoá
Theo các loại hàng hoá mua bán trên thị trường, có thể chia TTCK thành thị
trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh.
 Thị trường trái phiếu
Là thị trường mà tại đó các hàng hóa được mua bán trên đó là các trái
phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát hành này là nhà phát
hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả lãi lẫn gốc. Người cho vay
sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sử dụng vốn của
người đi vay và trong mọi trường hợp, nhà phát hành phải có trách nhiệm hoàn
trả cho trái chủ theo các cam kết đã được xác định trong hợp đồng cho vay. Trái
phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là trung hạn hoặc dài hạn.
 Thị trường cổ phiếu
Là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp
của cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong
phần đóng góp của mình. Với việc nắm giữ cổ phiếu của công ty, cổ đông có
quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản
của công ty khi tài sản này được thanh lý khi công ty phá sản. Cổ phiếu thường
có thời hạn bằng thời hạn tồn tại của công ty cổ phần.
 Thị trường phái sinh
Là nơi các chứng khoán phái sinh được giao dịch, mua bán. Các chứng
khoán phái sinh như: hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng kỳ
hạn, quyền mua và chứng quyền.
a. Phân loại theo hình phương thức hoạt động.
Theo tiêu chí này, TTCK có thể được chia thành thị trường tập trung và thị
trường phi tập trung (hay còn gọi là thị trường OTC)
 Thị trường tập trung (hay sở giao dịch chứng khoán hay trung tâm
giao dịch chứng khoán):
Là một địa điểm nhất định để người mua và người bán (hoặc đại lý hoặc
môi giới của họ) tiến hành các giao dịch, mua bán chứng khoán.
Sở giao dịch chứng khoán được quản lý bởi Uỷ ban chứng khoán quốc gia.
Các giao dịch trên sở giao dịch chịu sự điều tiết của Luật về chứng khoán và
TTCK.
Muốn tham gia vào thị trường tập trung cần phải đăng ký làm thành viên,
và các chứng khoán muốn được giao dịch trên thị trường cũng cần phải được
đăng ký chính thức tại sở giao dịch. Các giao dịch tại Sàn giao dịch được thực
hiện thông qua một chủ thể đặc biệt, chuyên hoạt động trên thị trường này, đó là
môi giới chứng khoán.
 Thị trường phi tập trung (hay còn gọi là thị trường OTC)
Là nơi mua bán các chứng khoán chưa hoặc không đủ điều kiện để niêm
yết tại thị trường tập trung theo quy định về chứng khoán và TTCK của từng
quốc gia.
Thị trường OTC là thị trường tài chính không có địa điểm giao dịch hiện
hữu, mọi hoạt động giao dịch được thực hiện thông qua hệ thống mạng máy tính
tại quầy, sàn giao dịch của các thành viên. Do đó, thị trường này còn được gọi là
thị trường không chính thức. Giá cả trên thị trường phi tập trung được hình
thành dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên.
Với việc không cần phải tập trung và không cần phải đăng ký chính thức,
số lượng các thành viên của thị trường OTC khá đông đảo, và do đó các giao
dịch được thực hiện thông qua thị trường này cũng lớn hơn rất nhiều so với các
giao dịch được thực hiện thông qua thị trường chính thức.
1.3. Chức năng của TTCK
TTCK là một kênh huy động vốn trực tiếp, cung cấp nguồn vốn trung và
dài hạn cho nền kinh tế. TTCK là bù đắp cho những khuyết điểm trên thị trường
vốn gián tiếp. TTCK có các chức năng chủ yếu sau:
 Huy động vốn cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
phần vào hoạt động mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và
chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích
sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cho nhu cầu chung của xã
hội.
 Cung cấp một môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các
cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau
về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn hàng
hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
 Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Nhờ có TTCK mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở
hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng
thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư khi đưa ra
các quyết định đầu tư của mình. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, mức độ an
toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính
thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.
 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua chứng khoán, tình hình hoạt động của các doanh nghiệp được
phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh
hoạt động của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo
ra một môi trường cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các
doanh nghiệp.
 Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô.
Các chỉ báo trên TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy
bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng,
nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại, giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu
hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là “Phong vũ biểu” của
nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính
sách vĩ mô. Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính
phủ để tạo nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra,
Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào
TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh
tế.
1.4. Các chủ thể tham gia trên TTCK
TTCK là một thực thể phức tạp mà ở đó có sự tham gia của rất nhiều chủ
thể khác nhau. Các chủ thể này tham gia với các mục đích rất đa dạng như: huy
động vốn, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, hay quản lý Nhà nước…Các chủ thể trên
TTCK có thể bao gồm các nhóm sau:
 Chủ thể phát hành:
Là người cung cấp hàng hóa - các chứng khoán - cho TTCK. Các chủ thể
phát hành có thể là Chính phủ và các chính quyền địa phương (phát hành các
trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, tín phiếu kho bạc); công ty (phát
hành trái phiếu công ty, cổ phiếu); quỹ đầu tư (phát hành chứng chỉ quỹ…)
 Nhà đầu tư
Là những người có tiền, thực hiện việc mua bán, trao đổi chứng khoán trên
TTCK để tìm kiếm lợi nhuận. Nhà đầu tư bao gồm nhà đầu tư cá nhân và nhà
đầu tư có tổ chức.
o Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình, những người có vốn
tạm thời nhàn rỗi, tham gia đầu tư vào TTCK với nhiều mục đích khác nhau
như: mua chứng khoán để hưởng lợi tức hàng năm, bán lại chứng khoán của
mình để rút vốn ra trước hạn hoặc để nhận được khoản chênh lệch giá thặng dư.
Họ tham gia vào TTCK bằng hai cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua các quỹ tương
hỗ, các quỹ đầu tư… Trong đầu tư, lợi nhuận luôn tỷ lệ thuận với rủi ro, lợi
nhuận càng cao thì mức độ chấp nhận rủi ro của các nhà đầu tư càng cao và
ngược lại. Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân luôn phải tìm kiếm danh mục
đầu tư phù hợp với khả năng tài chính và mức độ chấp nhận rủi ro của mình.
o Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán
chứng khoán trên thị trường với khối lượng lớn. Các nhà đầu tư có tổ chức tiêu
biểu trên TTCK như: NHTM, CTCK, quỹ tương hỗ, các công ty bảo hiểm... Các
nhà đầu tư có tổ chức thường là những nhà đầu tư chuyên nghiệp, có kinh
nghiệm và có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư, vì vậy có thể giảm được rủi ro
trong đầu tư chứng khoán. Trong số các nhà đầu tư có tổ chức, các NHTM đóng
vai trò quan trọng nhất, ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển TTCK cả
đối với thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
 Các tổ chức có liên quan đến TTCK.
Trên TTCK, ngoài các nhà phát hành và các nhà đầu tư còn có các tổ chức
có liên quan khác. Nhờ có các tổ chức này mà TTCK mới có thể hoạt động một
cách có hiệu quả, phát huy được vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung
và đối với thị trường tài chính nói riêng. Các tổ chức liên quan tới TTCK bao
gồm:
2.3. Các định chế tài chính tham gia trên TTCK
Sự hình thành và phát triển của TTCK đã thu hút được sự tham gia của hầu
hết các ĐCTC, như NHTM, quỹ tín dụng, hiệp hội cho vay và tiết kiệm, công ty
bảo hiểm, quỹ tương trợ, công ty tài chính, CTCK và quỹ đầu tư.
Trong đó,
 Có những ĐCTC vốn là các chủ thể quan trọng trên các thị trường tiền tệ,
thị trường bảo hiểm, như NHTM, công ty tài chính, công ty bảo hiểm, nhưng khi
tham gia trên TTCK thì như được “chắp thêm cánh” với công cụ hoạt động mới
là chứng khoán và các dịch vụ liên quan đến chứng khoán. Thông thường, các
NHTM, những nhà kinh doanh chuyên nghiệp trên thị trường tiền tệ với tiềm lực
tài chính, kinh nghiệm, mạng lưới hoạt động, công nghệ,… là một trung gian
đóng vai trò quan trọng nhất trên TTCK.
 Hoặc các ĐCTC, như CTCK, quỹ đầu tư chứng khoán, tổ chức ĐMTN,
mà sự tồn tại và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của TTCK.
Vai trò của các ĐCTC này chủ yếu được hiện thông qua các hoạt động trên
TTCK.
Tùy theo tính chất riêng và quy định của mỗi quốc gia, mức độ tham gia
của các ĐCTC trên TTCK sẽ khác nhau, những nhìn chung bao gồm các hoạt
động:
 Hoạt động phát hành chứng khoán
 Hoạt động kinh doanh chứng khoán
 Bảo lãnh phát hành
 Môi giới chứng khoán
 Tư vấn chứng khoán
 Quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư
 Thanh toán và lưu ký chứng khoán
 Các dịch vụ phụ trợ khác như ngân hàng giám sát; cấp tín dụng;
ĐMTN; kiểm toán công ty niêm yết, tổ chức phát hành và tổ
chức kinh doanh chứng khoán…
Những hoạt động này cũng như vai trò của các ĐCTC trên thị trường
chứng khoán sẽ được phân tích rõ ở những phần tiếp theo.
2.4. Nội dung hoạt động của các định chế tài chính trên TTCK
Các ĐCTC có thể tham gia vào TTCK nhằm huy động vốn cho chính họ và
thực hiện mua bán chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư chứng khoán có tổ
chức, hoặc tham gia thị trường thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho TTCK
như: đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán; tư vấn, môi giới chứng khoán;
quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư; thanh toán, lưu ký chứng khoán,
cấp tín dụng ….
Hoạt động của các ĐCTC trên TTCK có thể được tổ chức dưới các mô hình
sau:
 Mô hình ngân hàng đa năng
Theo mô hình này thì các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là
chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này
được biểu hiện dưới hai hình thức sau:
o Loại đa năng một phần
Theo mô hình này, các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh
doanh bảo hiểm thì phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động
tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ. Mô hình này còn được gọi là mô hình
ngân hàng kiểu Anh.
o Loại đa năng toàn phần
Các ngân hàng được trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo
hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác. Mô hình này
còn được gọi là mô hình kiểu Đức.
Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực
kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa
dạng hóa đầu tư. Ngoài ra, nó còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của
ngân hàng trước những biến động của thị trường tài chính. Mặt khác, khi tuân
theo mô hình này, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là tổ chức
kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu rõ về khách hàng
cũng như doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự án.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế nhất định. Thứ nhất, vì vừa
là tổ chức tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán nên khả năng chuyên
môn không sâu bằng các CTCK chuyên doanh. Thứ hai, do không tách bạch
được hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán, đặc biệt đối
với các nước đang phát triển với môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, các ngân
hàng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường. Trong trường hợp này, các biến
động trên TTCK sẽ tác động mạnh tới kinh doanh tiền tệ, gây tác động dây
chuyền và có thể dẫn tới khủng khoảng thị trường tài chính. Bên cạnh đó, do
không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên các ngân hàng có thể sử
dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cư để đầu tư chứng khoán, và khi thị trường
chứng khoán có những biến động theo chiều hướng xấu sẽ tác động tới công
chúng thông qua việc rút tiền ồ ạt, làm cho các ngân hàng rơi vào tình trạng mất
khả năng chi trả.
 Mô hình chuyên doanh chứng khoán
Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty
độc lập và chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân
hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán.
Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng,
tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực chứng
khoán để thúc đẩy thị trường phát triển. Tuy nhiên, nhược điểm là không phát
huy được các lợi thế của các NHTM. Mô hình này được áp dụng khá phổ biến
tại các thị trường như Mỹ, Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái
Lan…
2.4.1. Hoạt động phát hành chứng khoán
Các ĐCTC trước hết cũng là các doanh nghiệp, một loại hình doanh
nghiệp đặc biệt với tài sản chủ yếu là các tài sản tài chính. Các doanh nghiệp
này cũng có nhu cầu huy động vốn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của
mình, trong đó có hoạt động kinh doanh chứng khoán. Và TTCK cũng trở thành
một kênh huy động vốn có hiệu quả cho các doanh nghiệp này. Các ĐCTC huy
động vốn trên TTCK bằng cách phát hành các loại chứng khoán khác nhau, phù
hợp với đặc điểm riêng của ĐCTC đó.
 Ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính, CTCK phát hành cổ
phiếu, trái phiếu và các công cụ chuyển đổi khác.
 Quỹ đầu tư, quỹ tương trợ thị trường tiền tệ phát hành cổ phiếu và các
chứng chỉ quỹ.
Trên TTCK, các ĐCTC được coi là đối tượng huy động vốn quan trọng,
đóng góp một lượng hàng hóa có chất lượng cho thị trường. Chứng khoán của
các ĐCTC khi phát hành ra thị trường thường có độ hấp nhất cao đối với các
nhà đầu tư do uy tín của các ĐCTC này và thường có tính thanh khoản cao hơn
so với các loại chứng khoán của các doanh nghiệp khác. Thêm vào đó, với tính
chuyên nghiệp và uy tín cao trên thị trường tài chính, hoạt động phát hành của
các ĐCTC thường có lợi thế hơn các công ty khác, do đó có thể thu được lượng
vốn lớn với chi phí thấp.
2.4.2. Kinh doanh chứng khoán
Các ĐCTC được coi là những nhà đầu tư có tổ chức trên TTCK. Hoạt động
kinh doanh chứng khoán của các ĐCTC là yếu tố mang tính dẫn dắt thị trường,
trợ giúp cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của thị trường vì hoạt động
này có tính chuyên nghiệp cao, quy mô thường lớn và tính đa dạng hóa cao hơn
nhiều so với hoạt động kinh doanh chứng khoán của các nhà đầu tư cá nhân.
Tùy theo đặc điểm trong hoạt động kinh doanh của từng ĐCTC, có thể
chia hoạt động kinh doanh chứng khoán thành hai loại: hoạt động ngân quỹ và
hoạt động đầu tư chứng khoán.
 Hoạt động ngân quỹ
Đây là một trong những hoạt động của các NHTM và các tổ chức tín dụng
khác. Các ĐCTC này thường đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản
cao, chủ yếu nhằm dự trữ thứ cấp cho nhu cầu thanh toán, dự phòng và tích trữ.
Các loại chứng khoán này bao gồm tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi có thể
chuyển nhượng được.
Hoạt động ngân quỹ là cầu nối quan trọng giữa thị trường tín dụng và
TTCK. Khi thị trường tín dụng trầm lắng thì một bộ phận vốn trên thị trường
này sẽ được dịch chuyển thông qua hoạt động mua chứng khoán của các ĐCTC
trên TTCK. Ngược lại, khi thị trường tín dụng sôi động thì các ĐCTC sẽ bán
chứng khoán để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động tín dụng. Điều này giúp cho các
tổ chức tín dụng có thể tận dụng được tối đa các nguồn vốn để nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của mình. Mặt khác, sự cạnh tranh giữa hai thị trường
này sẽ là chất xúc tác làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trường tín dụng.
Tuy nhiên, biến động của TTCK cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
ngân quỹ của các ĐCTC. Vì hoạt động này đòi hỏi sự sẵn có các công cụ có tính
thanh khoản cao, chi phí giao dịch thấp và tính ổn định của thị trường nên những
biến động xấu của TTCK có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng
thanh toán của các ĐCTC tiến hành hoạt động ngân quỹ.
 Hoạt động đầu tư chứng khoán
Chiến lược đầu tư chứng khoán của các ĐCTC được xây dựng với các danh
mục đầu tư đa dạng như danh mục đầu tư trái phiếu, danh mục đầu tư cổ phiếu
và danh mục đầu tư hỗn hợp. Các ĐCTC khác nhau sẽ lựa chọn các danh mục
đầu tư với mức độ rủi ro khác nhau để đảm bảo an toàn trong hoạt động thông
thường khác của mình.
 Ngân hàng, các tổ chức tín dụng và công ty bảo hiểm sẽ lựa chọn chiến
lược đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu công ty,
cổ phiếu của các doang nghiệp hoạt động kinh doanh tốt.
 Quỹ đầu tư chứng khoán lựa chọn đầu tư vào các chứng khoán giao dịch
trên sàn.