Thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng đầu tư và phát triển hà nội thực trạng và giải pháp

  • 65 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, Ngân hàng ra đời được xem
như là một trong những phát minh kỳ diệu nhất trong lịch sử. Giai đoạn đầu hoạt
động của Ngân hàng sơ khai với nghiệp vụ ban đầu của nghề kinh doanh tiền tệ
là nhận giữ vàng và các tài sản có giá trị khác. Đến nay Ngân hàng đã trở thành
tổ chức kinh doanh tiền tệ đa năng và tổng hợp như: huy động vốn, cho vay, bảo
lãnh, thanh toán hộ…
Chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung sang cơ chế thị
trường , hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện
trên tất cả các mặt nghiệp vụ, đã đạt được kết quả nhất định trong đó có nghiệp
vụ thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, tình trạng thanh toán bằng tiền
mặt với số lượng lớn vẫn diễn ra phổ biến trong nền kinh tế, gây lãng phí và
kém hiệu quả trong nền kinh tế. Vì vậy, việc hoàn thiện và đổi mới nghiệp vụ
thanh toán không dùng tiền mặt là một trong những yêu cầu cấp thiết một mặt
đáp ứng yêu cầu giao dịch thương mại ngày càng tăng của nền kinh tế, mặt khác
do yêu cầu bản thân Ngân hàng phải không ngừng hoàn thiện hệ thống thanh
toán với công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn nhanh, chính xác và giảm chi phí
từng bước hội nhập với hệ thống Tài chính - Ngân hàng khu vực và thế giới.
Từ đánh giá trên, sau thời gian nghiên cứu lý luận và thực tế thanh toán
không dùng tiền mặt tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội, tôi đã mạnh dạn
chọn nghiên cứu đề tài: “Thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu
tư và phát triển Hà Nội - thực trạng và giải pháp”. Với mong muốn đóng góp
những giải pháp góp phần vào việc tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt
nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.
Nội dung đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt
trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Chi nhánh
Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội.
1
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện thanh toán không dùng
tiền mặt tại Chi nhánh Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội.
Do điều kiện khả năng nghiên cứu và thời gian có hạn, khóa luận khó
tránh khỏi những thiếu sót rất mong nhận được sự chỉ bảo và giúp đỡ của các
thầy cô giáo, cán bộ Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội để đề tài hoàn chỉnh
và có chất lượng cao hơn. Xin chân thành cảm ơn!
2
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN
MẶT TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. SỰ CẦN THIẾT VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN KHÔNG
DÙNG TIỀN MẶT
1. Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt
Cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, Ngân hàng ra đời
với nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ
thanh toán. Ngày nay, khi nền kinh tế chuyển sang một giai đoạn phát triển
mạnh mẽ thì tiền mặt không thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán của toàn bộ
nền kinh tế, do đó đòi hỏi phải có hình thức thanh toán phù hợp đáp ứng nhu cầu
lưu thông hàng hóa của nền kinh tế. Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
ra đời một mặt khắc phục được những hạn chế của thanh toán bằng tiền mặt như
chi phí in ấn, bảo quản, vận chuyển và không an toàn, đồng thời có vai trò quan
trọng thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa của nền kinh tế.
Thanh toán bằng tiền mặt là việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt trong
quan hệ chi trả lẫn nhau về hàng hóa, lao vụ, được thực hiện trực tiếp giữa người
mua và người bán không thông qua trung gian nào khác. Người mua phải có
trong tay một lượng tiền mặt tương đương với giá trị hàng hóa, lao vụ thì mới
phát sinh quan hệ mua bán trao đổi giữa người mua và người bán. Thanh toán
bằng tiền mặt tuy có một số ưu điểm như tiện lợi thì bên cạnh đó còn gặp một số
hạn chế như: độ an toàn trong thanh toán bằng tiền mặt không cao vì thanh toán
bằng tiền mặt luôn có sự xuất hiện của tiền mặt nên trong quá trình thanh toán
giữa bên mua và bên bán phải có sự vận chuyển, kiểm đếm, bảo quản tiền mặt…
do đó dễ dẫn đến mất mát và nhầm lẫn. Hơn nữa, thanh toán bằng tiền mặt làm
cho vốn bị ứ đọng và chi phí lưu thông tiền tệ tăng.
Do tính chất của công việc trao đổi, thanh toán bằng tiền mặt có nhiều
nhược điểm nên thanh toán không dùng tiền mặt ra đời một mặt khắc phục được
3
những nhược điểm trên, mặt khác thúc đẩy lưu thông trao đổi hàng hóa phát
triển hơn không chỉ thanh toán trong cùng một quốc gia mà có thể ra cả các quốc
gia khác trên thế giới.
Thanh toán không dùng tiền mặt được coi là cách thức thanh toán mang
lại nhiều hiệu quả kinh tế. Vì đặc trưng của thanh toán không dùng tiền mặt là
trong quá trình thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà thanh toán
bằng việc trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản tiền gửi
của người thụ hưởng mở tại Ngân hàng hoặc bằng cách thanh toán bù trừ lẫn
nhau thông qua vai trò trung gian của ngân hàng.
Do tính ưu việt như vậy nên hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
không ngừng hoàn thiện và ngày càng phát triển, không thể thiếu được trong nền
kinh tế thị trường. Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời là một tất yếu khách
quan.
2. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
2.1 Khái niệm
Thanh toán không dùng tiền mặt là việc thanh toán không sử dụng đến
tiền mặt mà dùng hình thức trích chuyển vốn trên tài khoản từ tài khoản của
người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng, hoặc bằng cách bù trừ lẫn
nhau thông qua vai trò trung gian của Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác.
2.2 Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt ra đời và phát triển trên cơ sở nền sản
xuất hàng hóa, sản xuất hàng hóa càng phát triển thì nhu cầu về thanh toán
không dùng tiền mặt ngày càng tăng, điều này được thể hiện qua vai trò của nó
đối với sự phát triển của nền kinh tế.
- Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần thúc đẩy sự phát triển của sản
xuất và lưu thông hàng hóa. Thanh toán vừa là khâu mở đầu và cũng vừa là khâu
kết thúc của một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Do đó nếu tổ chức tốt trong khâu
thanh toán thì sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn giúp doanh nghiệp thu hồi vốn
nhanh để phục vụ tốt cho chu kỳ sản xuất sau.
Qua nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã rút ngắn được thời gian
4
thanh toán, tiết kiệm vốn, tăng nhanh tốc độ quay vòng của vốn góp phần thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.
- Thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu
thông, làm giảm chi phí trong việc in ấn, bảo quản, vận chuyển tiền mặt.
Lưu thông tiền tệ bao gồm hai bộ phận là thanh toán bằng tiền mặt và
thanh toán không dùng tiền mặt.
- Thanh toán không dùng tiền mặt tạo khả năng tập trung nguồn vốn tín
dụng cho Ngân hàng để đầu tư cho sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện phát triển
nền kinh tế. Để thực hiện việc thanh toán không dùng tiền mặt qui định các đơn
vị sản xuất kinh doanh, các cá nhân phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại
Ngân hàng, trên tài khoản phải luôn luôn có một số tiền nhất định để tiến hành
chi trả trong trường hợp khách hàng có nhu cầu. Trong một số trường hợp khi
khách hàng có nhu cầu thanh toán thì khách hàng khác lại gửi tiền vào tài khoản,
do đó trên tài khoản tiền gửi của khách hàng luôn tồn tại số dư nhất định. Đây là
nguồn vốn lớn nếu Ngân hàng có kế hoạch sử dụng hợp lý sẽ đem lại hiệu quả
lớn không chỉ cho Ngân hàng mà còn cho cả khách hàng. Vì khách hàng mở tài
khoản tiền gửi thanh toán Ngân hàng sẽ trả cho khách hàng số lãi nhất định.
- Thanh toán không dùng tiền mặt là công cụ thanh toán có hiệu quả nhằm
thu hút khách hàng đến với Ngân hàng của mình. Nếu Ngân hàng làm tốt công
tác thanh toán, thì chính nó là nguồn vốn tiềm tàng chảy vào Ngân hàng. Nguồn
vốn này Ngân hàng huy động được với chi phí thấp hơn nhiều lãi suất tiền gửi
thanh toán thấp hơn nhiều so với các hình thức huy động khác như tiền gửi tiết
kiệm…
- Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt đối với quản lý vĩ mô của
Ngân hàng Nhà nước nói riêng và của Nhà nước nói chung: Ngân hàng là tổ
chức kinh tế của nhà nước, thực hiện các chính sách tiền tệ, tín dụng, thanh toán.
Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước qua Ngân hàng chỉ thực sự phát huy có hiệu
quả khi phần lớn khối lượng thanh toán tập trung qua Ngân hàng nhà nước quản
lý một cách tổng thể quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, mặt khác kiểm
soát được mức tạo tiền và tăng tín dụng, thực hiện tốt chính sách tiền tệ.
5
- Thanh toán không dùng tiền mặt giúp hệ thống Ngân hàng thương mại
thực hiện chức năng tạo tiền. Như ta đã biết nếu thanh toán bằng tiền mặt khi
khách hàng đã lĩnh tiền mặt ra khỏi Ngân hàng thì số tiền đó không nằm trong
khâu thanh toán của Ngân hàng. Nếu thanh toán không dùng tiền mặt với hệ
thống thanh toán liên hàng, khách hàng chỉ cần trích tài khoản tiền gửi thanh
toán của mình tại Ngân hàng trả cho khách hàng, như vậy trong quá trình đó thì
nguồn vốn vẫn nằm trong Ngân hàng và có thể sinh lời đồng tiền khi khách hàng
gửi tiền vào Ngân hàng thương mại phát sinh quá trình tạo ra bội số tiền gửi.
II. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THANH TOÁN
KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT Ở VIỆT NAM
1. Thanh toán không dùng tiền mặt trước thời kỳ đổi mới.
Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập Ngân
hàng Quốc gia Việt Nam. Trong giai đoạn này nền kinh tế nước ta đang vận
hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp do vậy thanh toán không dùng tiền
mặt không phát huy được vai trò của nó.
- Thời kỳ kỹ thuật thanh toán còn lạc hậu chủ yếu làm bằng thủ công gây
ra sai sót và thời gian thanh toán không kịp thời, thanh toán chủ yếu là phục vụ
các cơ quan đoàn thể, xí nghiệp quốc doanh… Vì vận hành trong cơ chế bao cấp
cho nên họ không quan tâm đến chất lượng phục vụ, vốn bị ứ đọng dẫn đến cửa
quyền trong giao dịch, không phát huy được chức năng của Ngân hàng là quay
vòng vốn nhanh thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Thủ tục thanh toán thì phức tạp rườm rà mà thời gian thanh toán thì
chậm.
- Các hình thức thanh toán không linh hoạt.
2. Thanh toán không dùng tiền mặt thời kỳ đổi mới đến nay
Trước tình hình kinh tế của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều
giải pháp nhằm giải quyết tình trạng trên là chuyển từ cơ chế quản lý tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước. Kể từ khi ra đời hai pháp lệnh Ngân hàng
ngày 23 tháng 5 năm 1990 và đặc biệt là sự ra đời của thể lệ thanh toán không
6
dùng tiền mặt vào tháng 7 năm 1991, thanh toán không dùng tiền mặt ở nước ta
đã có sự thay đổi đáng kể để phù hợp với cơ chế thanh toán.
- Hình thành các hệ thống thanh toán của các Ngân hàng thương mại quốc
doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng Nhà nước, thủ tục thanh toán
đơn giản hơn, đảm bảo an toàn…
- Phát triển nhiều công cụ thanh toán phù hợp với điều kiện Việt Nam
hiện nay và giảm bớt nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt.
- Từng bước nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên Ngân hàng, đáp ứng
được với yêu cầu tiếp cận các phương tiện thanh toán hiện đại trên thế giới.
- Từng bước xóa bỏ tập quán thích tiêu tiền mặt trong đại bộ phận dân
chúng, đồng thời tạo thói quen sử dụng các công cụ thanh toán không dùng tiền
mặt.
Công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam đòi hỏi ngành Ngân hàng phải có
những nỗ lực vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán để dần hòa chung
vào mạng lưới thanh toán quốc tế, rút ngắn được khoảng cách về trình độ nghiệp
vụ thanh toán so với các Ngân hàng nước ngoài. Do vậy việc đầu tư trang thiết
bị hiện đại, đào tạo các chuyên gia kỹ sư giỏi về thanh toán và tin học là điều tất
yếu phải làm song song với việc khai thác các ưu thế về hình thức thanh toán
đang được áp dụng và đưa ra các hình thức thanh toán mới nhằm mở rộng phạm
vi và tăng khối lượng thanh toán qua Ngân hàng.
III. CÁC QUY ĐỊNH TRONG THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT
Để thống nhất công tác tổ chức thanh toán, đảm bảo quyền lợi cho các
bên cũng như thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam đã có những qui định về thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là
những qui định chung giúp cho quá trình thanh toán diễn ra thông suốt đồng thời
thực hiện tốt chức năng kiểm soát bằng đồng tiền của hệ thống Ngân hàng đối
với các hoạt động của các tổ chức kinh doanh và các cơ quan có hiệu quả. Chính
phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành một số nghị định, quyết định của
thanh toán không dùng tiền mặt. Ngày 25/11/1993, Chính phủ ra nghị định số
7
91/CP về tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt, ngày 21/02/1994 Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định số 22/QĐ-NH1 về thể lệ thanh
toán không dùng tiền mặt, ngày 09/05/1996 Chính phủ ra nghị định số 30/CP về
hình thức thanh toán séc. Và gần đây ngày 20/9/2001 Chính phủ ra nghị định số
64/2001/NĐ-CP về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán thay thế cho nghị định 91, 30 của Chính phủ trước đây.
1. Qui định chung
Các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân
Việt Nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam được quyền
lựa chọn Ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán. Qui định
này là thay đổi mang tính chất tiền đề cho quá trình đổi mới nghiệp vụ thanh
toán qua Ngân hàng. Trước đây, khách hàng chỉ có thể mở tài khoản giao dịch
tại Ngân hàng địa phương nơi đóng trụ sở chính, giờ đây họ được phép tự do lựa
chọn Ngân hàng để mở tài khoản.
- Về phía khách hàng qui định này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng
thực hiện các giao dịch một cách nhanh chóng và thuận tiện. Việc gò ép mở tài
khoản giao dịch tại Ngân hàng địa phương nơi đóng trụ sở chính không đáp ứng
được yêu cầu của khách hàng và cản trở quá trình sản xuất kinh doanh.
- Về phía Ngân hàng, qui định này tạo ra sự cạnh tranh giữa các Ngân
hàng. Các Ngân hàng phải không ngừng hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch
vụ thanh toán để hấp dẫn khách hàng, nhằm lôi kéo khách hàng đến với Ngân
hàng mình.
2. Qui định đối với bên chi trả (bên mua)
Để đảm bảo khả năng chi trả đầy đủ kịp thời tiền hàng hóa dịch vụ cho
bên thụ hưởng, bên chi trả phải có đủ tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại
Ngân hàng. Các trường hợp thanh toán vượt quá số dư trên tài khoản tiền gửi tại
Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước là phạm pháp, chịu phạt về vật chất và bị xử lý
theo pháp luật.
Mục đích của qui định này là nhằm đẩy nhanh tốc độ thanh toán. Bên mua
sau khi đã nhận hàng hóa, dịch vụ, phải có trách nhiệm thanh toán tiền hàng hóa
8
dịch vụ cho bên bán, nếu thanh toán qua Ngân hàng thì phải đảm bảo cho bên
bán chứng từ hợp lệ tới Ngân hàng sẽ được thanh toán ngay, tránh tình trạng chờ
đợi lâu gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.
3. Qui định đối với bên thụ hưởng.
Người thụ hưởng sau khi nhận được các giấy tờ thanh toán tiền hàng hóa
dịch vụ thì phải kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các giấy tờ đó (Giấy tờ phải
ghi đầy đủ các yếu tố qui định, không sửa chữa, tẩy xóa…) đồng thời giao hàng
hóa dịch vụ cho bên mua theo giá trị chứng từ thanh toán. Nếu thiếu một trong
số các yếu tố đó thì sẽ không được thanh toán.
Mục đích của qui định này là nhằm tránh hiện tượng séc giả, ghi man..
giúp bên thụ hưởng đỡ bị thiệt hại.
4. Qui định đối với Ngân hàng
Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước phải chịu trách nhiệm:
- Thực hiện các Uỷ nhiệm thanh toán của chủ tài khoản đảm bảo chính
xác, an toàn, thuận tiện. Các Ngân hàng và Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm
chi trả bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản phạm vi số dư trên tài khoản tiền gửi
theo yêu cầu của chủ tài khoản.
- Kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản trước khi thực hiện
thanh toán, Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ
tiền thanh toán đồng thời không chịu trách nhiệm liên đới của hai bên khách
hàng.
- Nếu do thiếu sót trong quá trình thanh toán thì Ngân hàng và Kho bạc
Nhà nước phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng và tùy theo mức độ vi phạm
có thể bị xử lý theo pháp luật.
- Ngân hàng có trách nhiệm kiểm soát các giấy tờ thanh toán của khách
hàng và đảm bảo lập đúng thủ tục qui định.
Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán nếu các giấy tờ thanh toán
không đủ các yêu cầu trên, cũng như các chứng từ không hợp lệ.
IV. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THANH TOÁN KHÔNG
DÙNG TIỀN MẶT
9
1. Pháp luật
Thanh toán không dùng tiền mặt là một loại hình cung cấp dịch vụ tiện
ích cho khách hàng, nó chịu ảnh hưởng rất lớn của pháp luật. Chỉ một thay đổi
nhỏ của pháp luật sẽ tạo cơ hội và thách thức lớn cho Ngân hàng, nếu như Ngân
hàng không kịp thay đổi sẽ dễ mất uy tín với khách hàng, hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng cũng bị ảnh hưởng và kém hiệu quả.
Khách hàng sử dụng hình thức thanh toán không dùng tiền mặt nhờ vào
tính hiệu quả của nó là nhanh chóng, thuận tiện, chính xác… nhưng đôi khi
chính những thủ tục, chế độ quá cứng nhắc sẽ gây trở ngại cho khách hàng trong
công tác thanh toán.
Thanh toán không dùng tiền mặt giúp cho Nhà nước thực hiện vai trò
quản lý tiền tệ. Khi một qui định nào đó được đưa ra kịp thời với sự biến động
của nền kinh tế trong nước và thế giới thì nó sẽ thúc đẩy công tác thanh toán
không dùng tiền mặt phát triển tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo
kịp và hòa nhập được với nền kinh tế thế giới.
2. Khoa học và công nghệ
Công nghệ Ngân hàng là một yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Việc áp dụng khoa học công nghệ
góp phần thúc đẩy nhanh quy trình chu chuyển vốn, giảm thiểu thời gian thanh
toán, độ chính xác và an toàn cao. Hiện nay với sự tiến bộ của khoa học công
nghệ hiện đại vào công tác thanh toán đã dần dần cải tiến và hoàn thiện với mục
đích thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng. Như vậy, khoa học công nghệ là mô
yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của công tác thanh toán
không dùng tiền mặt. Khoa học công nghệ có tiên tiến hiện đại thì thanh toán
không dùng tiền mặt mới có thể phát huy được vai trò của nó.
3. Tâm lý
Yếu tố tâm lý có ảnh hưởng rất lớn đến thanh toán không dùng tiền mặt.
Nếu trình độ dân trí thấp, lạc hậu người dân không nắm được những tiện ích của
thanh toán không dùng tiền mặt, họ chỉ có thói quen thanh toán bằng tiền mặt.
Để các hình thức thanh toán được phổ biến trong cả dân cư thì Ngân hàng phải
10
chú ý tới yếu tố con người như nâng cao chất lượng cán bộ công nhân viên,
quảng cáo tuyên truyền cho người dân biết về tiện ích của hình thức thanh toán
này, có như vậy mới dần dần xóa bỏ được tâm lý chuộng tiền mặt và thúc đẩy
thanh toán không dùng tiền mặt ngày một phát triển.
V. NỘI DUNG CÁC HÌNH THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT
Hiện nay trên thế giới đã nghiên cứu và đưa áp dụng nhiều hình thức
thanh toán không dùng tiền mặt đa dạng và phong phú. Nhưng tùy theo mô hình
kinh tế, trình độ quản lý, mức độ hoàn thiện hệ thống Ngân hàng của mỗi nước
để lựa chọn một số hình thức cụ thể vào áp dụng cho phù hợp với điều kiện của
mỗi nước sao cho có hiệu quả nhất. Hiện nay ở Việt Nam các đơn vị và cá nhân
thanh toán qua Ngân hàng áp dụng năm hình thức thanh toán không dùng tiền
mặt sau:
* UỶ nhiệm chi - chuyển tiền
* UỶ nhiệm thu
* Séc
* Thư tín dụng
* Thẻ thanh toán
1. Uỷ nhiệm chi - chuyển tiền
UỶ nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in sẵn
của Ngân hàng, yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản của mình trả
cho bên thụ hưởng.
Uỷ nhiệm chi được dùng để thanh toán các khoản chi trả tiền hàng hóa,
dịch vụ hoặc chuyển tiền trong cùng hệ thống và khác hệ thống, Kho bạc Nhà
nước, cùng địa phương hoặc khác địa phương.
Trong ngày làm việc Ngân hàng bên mua phải hoàn tất các lệnh chi đó
hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản của khách hàng không đủ tiền hoặc chứng
từ khách hàng lập không hợp lệ.
Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước phục vụ bên bán (bên thụ hưởng) khi nhận
được chứng từ thanh toán hợp lệ phải ghi có ngay vào tài khoản của khách hàng
11
và báo cho khách hàng biết.
* Quy trình hạch toán:
- Trường hợp cả bên mua và bên bán cùng mở tài khoản tại một Ngân
hàng:
Nhận Uỷ nhiệm chi, sau khi kiểm soát đầy đủ tính hợp lệ hợp pháp của
chứng từ, kế toán Ngân hàng hạch toán:
Nợ: TK đơn vị mua
Có: TK đơn vị bán
- Trường hợp thanh toán Uỷ nhiệm chi khác Ngân hàng nhưng trong cùng
một địa bàn và có tham gia thanh toán bù trừ:
Tại Ngân hàng phục vụ bên mua:
Nợ: TK đơn vị mua
Có: TK thanh toán bù trừ
Tại Ngân hàng phục vụ bên bán:
Nợ: TK thanh toán bù trừ
Có: TK đơn vị bán
- Trường hợp thanh toán Uỷ nhiệm chi khác Ngân hàng, khác địa bàn
nhưng cùng hệ thống:
Tại Ngân hàng phục vụ bên mua:
Nợ: TK đơn vị mua
Có: TK thanh toán tập trung
Tại Ngân hàng phục vụ bên bán:
Nợ: TK thanh toán tập trung
Có: TK đơn vị bán
Để chuyển tiền khác địa phương người ta còn sử dụng Uỷ nhiệm chi như
một công cụ trung gian để Ngân hàng cấp séc chuyển tiền cầm tay:
Nợ: TK đơn vị mua
Có: TK tiền gửi séc chuyển tiền
Séc chuyển tiền chỉ áp dụng trong phạm vi giữa các Ngân hàng cùng hệ
thống. Thời hạn hiệu lực của tờ séc chuyển tiền là 30 ngày kể từ ngày phát hành
12
séc.
Uỷ nhiệm chi có những ưu điểm: là hình thức thanh toán đơn giản, thuận
tiện và được áp dụng khá phổ biến ở Việt Nam . Uỷ nhiệm chi được sử dụng khá
phổ biến trong thanh toán tiền hàng, dịch vụ cũng như thanh toán trả tiền nợ,
thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách…
Tuy nhiên bên cạnh đó còn bộc lộ những hạn chế: việc chi trả và thời gian
chi trả lệ thuộc vào đơn vị mua quyết định. Trong trường hợp đơn vị mua bị khó
khăn về tài chính hoặc vi phạm hợp đồng thì quyền lợi của bên bán không được
đảm bảo vì bên mua đã sử dụng hàng hóa và dịch vụ của bên bán giao cho. Với
việc thanh toán bằng Uỷ nhiệm chi có thể dẫn đến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn
nhau nếu một trong hai bên vi phạm hợp đồng. Do đó Uỷ nhiệm chi thường
được áp dụng trong trường hợp thanh toán giữa hai bên thực sự có tín nhiệm lẫn
nhau.
2. Uỷ nhiệm thu
Uỷ nhiệm thu là hình thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành
việc giao hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng cho bên mua sau đó căn cứ vào hóa
đơn để lập Uỷ nhiệm thu gửi tới Ngân hàng phục vụ mình để Ngân hàng thu hộ.
Uỷ nhiệm thu được áp dụng thanh toán giữa khách hàng mở tài khoản
trong một chi nhánh Ngân hàng hoặc các chi nhánh Ngân hàng khác, Kho bạc
Nhà nước cùng hệ thống hoặc khác hệ thống, cùng địa phương hoặc khác địa
phương.
* Quy trình thanh toán:
- Trường hợp người mua, người bán mở tài khoản trong cùng một Ngân
hàng:
Ngân hàng sau khi nhận được Uỷ nhiệm thu kèm theo các hóa đơn, chứng
từ thì kế toán kiểm tra và tiến hành hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi đơn vị mua
Có: TK tiền gửi đơn vị bán
Đồng thời báo Nợ, Có cho cả hai bên.
- Trường hợp người mua và người bán mở tài khoản tại hai Ngân hàng
13
khác nhau:
Tại Ngân hàng bên bán:
Khi nhận Uỷ nhiệm thu của bên bán, sau khi kiểm soát thì ghi “Nhập sổ
theo dõi” và làm thủ tục chuyển Uỷ nhiệm thu sang Ngân hàng phục vụ bên
mua.
Khi nhận được chuyển tiền của Ngân hàng phục vụ người mua, thanh toán
Uỷ nhiệm thu kế toán hạch toán:
Nợ: TK thanh toán bù trừ ( hoặc TK chuyển tiền đến )
Có: TK tiền gửi đơn vị bán
Tại Ngân hàng bên mua:
Khi nhận được Uỷ nhiệm thu do Ngân hàng bên bán chuyển sang, sau khi
kế toán kiểm soát thấy hợp lệ, hợp pháp và đủ điều kiện thanh toán, căn cứ vào
Uỷ nhiệm thu Ngân hàng sẽ trích tài khoản của người mua và lập chứng từ thanh
toán chuyển tiền sang Ngân hàng bên bán, hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi đơn vị bán
Có: TK thanh toán bù trừ ( hoặc TK chuyển tiền đi )
Khi nhận được giấy Uỷ nhiệm thu trong vòng một ngày làm việc, Ngân
hàng, Kho bạc phục vụ bên chi trả trả tiền ngay cho bên thụ hưởng để hoàn tất
việc thanh toán.
Uỷ nhiệm thu chủ yếu được sử dụng thanh toán các dịch vụ cung ứng
mang tính chất định kỳ như tiền điện, nước, tiền thuê nhà…
Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó còn bộc lộ một số hạn chế:
Uỷ nhiệm thu và các chứng từ giao hàng xuất phát từ bên bán nhưng lại đòi hỏi
phải ghi Nợ trước Có sau nên thường bị luân chuyển chứng từ qua nhiều công
đoạn gây ách tắc chậm trễ trong thanh toán. Nó được áp dụng trong trường hợp
hai bên tin tưởng lẫn nhau.
3. Hình thức séc thanh toán
Séc là loại lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu in sẵn do
Ngân hàng Nhà nước quy định để yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ
tài khoản tiền gửi thanh toán của mình trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên
14
séc hay người cầm séc.
Qui định thời hạn hiệu lực đối với các loại séc là 15 ngày theo lịch tính từ
ngày ký phát hành séc cho đến ngày nộp séc nhờ đơn vị thu hộ.
Hiện nay nước ta đang sử dụng hai loại séc sau: Séc chuyển khoản, séc
bảo chi.
3.1. Séc chuyển khoản:
Séc chuyển khoản là lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với Ngân
hàng phục vụ mình về việc trích trả tiền từ tài khoản của mình trả cho người thụ
hưởng có tên trên tờ séc.
Phạm vi áp dụng: Chỉ được áp dụng trong trường hợp thanh toán giữa các
bên mua bán có tài khoản tại cùng một chi nhánh Ngân hàng hoặc có tài khoản
tại chi nhánh khác nhưng trên cùng một địa bàn có tham gia thanh toán bù trừ và
tham gia giao nhận chứng từ trực tiếp hàng ngày với nhau.
* Quy trình thanh toán:
- Trường hợp thanh toán giữa hai đơn vị có tài khoản trong cùng một
Ngân hàng:
Khi nhận được séc và bảng kê nộp séc thì kế toán hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi của đơn vị phát hành séc
Có: TK tiền gửi của đơn vị thụ hưởng séc
- Trường hợp thanh toán giữa hai đơn vị có tài khoản tại hai Ngân hàng
khác nhau nhưng có tham gia thanh toán bù trừ.
Tại Ngân hàng phát hành séc:
Nợ: TK tiền gửi của đơn vị phát hành séc
Có: TK thanh toán bù trừ
Tại Ngân hàng nhận séc:
Nợ: TK thanh toán bù trừ
Có: TK tiền gửi của đơn vị thụ hưởng séc
3.2 Thanh toán séc bảo chi
Séc bảo chi cũng là tờ séc chuyển khoản thông thường nhưng được Ngân
hàng phục vụ đơn vị phát hành, đảm bảo khả năng chi trả bằng cách trích tiền từ
15
tài khoản tiền gửi đưa vào một tài khoản riêng (tài khoản đảm bảo thanh toán
séc bảo chi) Ngân hàng sẽ làm thủ tục bảo chi và đóng dấu bảo chi lên tờ séc
trước khi giao tờ séc cho khách hàng.
Séc bảo chi thường dùng để trả tiền hàng hóa dịch vụ giữa các khách hàng
có tài khoản trong cùng một chi nhánh Ngân hàng, khác chi nhánh nhưng cùng
hệ thống, khác hệ thống nhưng có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh,
thành phố.
Vì séc bảo chi đã được Ngân hàng lưu ký sẵn số tiền trên séc vào một tài
khoản riêng của Ngân hàng nên có thể được ghi Có ngay sau khi Ngân hàng đã
kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của tờ séc bảo chi đối với trường hợp thanh toán
séc bảo chi cùng hệ thống. Trường hợp hai Ngân hàng khác hệ thống thì không
được phép ghi Có ngay mà phải giao nhận chứng từ đồng thời tại phiên giao
dịch bù trừ để thực hiện ghi Nợ trước ghi Có sau.
* Quy trình hạch toán:
Khi khách hàng có nhu cầu sử dụng séc bảo chi, thì lập giấy yêu cầu bảo
chi cùng tờ séc nộp tại Ngân hàng phục vụ mình để làm thủ tục bảo chi séc.
Ngân hàng kiểm tra tính đầy đủ hợp pháp, hợp lệ của bộ chứng từ, nếu không có
gì sai sót thì hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi của người phát hành
Có: TK thanh toán đảm bảo thanh toán séc bảo chi
Thanh toán séc bảo chi:
- Trường hợp thanh toán giữa hai khách hàng có tài khoản tại cùng một
Ngân hàng:
Khi người bán nhận được tờ séc thì nộp bảng kê và tờ séc vào Ngân hàng,
Ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ sau đó hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi để thanh toán séc bảo chi
Có: TK tiền gửi của đơn vị bán
- Trường hợp séc bảo chi thanh toán khác Ngân hàng, có tham gia thanh
toán bù trừ giao nhận chứng từ trực tiếp.
Tại đơn vị thanh toán bảng kê nộp séc :
16
Sau khi kiểm tra tính hợp lệ hợp pháp của séc và bảng kê do Ngân hàng
phục vụ bên bán giao , Ngân hàng lập bảng kê 12 ký xác nhận và hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi để thanh toán séc bảo chi
Có: TK thanh toán bù trừ.
Tại đơn vị thu hộ :
Căn cứ vào các chứng từ thanh toán séc bảo chi từ Ngân hàng phục vụ
bên mua chuyển tới để hạch toán:
Nợ: TK thanh toán bù trừ
Có: TK tiền gửi của đơn vị bán.
- Trường hợp séc bảo chi thanh toán giữa hai Ngân hàng cùng hệ thống thì
được ghi Có cho người bán trước nhưng phải tính ký hiệu mật chặt chẽ để đảm
bảo an toàn về tài sản.
Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị bán, hạch toán:
Nợ: TK chuyển tiền đi
Có: TK tiền gửi đơn vị bán
Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị mua, hạch toán
Nợ: TK thanh toán séc bảo chi
Có: TK chuyển tiền đến .
4. Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C)
Thư tín dụng là văn bản cam kết của người mua, có xác nhận của Ngân
hàng bên mua để uỷ nhiệm cho Ngân hàng bên mua thanh toán một số tiền nhất
định cho người bán nếu người bán nộp đầy đủ chứng từ thanh toán hợp lệ theo
điều kiện và thời hạn của thư tín dụng.
Thư tín dụng được áp dụng trong quan hệ thanh toán tiền hàng và dịch vụ
giữa người mua và người bán có tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau trong
cùng hoặc khác hệ thống.
Thư tín dụng được thanh toán trong thời gian hiệu lực là 3 tháng kể từ
ngày Ngân hàng bên mua mở thư tín dụng. Mức tối thiểu của một thư tín dụng là
10.000.000 đồng và không được hưởng lãi.
* Quy trình thanh toán:
17
- Trường hợp thư tín dụng thanh toán giữa hai Ngân hàng cùng hệ thống:
Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị mua:
Khi nhận được giấy xin mở thư tín dụng của người mua, Ngân hàng kiểm
soát tính hợp lệ, hợp pháp nếu không có gì sai sót Ngân hàng đồng ý mở thư tín
dụng và hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi của đơn vị mở thư tín dụng
Có: TK tiền gửi đảm bảo thanh toán thư tín dụng
Đồng thời làm thủ tục để gửi giấy mở thư tín dụng sang Ngân hàng phục
vụ đơn vị bán.
Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị bán:
Khi nhận được giấy mở thư tín dụng do Ngân hàng phục vụ đơn vị mua
chuyển tới sẽ nhập sổ theo dõi “thư tín dụng đến”, đồng thời báo cho đơn vị bán
để giao hàng cho người mua. Sau khi đã giao hàng cho đơn vị mua, đơn vị bán
lập bộ bảng kê chứng từ thanh toán thư tín dụng và hóa đơn hàng hóa cho Ngân
hàng phục vụ mình. Ngân hàng tiến hành tra kiểm soát, sau đó ghi:
Xuất sổ theo dõi và tiến hành hạch toán:
Nợ: TK chuyển tiền đi
Có: TK tiền gửi thanh toán của đơn vị bán.
Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị mua:
Khi nhận được giấy báo Nợ từ Ngân hàng phục vụ đơn vị bán sẽ hạch
toán:
Nợ: TK tiền gửi đảm bảo thanh toán thư tín dụng
Có: TK chuyển tiền đến .
5. Thanh toán bằng thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán do Ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng
để trả tiền hàng hóa và dịch vụ, rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán
hay các quầy trả tiền mặt tự động.
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn liền với
kỹ thuật tin học ứng dụng trong Ngân hàng.
Thẻ thanh toán gồm nhiều loại, được phân chia theo các tiêu thức khác
18
nhau như kỹ thuật công nghệ sản xuất thẻ, phần mềm ứng dụng thẻ, nội dung
kinh tế…
Căn cứ vào nội dung kinh tế của thẻ được chia ra:
* Thẻ thanh toán không phải ký quỹ (Thẻ loại A):
Thẻ này được áp dụng đối với những khách hàng có quan hệ tín dụng,
thanh toán tốt và thường xuyên, có tín nhiệm với Ngân hàng.
Thẻ loại này còn được gọi là thẻ Nợ, thẻ này do Ngân hàng phát hành
dùng để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ. Người sử dụng thẻ phải có tài khoản
tại Ngân hàng và thường xuyên có số dư, hạn mức tối đa của thẻ do Ngân hàng
quy định. Hạn mức được ghi vào bộ nhớ của thẻ nếu là thẻ điện tử, vào dải băng
từ nếu là thẻ từ và khách hàng chỉ được thanh toán trong phạm vi hạn mức của
thẻ.
* Thẻ thanh toán phải ký quỹ (Thẻ loại B)
Được áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng khách hàng, để được sử dụng
thẻ này thì khách hàng phải lưu ký một số tiền nhất định vào tài khoản đảm bảo
thanh toán thẻ thông qua việc trích tài khoản tiền gửi, hoặc nộp tiền mặt, hoặc
vay Ngân hàng. Số tiền ký quỹ là hạn mức của thẻ và được ghi vào bộ nhớ của
thẻ.
* Thẻ tín dụng (Thẻ loại C)
Là loại thẻ không phải ký quỹ. Thẻ này được áp dụng cho những khách
hàng được Ngân hàng cho vay vốn. Mức tiền cho vay được coi như hạn mức tín
dụng và được ghi vào bộ nhớ của thẻ, khách hàng chỉ sử dụng trong phạm vi hạn
mức của thẻ.
* Qui trình thanh toán:
- Kế toán giai đoạn phát hành thẻ:
Khi nhận được ba liên giấy đề nghị phát hành thẻ từ khách hàng, Ngân
hàng tiến hành kiểm soát, sau đó làm thủ tục phát hành thẻ.
+ Đối với thẻ ký quỹ (thẻ loại B), hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi của khách hàng mua thẻ
Có: TK đảm bảo thanh toán thẻ
19
+ Đối với thẻ thanh toán không ký quỹ (thẻ loại A và loại C): hai loại thẻ
này không lập bút toán để hạch toán mà chỉ nhập các thông tin như tên chủ sở
hữu thẻ, địa chỉ, số chứng minh nhân dân, mã số của chủ sở hữu thẻ, hạn mức
được sử dụng, số kiểm tra của Ngân hàng phát hành thẻ và bộ nhớ của thẻ, sau
đó trao đổi thẻ cho chủ sở hữu thẻ.
- Kế toán giai đoạn thanh toán thẻ: Trường hợp đã thực hiện tin học hóa
toàn bộ nghiệp vụ kế toán, thanh toán và nối mạng thông tin toàn hệ thống Ngân
hàng và các tổ chức tín dụng thì kế toán giai đoạn phát hành thẻ và thanh toán
thẻ được kết hợp giữa thủ công và máy tính.
Tại Ngân hàng phát hành thẻ khi nhận chuyển tiền về việc thanh toán thẻ
từ Ngân hàng đại lý chuyển đến phải có trách nhiệm thanh toán ngay số tiền này
nếu thấy hợp lệ. Ngân hàng phát hành thẻ hạch toán:
Nợ: TK tiền gửi đảm bảo thanh toán thẻ (đối với thẻ loại B)
TK tiền gửi của chủ sở hữu (Đối với thẻ loại A)
TK cho vay ngắn hạn (Đối với thẻ tín dụng)
Có: TK tiền gửi của cơ sở chấp nhận thẻ
Nước ta hiện nay mới áp dụng thanh toán thẻ ở những thành phố lớn, thời
gian áp dụng chưa nhiều, công nghệ chưa phát triển mạnh. Tuy nhiên cũng cho
ta thấy nhiều triển vọng. Công tác thanh toán không dùng tiền mặt nói chung và
thẻ thanh toán nói riêng chỉ phát triển mạnh khi trình độ công nghệ được áp
dụng rộng rãi, trình độ dân trí cao. Năm hình thức trên là dựa vào thể lệ thanh
toán không dùng tiền mặt. Tùy theo điều kiện của mỗi đơn vị kinh tế, mỗi Ngân
hàng mà áp dụng hình thức này hay hình thức khác cho phù hợp.
VI. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN GIỮA CÁC NGÂN
HÀNG
Tùy theo đặc điểm tình hình tổ chức của Ngân hàng và trình độ phát triển
của từng giai đoạn để qui định từng phương thức thanh toán khác nhau. Hiện
nay đang sử dụng các phương thức thanh toán sau:
1. Phương thức thanh toán liên hàng
Phương thức thanh toán liên hàng áp dụng thanh toán giữa các đơn vị
20