Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại vùng đồng bằng sông hồng

  • 29 trang
  • file .doc
A .Lời nói đầu
Trong số những thành tích đạt được của công cuộc đổi mới nền kinh tế
đất nước, trong thời gian qua, có thể nói nông nghiệp là một ngành đã có
những bước đột phá ngoạn mục. Thu nhập của nông dân không ngừng tăng
lên, bộ mặt nông thôn được cải thiện đáng kể. Sản xuất nông nghiệp đã đảm
bảo an toàn lương thực cho đời sống xã hội.
Thế nhưng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trong
thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế mạnh mẽ như hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé. Cho
đến bây giờ, nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệp vùng Đồng
bằng Sông Hồng vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả và thiếu tính hợp lý.
Cần phải hình thành và phát triển những hình thức sản xuất phù hợp hơn, mà
trong đó, kinh tế trang trại là một mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêu
cầu này.
Đã manh nha từ rất lâu, nhưng chỉ trong khoảng chục năm trở lại đây,
vai trò của kinh tế trang trại mới thực sự được công nhận và được quan tâm
chú ý, đặc biệt là sau khi nghị quyết số 03/2000 - CP của Chính phủ ngày
02/2/2000 về kinh tế trang trại ra đời, thì kinh tế trang trại ở Việt Nam mới có
được một sự trợ giúp của Nhà nước về cơ chế, chính sách như là hỗ trợ cho
các doanh nghiệp thông thường của nền kinh tế thị trường. Sự tăng nhanh về
số lượng, gia tăng về giá trị sản lượng đã chứng tỏ đây là một mô hình tổ chức
sản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp, nông thôn
nước ta, giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và cho xã hội.
Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy mô
đất đai lớn như ở vùng trung du miền núi phía Bắc hay vùng đồng bằng phía
Nam, nhưng đồng bằng sông Hồng vốn là vùng có truyền thống sản xuất nông
nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh cao nhất cả nước. Nhưng để ngành nông
nghiệp của vùng đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kì mới thì phải
hợp lý hoá, hiệu quả hoá sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác một cách triệt
để tiềm năng về đất đai cũng như khả năng lao động của con người vùng châu
thổ này, và mô hình kinh tế trang trại là phù hợp hơn cả. Những năm qua kinh
---------------------------------------------------------------------------------------- 1
Nguyễn Quang Tiệp
tế trang trại vùng đồng bằng sông Hồng đã có nhiều thành tích đáng khích lệ,
nhưng thật sự vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của nó. Câu hỏi
đặt ra là: khả năng phát triển kinh tế trang trại của vùng đến đâu? Làm sao để
mô hình được áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất? Trả lời cho
câu hỏi này chính là mục đích của đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát
triển kinh tế trang trại vùng đồng bằng sông Hồng”.
---------------------------------------------------------------------------------------- 2
Nguyễn Quang Tiệp
B. Nội Dung
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển
kinh tế trang trại
I. Khái niệm, đặc trưng và phân loại
1. Khái niệm về kinh tế trang trại 1
1.1. Trang trại
Gần với khái niệm trang trại, người ta hay sử dụng khái niệm điền trang
hay nông trang. Nhưng về bản chất, chúng là các cách gọi khác nhau của một
đơn vị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với quy mô lớn theo hướng sản xuất
hàng hoá.
1.2. Kinh tế trang trại
Về kinh tế trang trại, có nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác nhau:
Có quan điểm cho rằng: “Kinh tế trang trại là loại hình cơ sở sản xuất
nông nghiệp, hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường từ khi
phương thức này thay thế phương thức sản xuất phong kiến. Trang trại được
hình thành từ các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp tự túc khép kín,
vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hoá tiếp cận với thị trường, từng bước
thích nghi với nền kinh tế cạnh tranh” (1)
Trong nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang
trại. Chính phủ ta đã thống nhất nhận thức về kinh tế trang trại như sau: “Kinh
tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông
thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu
quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng
rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông - lâm - thuỷ sản”.
Như vậy có thể tóm lại: Kinh tế trang trại là một trong những hình thức
tổ chức sản xuất cơ sở trong nông - lâm - ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là
sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay thuộc quyền sử
(1)
Báo cáo chuyên đề: “Chính sách phát triển trang trại và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao
động nông thôn”, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2002.
---------------------------------------------------------------------------------------- 3
Nguyễn Quang Tiệp
dụng của một chủ thể độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô đất đai và
các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách tổ chức quản lý tiến bộ và
trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường.
2. Đặc trưng của kinh tế trang trại
2.1. Mục đích sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất nông - lâm -
thuỷ sản hàng hoá với quy mô lớn
Knh tế trang trại là kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa, khác với kinh
tế tiểu nông tự cấp tự túc. K.Marx đã phân biệt chủ trang trại với người tiểu
nông như sau:
- Chủ trang trại bán ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra
- Người tiểu nông dùng đại bộ phận sản phẩm làm ra và mua bán càng ít
càng tốt.
Đây là điểm khác biệt lớn nhất của kinh tế trang trại so với kinh tế cá thể
sản xuất nông nghiệp trước đây. Sản xuất hàng hoá đòi hỏi các trang trại phải
có quy mô lớn để giảm chi phí đầu vào, tạo ra sản phẩm hàng hoá với giá
thành cạnh tranh, chất lượng cao. Đến lượt nó, sản xuất quy mô lớn lại càng
đòi hỏi phải làm ra sản phẩm hàng hoá để trao đổi trên thị trường vì rõ ràng
người chủ trang trại không thể tiêu dùng hết được.
Quy mô của trang trại lớn gấp nhiều lần quy mô của hộ gia đình hay kiểu
tiểu nông. Nó được đánh giá bằng diện tích đất đai sử dụng, hay bằng giá trị
sản lượng làm ra trong một năm hoặc đo bằng tỉ suất hàng hoá của trang trại.
2.2. Quá trình tích tụ ruộng đất và vốn đầu tư dẫn đến chuyên môn hoá
và hình thành các vùng chuyên canh
Bất kì một hình thức sản xuất nông nghiệp nào cũng cần có sự tập trung
đất đai và vốn ở mức độ nhất định. Do tính chất sản xuất hàng hoá quy mô
lớn, quá trình phát triển kinh tế trang trại sẽ dần tạo ra những vùng, tiểu vùng
sản xuất nông nghiệp với cơ cấu sản xuất khác nhau:
- Cơ cấu sản xuất độc canh: là mức phát triển thấp của kinh tế trang trại.
Trang trại chỉ sản xuất kinh doanh một loại cây (con) nhất định, tính chuyên
nghiệp, chuyên môn và tính chất hàng hoá chưa cao.
---------------------------------------------------------------------------------------- 4
Nguyễn Quang Tiệp
- Cơ cấu sản xuất đa dạng: trang trại kết hợp nhiều loại cây trồng vật
nuôi để tận dụng mọi năng lực sản xuất của mình.
-Cơ cấu sản xuất chuyên môn hoá: đây là giai đoạn trang trại đã tích luỹ
đủ về đất đai, vốn, năng lực và kinh nghiệm quản lý để tham gia vào hệ thống
phân công lao động xã hội. Khác với cơ cấu độc canh, sản xuất chuyên môn
hoá đòi hỏi ứng dụng rộng rãi những tiến bộ khoa học kĩ thuật và đạt đến
trình độ, tính chất sản xuất hàng hoá cao. Dần dần, nhiều trang trại cùng
chuyên môn hoá một loại cây trồng, vật nuôi có thể hình thành nên những
vùng chuyên canh rộng lớn.
2.3. Tổ chức và quản lý sản xuất theo phương thức tiến bộ
Dựa trên cơ sở thâm canh, chuyên môn hoá sản xuất, các trang trại phải
có cơ chế tổ chức và quản lý sản xuất như là các đơn vị kinh doanh khác, tức
là phải hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận với thị
trường, khác với lối sản xuất “làm tới đâu thì tới” của kinh tế tiểu nông. Ở
đây hiệu quả kinh tế được đặt lên hàng đầu nên tất cả các hoạt động sản xuất
đều phải tính toán lợi ích - chi phí bỏ ra.
Lao động trong trang trại có hai bộ phận: lao động quản lý (thường là
chủ trang trại) và lao động trực tiếp (lao động gia đình và lao động làm thuê).
Số lượng lao động thuê mướn thay đổi tuỳ loại hình trang trại và quy mô
trang trại khác nhau.
Chủ trang trại là người có kiến thức và kinh nghiệm, trực tiếp điều hành
sản xuất, biết áp dụng khoa học công nghệ. Thu nhập của trang trại vượt trội
so với kinh tế hộ.
3. Phân loại kinh tế trang trại
3.1. Theo quy mô đất sử dụng, có thể chia 4 loại:
- trại nhỏ: dưới 2 ha
- Trang trại vừa: 2 - 5 ha
- Trang khá lớn: 5 - 10 ha
-Trang trại lớn: trên 10 ha
---------------------------------------------------------------------------------------- 5
Nguyễn Quang Tiệp
3.2. Phân loại theo cơ cấu sản xuất, chia thành:
* Trang trại trồng trọt:
- Trang trại trồng rừng: thường có quy mô lớn và được phát triển ở các
vùng núi phía Bắc.
- Trang trại trồng cây ăn quả: Đây là loại hình trang trại phổ biến không
chỉ ở miền núi mà còn rất thích hợp với vùng đồng bằng, đặc biệt là Đồng
bằng Bắc Bộ và Đồng bằng Nam Bộ.
- Trang trại trồng cây lương thực, thực phẩm: quy mô đất nhỏ. Rất phù
hợp với điều kiện đất đai và khí hậu vùng đồng bằng.
*Trang trại chăn nuôi: Loại hình trang trại này cũng rất đa dạng.
*Trang trại thuỷ sản: loại hình trang trại này rất đặc thù, nhất thiết phải
có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản với một diện tích nhất định.
*Trang trại kinh doanh tổng hợp: chủ trang trại có thể kết hợp trồng trọt
với chăn nuôi, trồng trọt với nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất với dịch vụ, tiểu
thủ công nghiệp hoặc thậm chí tất cả các hình thức miễn sao có lợi.
3.3. Phân loại trang trại theo chủ thể kinh doanh
Theo chủ thể kinh doanh, có thể chia kinh tế trang trại thành:
- Trang trại nhà nước: như nông trường quốc doanh, công ty nông nghiệp
nhà nước, có quy mô lớn nên hình thành nên nhiều cấp trung gian.
- Trang trại của công ty hợp doanh: Là loại hình kinh doanh nông nghiệp
quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hoá của các công ty hợp doanh.
- Trang trại gia đình: Đây là loại hình phổ biến nhất của kinh tế trang trại
trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Loại hình này thực chất là
các hộ nông dân từ kinh tế tiểu nông sản xuất tự túc, tiến lên kinh tế trang trại
sản xuất hàng hoá với các mức độ khác nhau.
---------------------------------------------------------------------------------------- 6
Nguyễn Quang Tiệp
II. Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế -xã hội vùng
Đồng bằng Sông Hồng
1. Phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu của quá trình phát triển sản
xuất nông nghiệp - nông thôn
Các ngành sản xuất đều có xu hướng tích luỹ về vốn và các yếu tố sản
xuất khác: tư liệu, lao động, kinh nghiệm, trình độ quản lý... Trong nông
nghiệp cũng vậy. Lúc đầu Marx cũng cho rằng đây là điều tất yếu trong qúa
trình công nghiệp hoá nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa nhưng trong tác
phẩm cuối cùng của mình, ông đã viết: “Ngay ở nước Anh nền công nghiệp
phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông
nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không dùng lao động làm
thuê”. (2) Sở dĩ như vậy là vì sản xuất nông nghiệp có đặc trưng khác với công
nghiệp ở chỗ là phải tác động vào những vật sống (cây trồng, vật nuôi) nên
không phù hợp với hình thức tổ chức sản xuất tập trung quy mô quá lớn.
Công cuộc đổi mới kinh tế và đổi mới nông nghiệp của Việt Nam mới
bắt đầu cách đây gần hai chục năm. Cơ chế thị trường không chỉ tác động
mạnh mẽ đến hoạt động của các ngành công nghiệp, dịch vụ mà còn làm thay
đổi căn bản mục đích và do đó thay đổi cả phương thức sản xuất trong nông
nghiệp. Sự phát triển của trao đổi hàng hoá đặt ra yêu cầu làm ra sản phẩm
phải là hàng hoá với giá cả hợp lý và chất lượng đảm bảo hơn.
Khi nông nghiệp đã có một bước chuyển mình đáng kể, nhiều hộ nông
dân đã giàu lên, nhận thức và hiểu biết về khoa học kĩ thuật ngày càng sâu
sắc, kinh nghiệm và khả năng quản lý, tổ chức sản xuất ngày càng được nâng
cao, vốn tích luỹ đạt đến một mức độ nhất định, thì cũng là lúc người kinh
doanh nông nghiệp phải nghĩ đến một hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp
mới, có quy mô lớn hơn, tỉ suất lợi nhuận cao hơn. Thế là họ bỏ vốn, lập nên
các trang trại, thuê nhân công và hoạt động như một nhà kinh doanh .
Nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế trang trại trong phát triển
kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp - nông thôn nói riêng, Chính phủ đã
có khá nhiều văn bản quan trọng về các vấn đề: đất đai cho trang trại, vốn sản
xuất cho trang trại, hỗ trợ khâu cung ứng đầu vào, đầu ra..., bắt đầu từ “khoán
(2)
K.Marx, Toàn tập, tập 25, phần 2.
---------------------------------------------------------------------------------------- 7
Nguyễn Quang Tiệp
100” thực hiện sản lượng khoán, tránh đồng ruộng bị chia cắt manh mún, đến
Nghị quyết Trung ương 5 Khoá VII (6/1993) sau đó là Luật đất đai (9/1993),
rồi Nghị quyết Trung ương 4 khoá VIII (12/1997) cũng khẳng định: “kinh tế
trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (nhà nước, tập thể, tư nhân)
được phát triển chủ yếu trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi
có nhiều ruộng đất, khuyến khích việc khai phá đất hoang vào mục đích này”.
Và gần đây nhất, một văn bản quan trọng đã được ban hành. Đó là Nghị quyết
số 03/2000/NQ – CP, trong đó có nêu rõ: “Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học
– công nghệ chế biến, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều
kiện cho các trang trại phát triển bền vững”, “chủ trang trại được thuê lao
động không hạn chế về số lượng, trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với
người lao động theo quy định của pháp luật ”.
2. Tác động của kinh tế trang trại đến sự phát triển của ngành sản xuất
nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng
2.1. Góp phần chuyên môn hoá sản xuất và chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp - nông thôn, phát triển kinh tế hàng hoá của vùng
Như đã nói, đặc trưng của kinh tế trang trại là mức độ tập trung cao về
đất đai và tích luỹ lâu dài về vốn, đã dần tạo nên một quy mô vượt trội so với
sản xuất của hộ gia đình. Với riêng mỗi trang trại, trong giai đoạn đầu do còn
thiếu vốn và khả năng sản xuất cũng như kinh nghiệm quản lý, họ thường kết
hợp sản xuất nhiều loại nông sản khác nhau nhưng sau đó, do sự tích luỹ về
các yếu tố trên, trang trại sẽ hướng theo một vài loại sản phẩm do đó quy mô
của loại sản phẩm này cũng lớn lên. Sản xuất quy mô lớn lại đòi hỏi áp dụng
tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất để làm ra sản phẩm với chi phí thấp,
chất lượng cao và đồng đều. Vì mục đích của kinh tế trang trại là thị trường:
sản xuất cái gì, khối lượng bao nhiêu, chất lượng ở mức độ nào,... đều phải
bắt kịp các tín hiệu của thị trường. Và vì xu hướng của trang trại là ngày càng
đòi hỏi sản phẩm có chất lượng cao hơn, nên cơ cấu sản xuất của trang trại
cũng thay đổi, hàm lượng khoa học kĩ thuật trong sản phẩm nông nghiệp thậm
chí tăng lên. Nhìn chung, kinh tế trang trại sẽ tăng tỉ lệ chăn nuôi, giảm tỉ lệ
trồng trọt, một số tiểu ngành như sản xuất thực phẩm cao cấp, hoa kiểng...
ngày càng phát triển, đem lại nguồn thu lớn.
---------------------------------------------------------------------------------------- 8
Nguyễn Quang Tiệp
Biểu 1: Cơ cấu GDP ngành nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng
(giá cố định 1994), Đơn vị: %
HẠNG MỤC 1990 1995 2000 2001
Tổng số 100 100 100 100
Nông nghiệp 94,7 94,2 92,8 92,5
- Trồng trọt 75,3 74,9 71,7 70,0
- Chăn nuôi 19,4 19,3 21,1 22,5
Lâm nghiệp 2,4 1,6 1,1 1,0
Thuỷ sản 2,9 4,2 6,0 6,5
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống kê.
2.2. Góp phần làm tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp vùng Đồng bằng Sông Hồng có vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế của vùng, và đối với cả nước trong việc cung cấp lương
thực, thực phẩm cho các tỉnh, thành phố trong vùng cũng như đáp ứng một
phần nhu cầu của các vùng khác. Trong thời kì 1991 – 2001, sản lượng lương
thực của vùng tăng hơn 2, 7 triệu tấn; giá trị sản xuất nông – lâm – ngư
nghiệp (theo giá cố định 1994) tăng lên từ 13.402 tỉ đồng (năm 1990) lên
24.103 tỉ đồng (năm 2001), bằng 23,8% giá trị sản lượng nông – lâm – nghiệp
của cả nước, tốc độ phát triển bình quân mỗi năm là 6,02%. Sự phát triển của
ngành nông nghiệp có đóng góp quan trọng của kinh tế trang trại.
Lợi thế về quy mô của các trang trại (quy mô đất đai, quy mô lao động...)
giúp các trang trại tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn. Trang trại có điều
kiện thuận lợi trong cả việc giảm giá thành các yếu tố đầu vào và cả trong
quản lý, tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là dễ dàng hơn khi áp dụng các tiến bộ
khoa học kĩ thuật, sử dụng máy móc, trang thiết bị hiện đại trong hoạt động
sản xuất.
---------------------------------------------------------------------------------------- 9
Nguyễn Quang Tiệp
2.3. Góp phần vào sự phát triển của các ngành công nghiệp, dịch vụ,
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp - nông
thôn
Sản phẩm nông nghiệp là đầu vào quan trọng của các ngành công
nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến. Rõ ràng là khối lượng, chất lượng,
giá cả nông sản cung cấp cho một nhà máy chế biến thực phẩm nào đó sẽ
quyết định tính cạnh tranh của sản phẩm nhà máy này. Không những thế, sản
phẩm của trang trại sẽ góp phần thúc đẩy các ngành công nghiệp cơ khí, công
nghiệp năng lượng trong các mối liên hệ ngược với các ngành này. Để làm ra
sản phẩm, các trang trại cần sử dụng máy móc, cần tiêu dùng năng lượng, cần
được cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu... Đó là không kể những trang
trại kinh doanh tổng hợp còn tự sơ chế, chế biến ngay tại chỗ. Yêu cầu này
cần được sự giúp đỡ của ngành công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm...
Mối quan hệ qua lại này chỉ ra rằng: sự phát triển của ngành này là động lực
phát triển của ngành kia.
Mặt khác, khi kinh tế trang trại phát triển nó sẽ đem lại thu nhập cho một
bộ phận nông dân, tiêu dùng của khu vực nông nghiệp - nông thôn tăng lên
kéo theo sự khởi sắc của ngành dịch vụ theo đúng quy luật của nền kinh tế thị
trường.
3. Tác động về mặt xã hội và môi trường
3.1. Góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
Theo số liệu năm 2001, dân số nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng
vào khoảng 13, 77 triệu người, tổng số lao động là 10, 47 triệu trong đó lao
động trong độ tuổi ở nông thôn là gần 8, 2 triệu, chiếm tới 78,17% tổng lao
động của vùng. Tính chất mùa vụ của hoạt động sản xuất nông nghiệp cùng
với việc mở rộng dần phạm vi ứng dụng của máy móc hiện đại càng làm tăng
tỉ lệ thất nghiệp trá hình. Theo ước tính, lao động ở khu vực nông thôn mới
chỉ sử dụng hết khoảng 3/4 thời gian lao động nông nghiệp. Một phần lao
động dư thừa ấy sẽ được giải quyết khi các trang trại hình thành vì trang trại
không chỉ giải quyết việc làm cho bản thân chủ trang trại cũng như người nhà
của họ mà còn thu hút được một lực lượng đáng kể lao động làm thuê.
---------------------------------------------------------------------------------------- 10
Nguyễn Quang Tiệp
3.2. Phát triển lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Tác động của kinh tế trang trại tới sự phát triển của lực lượng sản xuất
xét ở 3 khía cạnh:
Một là, nhờ cách làm ăn hiệu quả hơn, kinh tế trang trại đem lại nguồn
thu nhập cao hơn cho người lao động tham gia sản xuất và trong thực tế rất
nhiều nông dân đã giàu lên thực sự bằng con đường này. Không những thế,
những lao động làm thuê cũng được hưởng một mức thu nhập cao hơn trước
đây, nhờ đó đời sống được cải thiện cả về mặt vật chất và tinh thần.
Hai là dựa vào ưu thế của kinh tế trang trại trong việc ứng dụng tiến bộ
khoa học kĩ thuật mà trình độ kĩ thuật, trình độ thâm canh, chuyên môn hoá
nông nghiệp của vùng nói chung được nâng lên rõ rệt. Trong thời đại này,
máy móc là bộ phận vô cùng quan trọng của lực lượng sản xuất nông nghiệp,
và sự phát triển của máy móc (xét cả về số lượng và chất lượng) chính là sự
phát triển của lực lượng sản xuất.
Ba là, kinh tế trang trại phát triển kéo theo sự phát triển của các mối
quan hệ giữa nông dân - nông dân trong việc hợp tác, hỗ trợ sản xuất, thuê
nhân công, đồng thời đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ giữa các khâu sản xuất -
chế biến - tiêu thụ của quy trình sản xuất hàng hoá.
3.3. Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn
Rõ ràng là để đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hoá của mình, các trang trại
cần phải được đảm bảo bằng một hệ thống cơ sở hạ tầng đầy đủ và hiện đại.
Nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, các trang trại có thể kết hợp
với các địa phương, cùng các doanh nghiệp khác để giải quyết những vấn đề
chung này (giao thông, điện, nước, thuỷ lợi, hệ thống tiêu thụ sản phẩm...),
các công trình giao thông, kho tàng, bến bãi, các phương tiện vận tải được mở
rộng và xây dựng mới để phục vụ cho sản xuất hàng hoá của các trang trại.
3.4. Những lợi ích về môi trường:
Đối với vùng Đồng bằng Sông Hồng, các trang trại trồng rừng gần như
không đáng kể, nhưng số lượng số lượng các trang trại còn lại đã góp phần
đáng kể vào công cuộc xây dựng một nền nông nghiệp đa dạng, sinh thái, bền
vững.
---------------------------------------------------------------------------------------- 11
Nguyễn Quang Tiệp
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại vùng Đồng
bằng Sông Hồng
1. Nhóm các nhân tố tài nguyên thiên nhiên
1.1. Đất đai
Quan trọng nhất đối với sản xuất nông nghiệp là yếu tố đất đai. Ảnh
hưởng của đất đai đến phát triển kinh tế trang trại quyết định bởi:
-Quy mô đất đai: tức là diện tích cần thiết để tạo ra một khối lượng nhất
định sản phẩm. Nói chung, một quy mô đất sản xuất rộng lớn là một điều kiện
thuận lợi cho kinh tế trang trại. Theo thống kê, đất nông nghiệp của vùng
Đồng bằng Sông Hồng là 857, 6 nghìn ha, bằng 9,2% diện tích đất nông
nghiệp cả nước, bình quân 497m2/người. Tuy nhiên phần lớn đất đai vẫn còn
ở tình trạng manh mún, phân tán làm cản trở quá trình hiện đại hoá sản xuất
nông nghiệp.
- Đặc điểm của đất đai: Đây là một yếu tố đặc biệt quan trọng cần phải
tính đến khi tiến hành sản xuất, nhất là với các trang trại trồng trọt. Đồng
bằng Sông Hồng vốn là một vùng châu thổ, có gần 80% đất canh tác trên loại
đất phù sa màu mỡ thuộc loại tốt trong cả nước, đó là lợi thế có thể thâm canh
cây trồng đạt năng suất cao. Một lợi thế hơn hẳn là vùng có tới 70% đất canh
tác lúa màu được tưới bằng nước phù sa của hệ thống sông Hồng, có chất
lượng nước tốt, nhiều dinh dưỡng. Tuy nhiên, theo tiến trình khai thác một
cách lạc hậu và không tính đến hậu quả lâu dài cho nên đến nay, nhiều vùng
đất đã trở nên bạc màu, muốn trồng trọt phải chi phí cải thiện đất rất tốn kém.
1.2. Thời tiết, khí hậu
Yếu tố thời tiết ảnh hưởng mạnh mẽ đến cơ cấu sản xuất của cả trang trại
chăn nuôi và trang trại trồng trọt, bởi lẽ chúng là những “đối tượng sống”
được đặt trong một “môi trường sống” ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh
trưởng và sinh sản. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23 0C, lượng bức xạ lớn.
Nhờ số giờ nắng cao, tính chất nóng ẩm của mùa hè và không khí lạnh của
mùa đông, trang trại vùng Đồng bằng Sông Hồng có điều kiện để đa dạng hoá
cơ cấu cây trồng của mình, cả các loài cây nhiệt đới và cây ôn đới.
---------------------------------------------------------------------------------------- 12
Nguyễn Quang Tiệp
2. Các nhân tố kinh tế xã hội
2.1. Lao động của trang trại
Bao gồm lao động quản lý và lao động sản xuất trực tiếp, xét trên 2 khía
cạnh: số lượng và chất lượng.
- Số lượng lao động tuỳ thuộc vào: quy mô sản xuất của trang trại, trình
độ cơ giới hoá, yêu cầu về nhân công do đặc trưng của ngành sản xuất, và khả
năng thuê mướn lao động của chủ trang trại. Chắc chắn, so với kinh tế hộ, số
lao động của trang trại sẽ nhỏ hơn, nhưng đó là điều cần thiết để có triển
-Chất lượng lao động phụ thuộc: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, kinh
nghiệm, tay nghề, mức độ tận tuỵ của người lao động. Nhìn chung, lao động
cung cấp cho các trang trại thường là nông dân (ngay cả bản thân chủ trang
trại cũng thường xuất thân như vậy) nên mức độ linh hoạt để thích ứng với cơ
chế thị trường còn thấp.
2.2. Sự tích tụ vốn sản xuất:
Đây là điều kiện cần thiết để kinh tế hộ chuyển thành kinh tế trang trại.
Kinh tế trang trại là một mô hình sản xuất lớn có tỉ suất hàng hoá cao, chấp
nhận cạnh tranh ngày càng gay gắt và đặc biệt là luôn vận động theo các quy
luật khách quan của cơ chế thị trường, nên ngày càng cần phải được tăng
nguồn vốn đầu tư cho phát triển.
Nguồn vốn cung cấp cho các trang trại bao gồm: sự hỗ trợ từ ngân sách
địa phương, từ phía nhà nước, vốn tự có của chủ trang trại, vốn vay, vốn tín
dụng, trong đó chủ yếu là vốn của chủ trang trại, phần hỗ trợ từ phía nhà nước
là rất hạn hẹp, vì thế khả năng tích luỹ vốn để mở rộng kinh doanh, đầu tư
trang trại thiết bị công nghệ tiên tiến là rất khó khăn.
2.3. Những tác động của thị trường
Cùng với vốn, thị trường, là vấn đề sống còn của kinh tế trang trại, bao
gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, đặc biệt là thị trường tiêu thụ
sản phẩm. Chúng tác động một cách mạnh mẽ tới tư duy và cách thức hoạt
động sản xuất kinh doanh của trang trại, đẩy nhanh phát triển sản xuất kinh
doanh hàng hoá ở nông thôn, nhờ đó dân cư thoát khỏi tư duy kinh tế theo lối
tiểu nông.
---------------------------------------------------------------------------------------- 13
Nguyễn Quang Tiệp
Vì là sản xuất hàng hoá nên vấn đề cung ứng vật tư (thị trường đầu vào)
là rất quan trọng. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của trang
trại, và rõ ràng là một thị trường đầu vào có sự độc quyền sẽ gây ra rất nhiều
điều bất lợi, chủ trang trại sẽ phải mua vật tư với giá cao mà chất lượng không
đảm bảo.
Còn thị trường sản phẩm đầu ra là một trong những vấn đề các trang trại
quan tâm nhất, nó phát đi các tín hiệu định hướng cho các thị trường nên sản
xuất loại nông sản nào, khối lượng, chất lượng ra sao, sản xuất như thế nào thì
hiệu quả...
2.4. Cơ sở hạ tầng nông thôn
Đây chính là “bầu không khí sống” của kinh tế trang trại, là yếu tố hỗ trợ
cho kinh tế trang trại và trong nhiều trường hợp, nó mang tính quyết định.
Một hệ thống thuỷ lợi tốt, một mạng lưới điện và thông tin liên lạc đồng bộ,
đầy đủ, giáo dục đào tạo và một hệ thống thương mại đáp ứng đúng nhu cầu,
là điều kiện thuận lợi như là sự thuận lợi với các yếu tố đầu vào khác. Một hệ
thống đường giao thông hoàn chỉnh nối vùng sản xuất - chế biến - tiêu thụ là
một trong những điều kiện cần thiết để tạo ra một cơ chế sản xuất liên hoàn,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại. Về mặt này, vùng Đồng
bằng Sông Hồng có nhiều lợi thế: hệ thống đường giao thông hoàn chỉnh nối
liền các xã với nhau, nối liền nông thôn và thành thị, nối liền vùng nguyên
liệu và chế biến; hệ thống thuỷ lợi kiên cố và không ngừng được tu bổ; đã
hoàn thành điện khí hoá và nhìn chung có một hệ thống trạm, trường tương
đối đầy đủ, đáp ứng những nhu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân.
---------------------------------------------------------------------------------------- 14
Nguyễn Quang Tiệp
Chương II: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại vùng Đồng
Bằng Sông Hồng
I. Khái quát những thành tựu đạt được
Sau nghị quyết 03/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại cũng như
một số chính sách khác của Nhà nước, số lượng trang trại đã tăng lên đáng kể
(xem biểu 2).
Tính đến 01/10/2001, theo tiêu chí mới, cả nước có 60.758 trang trại,
tăng 4.960 trang trại so với năm 2000, tăng 15.386 trang trại so với năm 1999,
trong đó Đồng bằng Sông Hồng có khoảng 1.829 trang trại, so với năm 1999
tăng 21,77% (theo tiêu chí mới), trong đó các địa phương có số lượng trang
trại nhiều nhất là Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình. Tốc độ phát triển bình
quân của số trang trại trong thời kì 1999 – 2001 là 10,35%/năm, bằng 0, 61
tốc độ phát triển bình quân chung của cả nước (17%) nhưng với một vùng
không có nhiều đất đai thì đây là một thành tích đáng khích lệ. Trong sự tăng
trưởng ấy, nhóm trang trại chăn nuôi và nhóm trang trại nuôi trồng thuỷ sản
có tốc độ phát triển cao nhất, chứng tỏ sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp – nông thôn một cách tích cực. Điều này cũng nói lên hướng sản xuất
theo thị trường của kinh tế trang trại.
Tổng diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp, mặt nước nuôi trồng thuỷ
sản là 15.808 ha, chiếm 1,07% diện tích của toàn vùng, và bằng 1,84% diện
tích đất nông nghiệp. Bình quân mỗi trang trại khoảng 8,64 ha, cao hơn mức
trung bình chung của cả nước (6,09 ha) và cao hơn nhiều so với mức bình
quân của các nước Châu Á.
---------------------------------------------------------------------------------------- 15
Nguyễn Quang Tiệp
Bảng 2: Tình hình phát triển số lượng trang trại Đồng Bằng Sông
Hồng
TỐC ĐỘ TỈ LỆ CỦA
PHÁT TRIỂN VÙNG ĐỒNG
LOẠI TRANG TRẠI 1999 2001
BÌNH BẰNG SÔNG
QUÂN /NĂM HỒNG SO CẢ
1999 - 2001 NƯỚC (%)
Tổng số trang trại 1.502 1.829 10.35 3.01
-Số trang trại trồng cây hàng năm 112 183 27.80 0.84
-Số trang trại trồng cây lâu năm 285 288 0.52 1.73
-Số trang trại chăn nuôi 80 153 38.3 8.68
-Số trang trại lâm nghiệp 189 41 -53.5 2.52
-Số trang trại nuôi trồng thuỷ sản 568 1.028 35.54 6.06
-Số trang trại kinh doanh tổng hợp 268 136 -28.75 6.78
Nguồn: Số liệu thống kê và kết quả điều tra nông thôn nông nghiệp – thuỷ sản năm 2001.
Số trang trại của vùng Đồng bằng Sông Hồng chỉ chiếm 3,01% tổng số
trang trại của cả nước nhưng hiệu quả lại cao hơn. Tổng thu nhập của trang
trại là phần thu nhập sau khi lấy tổng thu trừ chi phí vật chất, trừ tiền công
thuê lao động và trừ các chi phí khác. Như vậy phần thu nhập của trang trại
bao hàm: tiền công của chủ trang trại (tiền công quản lý và tiền công lao động
trực tiếp), tiền công của các thành viên và tiền lãi ròng của các trang trại. Đây
là một chỉ tiêu phù hợp, vừa phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh vừa là hiệu
quả hoạt động kinh doanh của trang trại. Xem biểu 1 có thể thấy rằng thu
nhập bình quân 1 trang trại của vùng Đồng bằng Sông Hồng là cao nhất cả
nước (46, 9 triệu đồng/trang trại /năm, cao hơn mức trung bình chung 1, 49
lần và bỏ xa những vùng khác (trừ duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam
Bộ) từ 17-23 triệu /trang trại). Thu nhập bình quân của một lao động trong
trang trại đạt khá: 5, 86 triệu đồng/năm, trong khi đó thu nhập trung bình của
một người dân nông thôn là 1, 17 triệu đồng/năm, tức là thu nhập của lao
động trang trại cao hơn 5 lần. Tổng thu của 1.829 trang trại năm 2001 là
260.393 triệu đồng, chiếm 4,85% tổng thu cả nước từ kinh tế trang trại (trong
---------------------------------------------------------------------------------------- 16
Nguyễn Quang Tiệp
khi diện tích trang trại của vùng chỉ bằng 3,01% diện tích trang trại cả nước),
trong đó giá trị hàng hoá và dịch vụ bán ra là 246.048 triệu đồng, đạt mức tỉ
suất giá trị hàng hoá là 94,5%, cao hơn mức trung bình của cả nước 1, 02 lần
và chỉ đứng sau vùng Đông Nam Bộ (95,3%).
Cơ cấu trang trại được thể hiện trong biểu3
Biểu 3B: Cơ cấu trang trại vùng Đồng bằng Sông Hồng năm 2001
LOẠI TRANG TRẠI SỐ LƯỢNG (T.T) TỈ TRỌNG
(%)
Tổng số 1.829 100,0
-Số trang trại trồng cây hàng năm 183 10,0
-Số trang trại trồng cây lâu năm 288 15,7
-Số trang trại chăn nuôi 153 8,4
-Số trang trại lâm nghiệp 41 2,2
-Số trang trại nuôi trồng thuỷ sản 1.028 56,2
-Số trang trại kinh doanh tổng hợp 136 7,4
Nguồn: Số liệu thống kê và kết quả điều tra nông thôn nông nghiệp - thuỷ sản năm 2001.
Các trang trại chăn nuôi phát triển mạnh mẽ và là một thế mạnh của
vùng tuy nhiên số lượng không phải là lớn nhất, trong đó chăn nuôi gia súc
nhỏ và gia cầm chiếm ưu thế vì các loại này không đòi hỏi đất nhiều, thậm chí
bắt đầu xuất hiện hình thức các hộ nông dân chăn nuôi gia công theo mô hình
kinh tế trang trại. Trang trại chăn nuôi thường có quy mô vừa và nhỏ, chẳng
hạn, với gà: 1000 - 5000 con; lợn: 50 - 100 con; 300 - 500 con; các trang trại
chăn nuôi đặc sản, sử dụng từ 500 - 1000 m 2 nhưng đầu tư nhiều vốn và chất
xám tạo thu nhập cao. Đây là một ngành chăn nuôi chú trọng đến thị trường
tiêu thụ sản phẩm và có rất nhiều tiềm năng phát triển.
Trong cơ cấu trang trại năm 2001, có thể nhận dễ dàng nhận thấy ưu thế
của các trang trại nuôi trồng thuỷ sản. Sau hai năm mà số lượng trang trại này
đã tăng lên gần 2 lần, chiếm tới quá nửa số trang trại của Đồng bằng Sông
Hồng trong năm 2001, chứng tỏ sức khai thác mạnh mẽ tiềm năng thuỷ sản
của vùng. Trong khi đó số trang trại lâm nghiệp và trang trại kinh doanh tổng
---------------------------------------------------------------------------------------- 17
Nguyễn Quang Tiệp
hợp lại giảm xuống chứng tỏ các trang trại đã đi theo hướng chuyên sâu và có
hiệu quả.
Sự gia tăng giá trị sản xuất hàng hoá của kinh tế trang trại trực tiếp tác
động đến sự gia tăng giá trị của cả ngành sản xuất nông nghiệp và do đó đóng
góp vào tăng trưởng của cả nền kinh tế nói chung. Nhờ trang trại, giá trị sản
xuất hàng hoá của ngành nông nghiệp được cải thiện. Năm 2001, giá trị sản
xuất của toàn ngành nông – lâm – ngư nghiệp (giá cố định 1994) vùng Đồng
bằng Sông Hồng đạt 22.893, 33 tỉ đồng, thì phần đóng góp của kinh tế trang
trại là 260, 393 tỉ (1,13%).
III. Những hạn chế và nguyên nhân
1. Hạn chế
1.1. Kinh tế trang trại phát triển chưa tương xứng với tiềm năng
Mặc dù sự hình thành và phát triển của các trang trại đã nhanh chóng
đưa được một diện tích lớn đất hoang hoá, đất chưa sử dụng và quá trình sản
xuất, đem lại lợi nhuận và hình thành một môi trường sinh thái bền vững
nhưng thực tế, vùng vẫn còn những diện tích đất chưa sử dụng hết, hoặc sử
dụng nhưng hiệu quả không cao, việc khai thác các yếu tố nguồn lực chưa
triệt để và không đồng đều.
1.2. Cơ cấu sản xuất chưa phù hợp, tình trạng độc canh còn phổ biến,
mặc dù phần lớn các trang trại kinh doanh tổng hợp nhưng thực chất đó mới
chỉ là một hình thức tận dụng năng lực sẵn có một cách thụ động chứ chưa
chủ động chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo các tín hiệu của thị trường. Nhiều
trang trại còn chưa mạnh dạn đầu tư nên không cải tạo được giống cây, con
vốn đã suy giảm về cả khả năng cho sản lượng và cả chất lượng. Tỉ trọng
chăn nuôi vẫn còn thấp. Ngoài ra, còn rất nhiều thế mạnh của vùng chưa
được tận dụng hết.
1.3. Lãng phí vốn, trình độ sản xuất lạc hậu
Sự lãng phí vốn ở đây thể hiện ở chỗ: do không tận dụng hết khả năng
sản xuất, hạn chế về năng lực kinh doanh, hoặc do cơ chế, chính sách, mà kết
---------------------------------------------------------------------------------------- 18
Nguyễn Quang Tiệp
quả kinh doanh của trang trại thu được chưa tương xứng với đồng vốn bỏ ra.
Thậm chí có những trang trại lâm nghiệp, chăn nuôi đã đầu tư vài trăm triệu
đồng nhưng lại không duy trì được sản xuất cho đến lúc thu hồi vốn, đó là
một sự lãng phí nhân lực, vật lực, lãng phí tài nguyên thiên nhiên.
2. Nguyên nhân
2.1. Nhận thức và tiêu chí nhận dạng trang trại mới được thống nhất.
Còn nhiều bàn cãi về vai trò của kinh tế trang trại, thậm chí cho đến nay
một số cán bộ, chuyên gia còn băn khoăn có nên phát triển kinh tế trang trại ở
nước ta hay không? Liệu có chệch hướng sang phát triển kinh tế tư bản chủ
nghĩa hay không? Mấy năm trước đây khi phát triển mô hình này trở thành
một nhu cầu, thì nhà nước vẫn chưa có chính sách cụ thể để hướng dẫn và hỗ
trợ, cho nên kinh tế trang trại dù đã tăng trưởng đáng kể song vẫn mang tính
tự phát, phân tán, manh mún, chưa thật gắn với quy hoạch các vùng sản xuất
chuyên môn hoá và công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản.
2.2. Quỹ đất của các trang trại còn hạn chế.
Quỹ đất chung dành cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp cho nhu cầu
công nghiệp hoá, đô thị hoá của đất nước. Hiện nay bình quân đất sản xuất
nông nghiệp đầu người chỉ còn 385 m2 /người. Những khoảnh đất, vùng đất
nông nghiệp chuyển sang làm mặt bằng cho các nhà máy công nghiệp, cho
hoạt động thương mại dịch vụ, vui chơi giải trí, phát triển nhà ở... lại thường
cũng là những mảnh đất màu mỡ. Đây là một vấn đề nan giải của vùng Đồng
bằng Sông Hồng.
2.3. Trình độ sản xuất yếu kém, thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được
mở rộng.
Giá cả thiếu ổn định, rủi ro cao, mặcdù vấn đề được đề cập nhiều nhưng
còn mang tính cục bộ. Nguyên nhân thì có nhiều: chất lượng nông sản thấp,
trình độ chế biến, bảo quản yếu kém, chủ trang trại thiếu nghiệp vụ thị trường,
sản xuất không theo quy hoạch các vùng chuyên môn hoá gắn với các cơ sở
chế biến rau quả, thuỷ sản... Vài ba năm tới, hầu hết các trang trại đưa diện
tích cây lâu năm, cây công nghiệp, rừng nguyên liệu vào khai thác cho sản
phẩm đồng loạt thì vấn đề chế biến nông, lâm, thuỷ sản và thị trường tiêu thụ,
---------------------------------------------------------------------------------------- 19
Nguyễn Quang Tiệp
giá cả sản phẩm sẽ đặt ra hết sức gay gắt, không chú ý giải quyết ngay từ bầy
giờ chắc chắn sẽ gây ra tổn thất lớn cho các trang trại và cho nền kinh tế quốc
dân.
2.4. Công nghiệp chế biến chưa phát triển tương xứng .
Không đáp ứng được nhu cầu sơ chế, chế biến các sản phẩm của trang
trại. Hiện nay công nghiệp chế biến mới chiếm khoảng 20% giá trị sản xuất
của vùng.
Công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản không cao, hầu hết các dây
chuyền chế biến được trang bị cách đây khoảng 30 năm. Hiện trạng thiết bị
mất cân đối và xuống cấp nghiêm trọng, nên tổn thất sau thu hoạchlớn,
khoảng 8-10%, chất lượng sản phẩm không cao, không đạt tiêu chuẩn xuất
khẩu. Ngoài 4 nhà máy chế biến rau quả lớn, vùng còn cómột số xí nghiệp
nhỏ thủ công nhưng lượng quả tươi mới chế bién được khoảng 6-7% sản
lượng hàng năm. Chế biến thịt - sữa chủ yếu mới phục vụ nhu cầu nội tiêu,
hầu hết các nhà máy mới đạt 15 - 20% công suất.
Công nghiệp chế biến thức ăn gia sức trực tiếp phục vụ cho sự phát triển
của nông nghiệp, nông thôn của vùng. Với 18 cơ sở (chỉ có một cơ sở có sản
lượng đạt trên 50.000 tấn /năm), sản lượng thức ăn gia súc có thể đáp ứng nhu
cầu trong vùng nhưng nguồn nguyên liệu nội vùng cung cấp cho các cơ sở
chế biến không nhiều, chỉ đáp ứng khoảng 40%, phần nguyên liệu còn lại phải
nhập khẩu, rất bất cập.
---------------------------------------------------------------------------------------- 20
Nguyễn Quang Tiệp