Thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty in và văn hoá phẩm

  • 116 trang
  • file .doc
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập
đang tạo ra cho mỗi doanh nghiệp nhiều cơ hội phát triển vững
mạnh đồng thời cũng có nhiều thách thức, khó khăn. Vì thế
nguyên tắc "Tiết kiệm - Hiệu quả", tức là làm thế nào để với
một lượng tài nguyên nhất định có thể tạo ra nhiều giá trị sử
dụng, nhiều lợi ích thiết thực phục vụ cho con người luôn được
các doanh nghiệp quan tâm. Tiết kiệm - Hiệu quả vừa là mục
tiêu cuối cùng, vừa là tiêu chuẩn đánh giá trình độ, năng lực
quản lý. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế
thị trường như hiện nay thì vấn đề này ngày càng trở nên quan
trọng. Do vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động và
mềm dẻo trong việc điều chỉnh kịp thời phương hướng sản xuất
kinh doanh thông qua công tác hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm có được tốt hay không.
Các loại chi phí sản xuất trong quá trình hoạt động của
doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú. Nhiệm vụ của kế toán
là phải tập hợp đầy đủ, phân bổ chính xác chi phí theo từng đối
tượng tập hợp chi phí bằng các phương pháp thích hợp, giúp
cho doanh nghiệp kiểm soát được tình hình chi phí, đánh giá
việc thực hiện các kế hoạch, định mức chi phí, đồng thời đề ra
phương hướng tăng cường quản lý và tiết kiệm chi phí sản xuất
nhằm đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh ở mức cao nhất
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản
ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Giá thành sản phẩm
cao hay thấp, tăng hay giảm phản ánh kết quả của việc quản
lý, sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn. Do vậy, việc sử dụng hợp
lý, tiết kiệm chi phí sẽ là tiền đề, là cơ sở để hạ giá thành sản
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 1 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
phẩm. Mà đối với doanh nghiệp, việc hạ giá thành là con đường
cơ bản để hạ giá bán tăng sức canh tranh, tăng lợi nhuận, góp
phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
Mặt khác, vấn đề hạ giá thành không chỉ là vấn đề quan tâm
của các nhà sản xuất, các doanh nghiệp mà nó còn là vấn đề
quan tâm của toàn xã hội. Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế,
việc hạ giá thành sẽ mang lại sự tiết kiệm hoạt động xã hội,
tăng tích luỹ cho nền kinh tế, tăng nguồn thu cho ngân sách
thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp.
Với tầm quan trọng như vậy, kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành chiếm một vị trí đáng kể trong công tác
kế toán nói chung và trong công tác tài chính nói riêng, đóng
góp một phần không nhỏ vào quá trình quản lý lao động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với Công ty In và Văn hoá phẩm hiện nay, Ban lãnh
đạo công ty luôn quan tâm đến công tác hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành, coi đây là khâu quan trọng nhất để đề
ra phương hướng sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện đúng
kế hoạch theo yêu cầu của khách hàng.
Từ những nhận thức như vậy, trong thời gian thực tập tại
công ty In và Văn hoá phẩm, em đã mạnh dạn đi sâu tìm hiểu
và lựa chọn đề tài, cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Công ty In và Văn hoá phẩm sản xuất nhiều loại sản
phẩm, rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên vì khả năng và thời
gian có hạn, em xin được chỉ đề cập đến vấn đề này trong
phạm vi sản phẩm in.
Toàn bộ bài viết, ngoài phần mở đầu và kết luận, được kết
cấu theo ba chương:
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 2 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
Chương I: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất .
Chương II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty In và
Văn hoá phẩm.
Chương III: Phương hướng hoàn thiện công tác kế toán
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại Công ty In và Văn
hóa phẩm.
Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của các
cô chú cùng các anh chị Phòng kế toán Công ty In và Văn hoá
phẩm, các thầy cô trong trường và đặc biệt là sự hướng dẫn,
chỉ bảo tận tình của Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Quang để luận văn
được hoàn thành.
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 3 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. Chi phí sản xuất và tính giá thành trong các
doanh nghiệp
1.1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất:
1.1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất:
Doanh nghiệp sản xuất là những tổ chức kinh doanh, sản
xuất ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã
hội và mang lại lợi nhuận cho bản thân doanh nghiệp. Để tiến
hành các hoạt động của mình, doanh nghiệp phải bỏ ra các
khoản chi phí nhất định. Đó là các chi phí về đối tượng lao
động, tư liệu lao động, sức lao động của con người. Sự tham gia
của từng yếu tố đó trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp
có sự khác nhau, từ đó hình thành nên các yếu tố chi phí tương
ứng: Chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động
(là chi phí về lao động vật hoá), chi phí về sức lao động của con
người (là chi phí về lao động sống). Các chi phí này gồm nhiều
loại, nhiều yếu tố khác nhau song chúng đều được biểu hiện
dưới hình thái tiền tệ.
Như vậy, chi phí sản xuất trong doanh nghiệp là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật
hóa cùng các chi phí khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến
hành các hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
Thực chất chi phí là sự chuyển dịch vốn - chuyển dịch giá
trị của các yếu tố sản xuất và các đối tượng tính giá (sản phẩm,
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 4 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
lao vụ, dịch vụ), là vốn mà doanh nghiệp đã bỏ vào hoạt động
sản xuất kinh doanh.
1.1.1.2.Phân loại chi phí sản xuất:
Phân loại chi phí sản xuất là việc phân tích chi phí sản
xuất thành các nhóm khác nhau dựa trên các tiêu thức nhất
định. Phân loại chi phí sản xuất một cách khoa học và hợp lý
không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với hạch toán mà còn là
tiền đề quan trọng của kiểm tra và phân tích chi phí sản xuất
của toàn doanh nghiệp cũng như bộ phận cấu thành sản xuất
trong doanh nghiệp.
a) Phân loại theo nội dung tính chất, yếu tố kinh tế của
chi phí:
Theo cách phân loại này, những chi phí có cùng một nội
dung kinh tế được xếp và cùng một yếu tố chi phí không phân
biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động nào, ở đâu, mục
đích hay tác dụng của chi phí như thế nào.Toàn bộ chi phí sản
xuất trong kỳ được chia thành các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm chi phí về các loại
nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay
thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử
dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Chi phí nhân công: bao gồm toàn bộ số tiền công
phải trả, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân viên và
nhân viên hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm toàn bộ số
tiền trích khấu hao TSCĐ sử dụng cho sản xuất của doanh
nghiệp trong kỳ.
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 5 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả về các dịch
vụ mua ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh như
tiền điện, tiền nước, điện thoại, tiền sửa chữa TSCĐ mua
ngoài...
- Chi phí khác bằng tiền: bao gồm toàn bộ chi phí khác
dùng cho hoạt động sản xuất ngoài bốn yếu tố chi phí trên.
Phân loại chi phí theo phương pháp này cho biết kết cấu tỷ
trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong một kỳ
nhất đinh, từ đó làm căn cứ để lập thuyết minh báo cáo tài
chính (phần chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố) phục vụ
cho yêu cầu thông tin quản trị doanh nghiệp, để phân tích tình
hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất kinh doanh cho kỳ sau.
Cung cấp tài liệu để xác đinh mức tiêu hao vật chất và tính thu
nhập quốc dân.
b) Phân loại theo mục đích công dụng của chi phí (khoản
mục)
Theo cách phân loại này, những chi phí sản xuất có chung
công dụng kinh tế được sắp xếp vào cùng một khoản mục
không phân biệt tính chất kinh tế của nó như thế nào. Vì vậy,
cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo
khoản mục. Số lượng các khoản mục phụ thuộc vào đặc điểm,
tính chất của từng ngành và yêu cầu quản lý trong các thời kỳ
khác nhau, theo tính chất của quy trình công nghệ. Toàn bộ chi
phí phát sinh trong kỳ được chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng và mục đích sản
xuất sản phẩm không tính vào khoản mục này những chi phí
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 6 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
nguyên vật liệu sử dụng và mục đích sản xuất chung và những
hoạt động ngoài sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí về tiền công,
tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí dùng cho
hoạt động sản xuất chung ở các phân xưởng, đội, trại sản xuất
bao gồm 5 khoản chi phí sau:
 Chi phí nhân viên phân xưởng: là các chi phí liên
quan và phải trả cho nhân viên phân xưởng như tiền lương, tiền
công các khoản phụ cấp, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ cho
nhân viên quản lý, nhân viên kế toán, thống kê, thủ kho, công
nhân viên vận chuyển, sữa chữa ở phân xưởng hoặc đội, trại
sản xuất.
 Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu sử dụng
cho toàn phân xưởng như vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưởng
TSCĐ, vật liệu văn phòng và những vật liệu dùng cho nhu cầu
quản lý chung ở phân xưởng (đội, trại sản xuất)
 Chi phí công cụ dụng sản xuất: là chi phí về công cụ,
dụng cụ dùng cho nhu cầu sản xuất ở phân xưởng (đội, trại sản
xuất) như khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay, dụng
cụ bảo hộ lao động, ván khuôn dàn giáo trong xây dựng.
 Chi phí khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số tiền trích khấu
hao của TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính sử
dụng ở các phân xưởng (đội, trại sản xuất) như khấu hao máy
móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải truyền dẫn, phân
xưởng, vườn cây lâu năm.
 Chi phí vật liệu mua ngoài: là những chi phí về lao vụ
dịch vụ mua ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 7 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
phân xưởng (đội, trại sản xuất) như chi phí về điện, nước, khí
nén, chi phí điện thoại thuê ngoài...
 Chi phí khác bằng tiền: là những chi phí bằng tiền
khác ngoài những chi phí nêu trên phục vụ cho yêu cầu sản
xuất chung ở phân xưởng (đội, trại sản xuất)
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản
lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác
tính giá thành sản xuất và phân tích tình hình thực hiện kế
hoạch giá thành là căn cứ để tổ chức thực hiện hạch toán chi
phí theo địa điểm phát sinh chi phí nhằm thực hiện và tăng
cường hạch toán chi phí kinh tế nội bộ trong doanh nghiệp, từ
đó giám sát người lao động nhằm tiết kiệm chi phí, làm tài liệu
tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá
thành cho kỳ sau.
c) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản
phẩm gồm:
- Chi phí khả biến
- Chi phí bất biến
- Chi phí hỗn hợp
Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng đối với việc
quản lý chi phí, cụ thể là cơ sở để thiết kế các mô hình chi phí
khác nhau, xác định phương hướng nâng cao hiệu quả sử dụng
đối với từng loại chi phí. Cách phân loại này được sử dụng rộng
rãi trong Kế toán quản trị.
d) Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp
chi phí và mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí, gồm có:
- Chi phí trực tiếp: là những chi phí quan hệ trực tiếp
với việc sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 8 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
định. Đối với chi phí này kế toán có thể căn cứ vào số liệu
chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi
phí.
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên
quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc.
Đối với những chi phí này kế toán phải tiến hành phân bổ cho
các đối tượng liên quan theo tiêu chuẩn thích hợp.
Cách phân loại này, giúp chúng ta xác định được phương
pháp hạch toán đối với từng loại chi phí một cách đúng đắn
nhất.
e) Phân loại chi phí theo hình thức hoạt động kinh doanh.
Căn cứ vào việc tham gia của chi phí hoạt động kinh
doanh, toàn bộ chi phí được chia làm 3 loại :
- Chi phí sản xuất kinh doanh.
- Chi phí hoạt động tài chính
- Chi phí hoạt động bất thường.
Ngoài các cách phân loại chi phí sản xuất trên còn có thể
phân loại theo cách khác nhau như căn cứ vào mối quan hệ của
chi phí và giá thành sản phẩm chia thành chi phí sản phẩm và
chi phí thời kỳ, căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất
với quy trình công nghệ chia thành chi phí cơ bản, chi phí chung
và chi phí thiệt hại trong sản xuất, căn cứ vào nội dung của chi
phí có chi phí đơn nhất và chi phí tổng hợp.
Mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa với công tác
quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở những góc độ
khác nhau, giữa chúng có mỗi quan hệ mật thiết bổ sung cho
nhau nhằm một mục đích là quản lý chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm .
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 9 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
1.1.2. Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành
sản phẩm
1.1.2.1.Khái niệm giá thành sản phẩm:
Sự vận động của quá trình sản xuất trong doanh nghiệp
gồm hai mặt đối lập nhau nhưng có liên quan mật thiết với
nhau. Một mặt là chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra, mặt khác
là kết quả sản xuất đã thu được: những sản phẩm, công việc,
lao vụ nhất định đã hoàn thành phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng
của xã hội. Như vậy, khi quyết định sản xuất một loại sản phẩm
nào đó doanh nghiệp cần tính đến chi phí bỏ ra để sản xuất và
tiêu thụ loại sản phẩm đó. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp
phải xác định được giá thành.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
khoản hao phí về lao động và lao động vật hóa có liên quan
đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành.
Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để
kiểm soát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét
hiệu quả của các biện pháp tổ chức, kỹ thuật. Thông qua tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp có thể xem
xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất, tác động và
hiệu quả thực hiện các biện pháp tổ chức kỹ thuật đến sản
xuất, phát hiện và tìm ra nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi
phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ.
1.1.2.2.Phân loại giá thành.
Để đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế
hoạch hoá giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng
hoá, giá thành được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều phạm vi
tính toán khác nhau:
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 10 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
a) Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá
thành, giá thành được chia làm ba loại:
- Giá thành kế hoạch :
Là giá thành được tính toán trên cơ sở sản lượng kế hoạch
và dự toán chi phí kỳ kế hoạch hay giá thành thực tế kỳ trước
và các định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành. Nó được coi là một
trong những chỉ tiêu kinh tế quan trọng của kế hoạch sản xuất,
kỹ thuật, tài chính, là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp.
Ngoài ra, nó còn được xem là căn cứ để so sánh với giá thực tế
qua đó giúp doanh nghiệp phân tích và đánh giá tình hình thực
hiện hạ giá thành, tìm được nguyên nhân làm tăng hoặc giảm
chi phí và có giải pháp thích ứng trong kỳ tới.
- Giá thành định mức:
Là giá thành được tính toán trên cơ sở các định mức chi
phí hiện hành tại một thời điểm trong kỳ kế hoạch. Giá thành
định mức phản ánh lượng chi phí cần thiết để sản xuất sản
phẩm tại những thời điểm nhất định. Trong quá trình thực hiện
kế hoạch nó luôn thay đổi cùng với sự thay đổi của các định
mức chi phí. Vì vậy, nó được lấy làm thước đo kết quả sử dụng
tài sản, vật tư lao động trong sản xuất, giúp đánh giá đúng đắn
các biện pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp thực hiện.
Tương tự giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được
tiến hành trước khi tiến hành sản xuất với điều kiện cụ thể của
doanh nghiệp.
- Giá thành thực tế:
Là giá thành được tính toán trên cơ sở số liệu chi phí sản
xuất thực tế đã phát sinh, đã được tập hợp được sản lượng
hoàn thành trong kỳ. Do đó, nó chỉ được xác định sau khi kết
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 11 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
thúc quá trình sản xuất. Khác với giá thành kế hoạch và giá
thành định mức, giá thành thực tế phản ánh tổng hợp kết quả
phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm. Nó được dùng để doanh nghiệp xác định giá
vốn, giá bán sản phẩm, lãi gộp, đồng thời còn là cơ sở để
doanh nghiệp xác định giá thành sản phẩm kế hoạch cho kỳ
sau.
b)Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí:
Theo cách phân loại này, giá thành được chia làm hai loại:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng, giá thành
phân xưởng)
Bao gồm những chi phí sản xuất phát sinh liên quan tới
việc sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ
trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất. Nó được chia làm
3 khoản mục: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Đây là cơ sở để xác định
giá vốn hàng bán và lãi gộp .
- Giá thành toàn bộ (giá thành tiêu thụ)
Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí sản xuất
phát sinh liên quan tới việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí
sản xuất, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp) tính
cho sản phẩm hoàn thành. Đây là cơ sở để doanh nghiệp xác
định lãi trước thuế.
Giá thành = Giá thành + Chi phí +
Chi phí
toàn bộ sản xuất bán hàng
QLDN
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 12 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
Các loại giá thành trên đều được xác định trên cơ sở khác
nhau nhưng đều gồm những khoản chi phí cấu thành giống
nhau
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sản xuất chung.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp xác định
được chính xác giá thành sản phẩm nằm trong lượng hàng hoá
tồn kho hay đã tiêu thụ. Từ đó, xác định chính xác kết quả tiêu
thụ sản phẩm, lao vụ dịch vụ trong kỳ.
1.1.3.Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu
hiện của quá trình sản xuất. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, giống nhau về chất vì đều là những hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá
trình sản xuất chế tạo sản phẩm.
Nhưng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có
những mặt khác nhau:
- Chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí phát sinh
trong một kỳ hạch toán nhất định còn giá thành lại là số chi phí
sản xuất liên quan để chế tạo khối lượng sản phẩm, dịch vụ đã
hoàn thành trong kỳ.
- Chi phí sản xuất không chỉ liên quan đến những sản
phẩm sản xuất hoàn thành mà còn liên quan đến sản phẩm dở
dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm
không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 13 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
cuối kỳ nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm
dở dang của kỳ trước chuyển sang.
Mặt khác giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tài liệu tập hợp chi phí sản
xuất là cơ sở đển tính giá thành sản phẩm, công việc, lao vụ
hoàn thành. Thông qua giá thành sản phẩm của từng giai đoạn
sản xuất, chúng ta có thể xem xét, đánh giá tình hình tiết kiệm
hay lãng phí chi phí sản xuất. Mặt khác sự tiết kiệm hay lãng
phí chi phí sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản
phẩm thấp hay cao, từ đó doanh nghiệp có biện pháp quản lý
chi phí phù hợp, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh .
1.1.4. Vai trò của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm
Mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là lợi nhuận, và để
đạt được mục tiêu đó thì một mặt doanh nghiệp phải cải tiến kỹ
thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, mặt khác cần tăng cường
quản lý kinh tế mà trong đó trọng tâm là quản lý chi phí sản
xuất, tìm cách giảm thiểu chi phí, hạ giá thành đồng thời không
được làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Với chức năng
tính toán, phản ánh và giám đốc một cách thường xuyên, liên
tục sự biến động của vật tư, tài sản, tiền vốn trên cả hai mặt
giá trị và hiện vật, chỉ có kế toán mới có thể cung cấp cho các
nhà quản lý những thông tin, tài liệu cần thiết về các chi phí đã
bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh một cách kịp thời,
đầy đủ. Nhờ đó, các nhà quản lý có thể so sánh giữa chi phí
định mức và chi phí thực tế để xác định tình hình sử dụng các
yếu tố chi phí là lãng phí hay tiết kiệm nhằm đề ra các biện
pháp kịp thời, phù hợp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 14 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
phẩm, đồng thời xác định trọng tâm sản xuất, phát huy thế
mạnh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó các tài liệu về chi phí, giá
thành do kế toán cung cấp còn là một cơ sở quan trọng để xác
định định mức chi phí và lập dự toán sản xuất cho kỳ sau.
Như vậy, có thể khẳng định kế toán tập hợp chi phí và tính
giá thành sản phẩm có một vai trò quan trọng trong hạch toán
kinh tế của các doanh nghiệp sản xuất.
1.2. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm
1.2.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất :
Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất thực
chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí làm cơ
sở cho việc tập hợp chi phí sản xuất để phục vụ cho yêu cầu
tính giá thành sản phẩm, yêu cầu phân tích, kiểm tra chi phí và
xác định kết quả hạch toán kinh tế nội bộ.
Để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong các
doanh nghiệp, phải dựa trên những yếu tố cơ bản sau:
- Đặc điểm, cơ cấu tổ chức sản xuất sản phẩm của
doanh nghiệp.
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
- Yêu cầu, trình độ quản lý chi phí của doanh nghiệp .
- Đặc điểm, mục đích, công dụng của chi phí.
- Yêu cầu hạch toán kinh doanh, yêu cầu công tác tính
giá thành sản phẩm.
Trên cơ sở đó, các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
trong doanh nghiệp có thể là:
- Từng phân xưởng, bộ phận hoặc toàn doanh nghiệp .
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 15 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
- Từng giai đoạn công nghệ hay toàn bộ quy trình công
nghệ.
- Từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng, hạng mục công
trình hay từng nhóm sản phẩm.
- Từng bộ phận cụm chi tiết hoặc chi tiết sản phẩm.
Việc xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí là cơ sở để
mở các chi tiết của các tài khoản tập hợp chi phí, đảm bảo cung
cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm một cách kịp
thời và chính xác, tạo điều kiện cho công việc tăng cường quản
lý và hạch toán nội bộ.
1.2.2. Đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành
1.2.2.1. Đối tượng tính giá thành.
Là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ hoàn thành cần
phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc cần thiết
đầu tiên trong toàn bộ công việc. Để xác định đối tượng tính
giá thành phải dựa trên các căn cứ sau:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm.
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
- Đặc điểm, tính chất của sản phẩm.
- Yêu cầu, trình độ hach toán kinh tế và quản lý của
doanh nghiệp.
- Chu kỳ sản xuất sản phẩm.
Từ đó, đối tựợng tính giá thành có thể là :
* Về mặt tổ chức:
 Nếu sản xuất là đơn chiếc thì từng sản phẩm, từng
công việc sản xuất là một đối tượng tính giá thành.
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 16 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
 Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì
từng sản phẩm là một đối tượng tính giá thành.
 Nếu tổ chức sản xuất nhiều (khối lượng lớn) thì mỗi
loại sản phẩm sản xuất là một đối tượng tính giá thành.
* Về mặt quy trình công nghệ
 Nếu quy trình công nghệ sản xuất giản đơn, thì đối
tượng tính giá thành chỉ có thể là sản phẩm đã hoàn thành ở
cuối quy trình sản xuất.
 Nếu quy trình sản xuất phức tạp kiểu liên tục thì đối
tượng tính giá thành có thể là thành phẩm ở giai đoạn chế biến
cuối cùng, cũng có thể là các loại nửa thành phẩm hoàn thành
ở từng giai đoạn sản xuất.
 Nếu quy trình công nghệ sản xuất phức tạp kiểu song
song (lắp ráp) thì đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm
được lắp ráp hoàn chỉnh, cũng có thể là từng bộ phận, từng chi
tiết sản phẩm.
Như vậy, đối tượng tính giá thành có thể là từng loạt sản
phẩm hay từng sản phẩm đơn chiếc, thành phẩm, nửa thành
phẩm hoặc các chi tiết, phụ tùng.
Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành là căn
cứ để mở các phiếu tính giá thành sản phẩm trong kỳ, là cơ sở
để xác định kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Kỳ tính giá thành.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ mà bộ phận kế toán giá thành
phải tiến hành thực hiện việc tính giá thành cho từng đối tượng
tính giá thành.
Căn cứ để xác định kỳ tính giá thành:
 Đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm.
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 17 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
 Chu kỳ sản xuất sẩn phẩm.
 Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế ở từng doanh
nghiệp .
Từ đó, kỳ tính giá thành có thể là hàng tháng, quý, năm
hay khi kết thúc chu trình sản xuất sản phẩm.
Việc xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp cho việc
tổ chức công tác tính giá thành một cách chính xác, khoa học,
hợp lý, bảo đảm cung cấp số liệu giá thành thực tế một cách
kịp thời tạo cơ sở cho việc tổ chức, phân tích tình hình thực hiện
kế hoạch giá thành.
1.2.3. Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm .
Đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành đều
là những phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất. Nhưng
đối tượng tập hợp chi phí xác định cả nơi phát sinh và nơi chịu
chi phí. Còn đối tượng tính giá thành chỉ xác định nơi chịu chi
phí. Mặt khác, xác định đối tượng tập hợp chi phí là căn cứ để
tổ chức ghi sổ chi tiết, tổ chức ghi chép ban đầu và tổ chức tập
hợp phân bổ chi phí sản xuất hợp lý giúp doanh nghiệp tăng
cường được công tác quản lý, kiểm tra việc tiết kiệm chi phí,
thực hiện tốt hạch toán kinh doanh. Còn việc xác định đối
tượng tính giá thành lại là căn cứ để kế toán giá thành tổ chức
các bảng tính giá thành, sản phẩm (chi tiết giá thành), lựa chọn
phương pháp tính giá thành thích hợp, tổ chức công việc tính
giá thành hợp lý, phục vụ cho việc quản lý và kiểm tra tình hình
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 18 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
thực hiện kế hoạch giá thành và tính toán hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối
tượng tính giá thành lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Số
liệu về chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ theo từng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở và căn cứ để tính giá
thành và giá thành đơn vị. Có thể một đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất phù hợp với một đối tượng tính giá thành (như đối
tượng tập hợp chi phí là phân xưởng, phân xưởng chỉ sản xuất
một loại sản phẩm). Cũng có thể một đối tượng kế toán tập hợp
chi phí sản xuất bao gồm nhiều đối tượng tính giá thành (một
phân xưởng sản xuất nhiều loại sản phẩm) và ngược lại một đối
tượng tính giá thành lại bao gồm nhiều đối tượng kế toán tập
hợp chi phí sản xuất (trường hợp nhiều phân xưởng cùng tham
gia sản xuất một loại sản phẩm)
1.3. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
1.3.1. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp
1.3.1.1. Khái niệm, cách thức tập hợp phân bổ.
a) Khái niệm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hay chi phí vật tư trực
tiếp là các chi phí về vật liệu, nguyên liệu, nhiên liệu và động
lực tiêu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm của doanh
nghiệp (theo Thông tư số 76 TC/TCDN ngày 15-11-1996 của Bộ
Tài Chính về việc quản lý doanh thu, chi phí và giá thành sản
phẩm tại các doanh nghiệp Nhà nước)
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được xây dựng
định mức chi phí và tổ chức quản lý theo định mức. Đây là chi
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 19 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2
LuËn v¨n tèt nghiÖp §¹i häc C«ng §oµn
phí chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, do đó hạch
toán chính xác chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có tầm quan
trọng đặc biệt góp phần cho việc tính toán chính xác giá thành
sản phẩm.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được căn cứ vào các
chứng từ xuất kho để tính giá thực tế nguyên vật liệu trực tiếp
xuất dùng cho sản xuất và căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi
phí đã xác định để tập hợp.
Chi phí Giá trị Giá trị Giá trị
Giá trị phế
NVLTT = NVLTTcòn + NVLTT xuất - NVLTT còn - liệu thu
hồi
trong kỳ lại đầu kỳ dùng trong kỳ lại cuối kỳ
(nếu có)
b) Phương pháp phân bổ:
Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và các đối
tượng có thể tiến hành theo phương pháp phân bổ trực tiếp hay
gián tiếp.
- Phương pháp phân bổ trực tiếp: dùng để tập hợp chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp chỉ liên quan đến đối tượng tập
hợp chi phí riêng biệt như phân xưởng, loại sản phẩm, nhóm
sản phẩm. Kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc (Phiếu xuất
kho...) và các phương pháp xác định trị giá nguyên vật liệu
xuất dùng để hạch toán trực tiếp vào từng đối tượng tập hợp
chi phí.
- Phương pháp phân bổ gián tiếp: áp dụng trong
trường hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan đến
nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí. Để tập hợp chi phí cho
Khoa qu¶n trÞ kinh doanh 20 NguyÔn Minh H¹nh-Q7K2