Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế bằng loại hình du lịch mice ở việt nam giai đoạn 2010 2015

  • 80 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, MICE là loại hình du lịch rất nhiều nước tập
trung phát triển vì doanh thu của loại hình này lớn hơn rất nhiều so với các loại
hình du lịch khác như du lịch cá nhân hay nhóm du lịch. Theo thống kê từ Tổ
chức du lịch thế giới, thị trường du lịch MICE toàn cầu hàng năm trị giá khoảng
300 tỷ USD và tạo guồng máy hoạt động kinh tế gần 5,490 tỷ USD, chiếm hơn
10% của thế giới.
Việt Nam hiện đang được xem là điểm sáng trong khu vực về địa điểm tổ
chức MICE do hàng loạt những sự kiện quốc tế lớn được tổ chức hết sức thành
công trong thời gian qua như SEAGME 22, ASEM 5, Hội nghị APEC 2006, Hoa
hậu Hoàn vũ 2008, Đại hội thể thao châu Á trong nhà Asia Indoor Game 3, Diễn
đàn du lịch ASEAN 2009 (ATF-200), Đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội…
Hai điểm đến nổi bật thu hút du khách MICE hiện nay là Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh, các trung tâm kinh tế, thương mại, văn hóa lớn của cả nước. Trong
bối cảnh tình hình an ninh tại một số điểm du lịch nổi tiếng của khu vực chưa ổn
định, Việt Nam nổi lên như là một điểm đến an toàn và thân thiện trong du khách
quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích kinh tế rõ ràng, du lịch MICE cũng có
những tác động lên xã hội cũng như môi trường nước ta. Các yếu tố xã hội-văn
hoá và cảnh quan môi trường lại góp phần quan trọng tạo nên bạn bè quốc tế. Nói
cách khác, hai yếu tố xã hội và môi trường đã và đang trở thành những bộ phận
không thể thiếu cấu thành nên sức mạnh của hoạt động du lịch MICE Việt Nam.
Vì vậy, để hoạt động thu hút du lịch quốc tế bằng loại hình du lịch MICE của
nước ta đem lại những lợi ích không chỉ về kinh tế mà cả về xã hội lẫn môi
trường thì một hướng phát triển bền vững, lâu dài là cần thiết.
Xuất phát từ thực tiễn đó, cùng với mong muốn tìm kiếm những giải pháp
phù hợp nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự tăng trưởng của du lịch MICE tại Việt Nam
trong hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế, đề tài mà tác giả tiến hành nghiên
1
cứu mang tên: “ Tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế bằng loại hình du
lịch MICE ở Việt Nam giai đoạn 2010-2015’’
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn du lịch MICE, đề tài đưa ra các quan
điểm, phương hướng và đề xuất các giải pháp thích hợp để phát triển du lịch
MICE nhằm tăng cường thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn
2010-2015
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển du lịch MICE nhằm tăng
cường thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm:
- Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: ngành du lịch Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: đánh giá tình hình thu hút khách du
lịch quốc tế đến Việt Nam. Từ đó ứng dụng những giải pháp phù hợp nhằm đầy
mạnh sự phát triển của du lịch MICE trong giai đoạn 2010-2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ mối quan hệ giữa việc tìm kiếm các giải pháp đẩy mạnh sự phát
triển của du lịch MICE nhằm mục tiêu tăng cường thu hút khách du lịch quốc tế
đến Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu: phương pháp tồng hợp, so sánh thông tin và mô hình hóa dữ kiện, kết hợp
nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn và thu thập ý kiến của các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ du lịch MICE.
Bên cạnh các phương pháp nói trên tác giả cũng thu thập những nhận
định; đóng góp ý kiến của các chuyên gia thông qua các báo cáo, chuyên đề và
các phát biểu trên phương tiện thông tin đại chúng nhằm đưa ra được những giải
pháp phù hợp với mục đích đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển du lịch MICE trong
bối cảnh cụ thể và những điều kiện đặc trưng tại Việt Nam hiện nay.
5. Kết cấu đề tài
Đề tài này có nội dung chính được chia làm 3 chương như sau:
2
Chương 1: Khái quát chung về việc thu hút khách du lịch quốc tế theo loại
hình du lịch MICE
Chương 2: Thực trạng hoạt động thu hút khách du lịch quốc tế MICE ở Việt
Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch quốc
tế theo loại hình du lịch MICE ở Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Dù đã nỗ lực và hết sức mình nhưng do hạn chế về mặt kiến thức chuyên
ngành, về kinh nghiệm thực tế, về thời gian nghiên cứu và nguồn tư liệu, thông
tin còn tương đối ít nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung,
phương pháp nghiên cứu cũng như trong quá trình phân tích, đánh giá các thông
tin số liệu. Tác giả mong muốn nhận được sự đóng góp, xây dựng từ quý thầy cô
nhằm nâng cao tính khả dụng của những vấn đề tác giả đưa ra.
Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn đến Tiến sĩ Vũ Hoàng Nam-
Giảng viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa luận
này.
Sinh viên thực hiện
Lê Thu Trang
3
CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ
THEO LOẠI HÌNH DU LỊCH MICE
I. Khái quát chung về du lịch MICE và phát triển du lịch bền vững
1. Khái quát chung về du lịch MICE
1.1. Khái niệm
MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự
kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác. MICE – viết tắt
của Meeting ( hội họp); Icentive (khen thưởng); Convention/ conference (hội
nghị, hội thảo) và Events/Exhibition (triển lãm). Tên đầy đủ tiếng anh là Meeting
Incentive Conference Event [1]. Cụ thể:
 Gặp gỡ, hội họp (Meeting): các cuộc họp nội bộ của công ty, trong ngành
hoặc các sự kiện lớn
 Khen thưởng (Incentive): có tính chất như Meeting, nhưng những cuộc
hội họp lại do một công ty hay một tập thể nào đó tổ chức để khen thưởng
nhân viên, vừa hội họp vừa vui chơi.
 Hội nghị/Hội thảo (Convention/ conferrence) còn là những diễn đàn quốc
tế, mà những đại biểu tham dự là đối tượng khách của ngành du lịch hoặc
hội nghị khen thưởng các khách hàng hay đại lý do các công ty tổ chức.
 Triển lãm (Exhibition): các hội chợ hay triển lãm quốc tế, mà thành phần
là những nhóm doanh nghiệp (DN) hoặc từng doanh nghiệp riêng lẻ, cũng
chính là khách hàng tiềm năng của công ty du lịch.
Ngoài ra, MICE còn được xem như một loại hình du lịch công vụ của các
doanh nhân, các công ty, các tập đoàn hoặc các tổ chức trong và ngoài nước
nhằm các mục đích như tìm kiếm thị trường, nghiên cứu dự án đầu tư, ký kết hợp
đồng dự án hay tham dự các cuộc hội nghị, hội thảo, các cuộc triển lãm hàng hóa,
hội chợ.
1.2. Đặc điểm của loại hình du lịch MICE
Du lịch MICE bao gồm các đặc điểm chính như sau:
4
 Đối tượng chính của du lịch MICE chủ yếu là các tập đoàn hoặc các
công ty trong và ngoài nước, những nhà tổ chức chuyên nghiệp, hiệp hội trong
nước, quốc tế, thuộc chính phủ hoặc phi chính phủ. Cụ thể hơn, họ là những
khách hàng thuộc giới thượng lưu như doanh nhân, chính khách, những người có
vị trí quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, thể thao, nghệ thuật
 Khách du lịch MICE là những khách sử dụng những dịch vụ cao cấp và
yêu cầu của họ mang tính đa dạng bao gồm yêu cầu cả lợi ích kinh tế của tổ chức
lẫn lợi ích hưởng thụ cá nhân.
 Các đoàn khách MICE thường rất đông, từ vài trăm đến vài nghìn khách,
với mức chi tiêu cuả họ cao hơn rất nhiều so với khách tour bình thường. Do họ
luôn đặt phòng tại khách sạn 4-5 sao, sử dụng các dịch vụ cao cấp, các chương
trình sau hội nghị được thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu. Vì vậy, cơ sở vật chất
để đáp ứng những yêu cầu của khách MICE phải đạt chất lượng cao.
 Kinh doanh du lịch MICE khác với loại hình du lịch khác ở chỗ các
chương trình MICE thường có nội dung chân phương. Những điểm-tuyến tham
quan của khách MICE là những điểm du lịch phổ biến, những nơi có danh lam
thắng cảnh đẹp hay gắn với các trung tâm mua sắm.
 Một đặc trưng nữa của du lịch MICE là không có tính vụ mùa rõ rệt.
Việc tổ chức chương trình MICE thường do người mua dịch vụ lên kế hoạch
trước một thời gian dài, do đó kinh doanh MICE là một biện pháp hữu hiệu để
hạn chế tính mùa vụ trong hoạt dộng kinh doanh du lịch nhằm tối ưu hóa việc
khai thác các cơ sở vật chất sẵn có.
 Chi tiêu của khách MICE không chỉ cao gấp 6 lần chi tiêu của các khách
du lịch thông thường mà còn được phân bố cả trong lẫn ngoài hội nghị- hoạt
động cơ sở ban đầu của chuyến đi. Một nghiên cứu cho thấy, một khách MICE
chi 1 đồng khi họ tham dự một sự kiện nào đó của MICE thường sẽ chi đến 15
đồng cho các hoạt động bên ngoài khác. Đó là mức chi tiêu ở các nước phát triển,
còn tại các nước đang phát triển thì mức chi tiêu có thể lên tới 25 đồng cho các
hoạt động bên ngoài [20]. Do đó, loại hình này không chỉ đòi hỏi các dịch vụ cao
cấp từ ăn uống, lưu trú, vận chuyển cho đến các dịch vụ kèm theo như hướng dẫn
5
viên, nhân viên đón tiếp tại các cửa khẩu; mà còn yêu cầu có sự liên kết bên
ngoài với các loại hình và du lịch khác.
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới du lịch MICE
1.3.1. Nhân tố tự nhiên
Đây là một nhân tố quan trọng và ảnh hưởng nhiều tới tiềm năng phát triển
du lịch MICE. Bởi lẽ, khách du lịch MICE không chỉ đòi hỏi có được môi trường
phù hợp với những mục đích chính trong các cuộc họp, hội nghị, hội thảo mà còn
mong muốn có không gian thăm quan, giải trí thư giãn thực sự đảm bảo. Đó là
các yếu tố về môi trường cảnh quan, khí hậu đường xá, các công trình xây dựng
tiện nghi…Việc quản lí, tổ chức và xây dựng một môi trường vừa tự nhiên, giữ
được ững vẻ đẹp hoang sơ mà vẫn có những nét hiện đại năng động là hết sức
cần thiết. Vấn đề này hiện vẫn đang chờ những giải pháp hiệu quả của những nhà
hoạch định.
Đánh giá về tiềm năng phát triển MICE, các chuyên gia WTO cho rằng,
Việt Nam có tiềm năng rất lớn và nếu phát triển MICE sẽ là đối thủ đáng ngại
của Singapore (trung tâm thu hút MICE lớn nhất Đông Nam Á hiện nay). Cảnh
quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều di sản văn hóa, thiên nhiên thuộc hàng kỳ quan thế
giới, bãi biển đẹp, hệ thống khách sạn, resort phát triển… Tuy nhiên theo WTO,
để MICE phát triển Việt Nam nên thành lập MICE Bureau (tổ chức xúc tiến
MICE phát triển), xây dựng chiến lược marketing, cải thiện ngay hạ tầng phục vụ
khách MICE: visa, hệ thống khách sạn, trong đó, việc xác định vị trí xây dựng
trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế rất quan trọng: phải gần sân bay, khách sạn,
thuận tiện đi lại, giao dịch.
1.3.2. Lịch sử
Các yếu tố lịch sử ảnh hưởng không nhỏ tới việc thu hút khách du lịch,
trong đó một phần không nhỏ là đối tượng khách du lịch MICE. Đối với mỗi
quốc gia, thành phố, khu vực, các yếu tố lịch sử trong suốt quá trình phát triển đã
mang những nét đặc thù riêng về văn hóa, cảnh quan, các địa danh gắn với các sự
kiện lịch sử, tính cách của cộng đồng người sinh sống tại đó. Hơn nữa, với khách
du lịch MICE, họ luôn chủ động chọn lựa những địa điểm có những nét văn hóa
6
lịch sử thú vị, phù hợp nhất để tin tưởng thực hiện những chuyến thăm quan du
lịch kết hợp với các sự kiện khác. Theo khảo sát, lượng du khách MICE đổ về
các nước ở khu vực châu Á, cụ thể như Đông Á hay Đông Nam Á rất đông đảo.
Đó là những nước có những đặc thù rất riêng, thú vị về lịch sử, văn hóa cùng
những địa danh khơi dậy trí tò mò du khách. Điển hình như khu đền Ăng Co Vát
ở Campuchia, các đền đài tráng lệ ở Thái Lan hay những khu di tích chiến tranh
mang đậm dấu ấn lịch sử của Việt Nam…Đây là những thế mạnh cần khai thác
nhiều đối với những quốc gia này, trong đó có Việt Nam.
1.3.3. Văn hóa- xã hội
Khi kết hợp du lịch đi cùng các chuyến công tác, hội thảo, hội nghị, các du
khách MICE luôn nhắm tới các quốc gia có những nét văn hóa phong phú, đặc
sắc, phù hợp với tính chất của chuyến công tác đó. Ngoài ra, việc tận dụng các
không gian văn hóa, xã hội mới lạ cũng luôn được chú ý. Hiện nay, Việt Nam
được xem la một nước có tiềm năng phát triển du lịch MICE bởi xã hội Việt Nam
mang những nét văn hóa đặc trưng pha trộn giữa cổ điển và hiện đại, truyền
thống và và sôi động. Nước ta đang trên đà phát triển toàn diện về kinh tế - xã
hội nên việc xây dựng một nền văn hóa đa phong cách, đa tính chất là rất quan
trọng. Đó là việc luôn giữ gìn nét truyền thống, đồng thời không ngừng tiếp thu
những nét văn hóa mới mẻ hiện đại của thế giới. Đây là yếu tố ảnh hưởng nhiều
tới mục tiêu của khách du lịch MICE.
1.3.4. Kinh tế - chính trị
Yếu tố kinh tế - chính trị ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng hình ảnh về
một môi trường du lịch MICE hiệu quả. Yếu tố này bao gồm nên tảng kinh tế
phát triển mạnh mẽ, chất lượng cơ sở hạ tầng tốt, đời sống người dân được duy
trì ổn định, anh ninh tốt, không có những rối loạn trong đời sống xã hội. Khi hai
vấn đề trên song hành phát triển, gắn chặt với nhau sẽ tạo nên một môi trường an
sinh xã hội rất tốt, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch, đặc biệt với
khách du lịch MICE. Theo các nhà hoạch định, Việt Nam đang có những bước
phát triển mạnh mẽ cả về kinh tế lẫn chính trị, dần xây dựng một xã hội vững
mạnh hơn. Chính điều đó đã tạo nên sự tin tưởng, sức hấp dẫn đối với những đối
7
tượng khách du lịch mong muốn có một môi trường an toàn để thực hiện các
chuyến nghỉ dưỡng, tham quan hay hội họp…Đây là yếu tố đòi hỏi những chính
sách phát triển chiến lược quan trọng của Chính phủ.
2. Khái quát chung về phát triển du lịch bền vững
2.1. Phát triển bền vững:
Phát triển bền vững ( Sustainable development) là thuật ngữ mới xuất hiện
lần đầu vào năm 1987 trong báo cáo của ủy ban Môi trường và phát triển thế giới
(World Committee of environment and Development, WCED), tựa đề “Tương lai
của chúng ta”, theo đó ủy ban Liên hợp quốc tế về Môi trường và Phát triển
(UNCED): “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện taị, nhưng
không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Quan điểm
này chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên
nhiên và đảm bảo môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển kinh
tế. Cũng từ đó, phát triển bền vững nổi lên như một mô hình mới cho chính sách
toàn cầu, khu vực, quốc gia và từng địa phương.
Trên cơ sở đó, Hội nghị thế giới về phát triển bền vững tổ chức tại
Johnhannesbug (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã thống nhất khái niệm “phát
triển bền vững” như là quá trình phát triển có sự hài hòa giữa các mặt phát triển:
tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
2.2. Phát triển du lịch bền vững
2.2.1. Khái niệm
Phát triển du lịch bền vững là phát triển du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau vì cả hai đều thống nhất với nhau về mục đích của sự phát triển, đều liên
quan tới yếu tố môi trường. Trong du lịch, môi trường mang một hàm nghĩa rộng
lớn. Đó là môi trường tự nhiên, kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội; là yếu tố rất
quan trọng để tạo nên các sản phẩm du lịch đa dạng và độc đáo. Rõ ràng, nếu
không có bảo vệ môi trường thì sự phát triển sẽ suy giảm; nhưng nếu không có
sự phát triển thì việc bảo vệ môi trường sẽ thất bại. Chính vì vậy, chúng ta phải
phát triển du lịch nhưng không làm tổn hại tới tài nguyên, không làm ảnh hưởng
8
tiêu cực tới môi trường. Nói cách khác, du lịch bền vững phải là xu thế phát triển
của ngành du lịch.
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa thống nhất về quan niệm “phát triển du lịch
bền vững”. Tuy nhiên vẫn có một số những định nghĩa như sau được chấp nhận
rộng rãi:
Trước hết, phải kể đến định nghĩa của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO)
trong Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro,
1992, theo đó: “Phát triển du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du
lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và người dân bản địa trong khi
vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát
triển hoạt động du lịch trong tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý
các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của
con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh
học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống con
người”.
Ngoài ra, Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) 1996, có định
nghĩa: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và
vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du
lịch tương lai”. Đây là một định nghĩa ngắn gọn dựa trên định nghĩa về “phát
triển bền vững” của UNCED, đảm bảo được tính khái quát của việc phát triển
bền vững trong hoạt động du lịch.
Trong khuôn khổ khóa luận này, khái niệm “phát triển du lịch bền vững” sẽ
được hiểu theo nội hàm định nghĩa của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới
(WTTC), 1996.
Theo đó, sự phát triển của một hoạt động du lịch theo hướng bền vững sẽ
được phản ánh qua 3 phương diện: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo
vệ môi trường.
2.2.2. Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững
9
Nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững là những yêu cầu cơ bản đã
được xác định để dùng làm cơ sở cho sự phát triển của hoạt động du lịch để đạt
tới mức bền vững.
Theo Hội đồng khoa học, Tổng cục du lịch, 2005 [21] cũng đã đề ra 12
nguyên tắc của du lịch bền vững, trong đó có nhiều nguyên tắc chứa đựng sự kết
hợp các yếu tố và ảnh hưởng của môi trường, kinh tế và xã hội; bao gồm ( không
xếp theo thứ tự ưu tiên):
 Hiệu quả kinh tế
 Sự phồn thịnh cho địa phương
 Chất lượng việc làm
 Công bằng xã hội
 Sự thỏa mãn của du khách
 Khả năng kiểm soát của địa phương
 An ninh cộng đồng
 Đa dạng văn hóa
 Thống nhất về tự nhiên
 Đa dạng sinh học
 Hiệu quả các nguồn lực
 Môi trường trong lành
2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch
Để đánh giá tính bền vững của một loại hình du lịch hay môt địa diểm du
lịch cần phải có những phương pháp thích hợp, rẻ tiền và ít tốn thời gian. Những
phương pháp này một mặt là để đo sự thành công của công tác điều hành, quản lý
du lịch; mặt khác, là để xây dựng hệ thống cảnh báo giúp cho các cơ quan quản
lý phát hiện sớm tình trạng lâm nguy nếu có, để đưa ra những giải pháp cụ thể
kịp thời và có hiệu quả. Trong khuôn khổ của khóa luận này, xin giới thiệu một
phương pháp được Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) công nhận [22] và được
sử dụng phổ biến để làm cơ sở đánh giá tính bền vững của một loại hình du lịch,
đó là: Dựa theo các yêu cầu tổng quát về phát triển bền vững.
10
Đây là phương pháp đánh giá tính bền vững lấy cơ sở từ khái niệm chung
về bền vững của UNCED và phát triển du lịch bền vững của WTTC, do đó nó có
thể được vận dụng để đánh giá tính bền vững của hoạt động kinh tế nói chung và
hoạt động du lịch nói riêng. Theo đó, sự phát triển của một hoạt động du lịch
MICE theo hướng bền vững sẽ được phản ánh qua 3 độ đo cơ bản như sau:
Độ đo kinh tế:
Độ đo kinh tế của sự phát triển bền vững được thể hiện qua tổng thu nhập
hay giá trị đóng góp của hoạt động kinh tế đó vào GDP (hoặc GNP), vào thu
nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng của đóng góp đó. Tuy nhiên, bên
cạnh đó cũng cần phải quan tâm đến sự chênh lệch của các giá trị đó ở các tầng
lớp dân cư khác nhau để thấy được sự thay đổi trong cơ cấu của các giá trị bình
quân trên.
Độ đo xã hội – văn hóa:
Độ đo này nhằm thể hiện những đóng góp của hoạt động du lịch vào tiến bộ
xã hội, thể hiện qua mối liên hệ giữa tăng trưởng của hoạt động du lịch đó với chỉ
số về tuổi thọ (LI); chỉ số về thu nhập (YI) và chỉ số về phát triển con người
(HDI). Ngoài ra, tác động về mặt xã hội – văn hóa của hoạt động du lịch còn
được xem xét qua các đóng góp của nó trong việc tạo ra công ăn việc làm, giảm
bớt khoảng cách thu nhập giữa giàu với nghèo trong xã hội. Hơn nữa, gần đây,
phát triển du lịch bền vững còn đề cập đến việc xây dựng “văn hóa xanh”. Văn
hóa xanh là nền văn hóa phù hợp với sự phát triển bền vững, đó là toàn bộ các
hoạt động văn hóa của con người dựa trên đạo đức thế giới và cuộc sống cộng
đồng, các quan hệ xã hội như thái độ của con người hướng tới sự tiết kiệm, giảm
nghèo đói, nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong “văn hóa xanh” có cả thái độ
đúng đắn của con người đối với các hiện tượng tiêu cực trong xã hội như: chống
ô nhiễm môi trường, bài trừ các tệ nạn xã hội đang làm mai một đi cuộc sống tốt
đẹp của cộng đồng.
Độ đo về môi trường:
Độ đo về môi trường có thể đánh giá thông qua chất lượng các thành phần
môi trường như đất, nước, không khí, sinh thái; mức độ duy trì các nguồn tài
11
nguyên không tái tạo; việc sử dụng, khai thác hợp lý các tài nguyên không tái
tạo; nguồn vốn của xã hội dành cho bảo vệ môi trường, khả năng kiểm soát của
chính quyền địa phương đối với các hoạt động kinh tế - xã hội, tiềm ẩn các hoạt
động tiêu cực đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của người dân. Đặc
biệt, phát triển bền vững trong hoạt động du lịch còn chú trọng xem xét đến việc
xây dựng cơ sở hạ tầng như nhà cửa, đô thị….phù hợp với yêu cầu duy trì cảnh
quan chung của môi trường để đảm bảo khai thác dài lâu các sản phẩm du lịch.
Tóm lại, phương pháp đánh giá dựa theo các yêu cầu tổng quát về phát triển
bền vững cho phép mô tả được sự phát triển của hoạt đông du lịch trên chiếc
“kiềng ba chân” kinh tế - xã hội- môi trường.
II. Ảnh hưởng của du lịch MICE đến sự phát triển du lịch bền vững
1. Tác động của MICE đối với kinh tế - chính trị
MICE là một loại hình du lịch mới xuất hiện nhưng đã trở thành mũi nhọn
phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia vì mang lại nguồn thu ngoại tệ dồi dào. Khách
du lịch MICE mang theo tiền từ nhiều quốc gia; điều này có hiệu quả giống như
một ngành xuất khẩu và du khách có trách nhiệm mang ngoại tệ vào giúp cải
thiện cán cân thanh toán. Bất kỳ một quốc gia nào đều mong muốn cải thiện nền
công nghiệp, hệ thống giao thông, nguồn năng lượng…của mình nhưng phải đối
mặt với nhu cầu ngoại tệ khổng lồ để chi trả cho việc nhập khẩu công nghệ. Du
khách MICE có thể giúp cung cấp khoản ngoại tệ cần thiết đó. Lợi ích trên có
được với điều kiện có một số lượng đáng kể du khách quốc tế đến và mang theo
ngoại tệ.
Du lịch MICE cũng đã đạt được những thành tựu lớn trong việc tổ chức
thành công các sự kiện kinh tế; góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Hệ quả
là thúc đẩy phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát
triển nguồn nhân lực và tạo nhiều cơ hội việc làm. Ngoài ra MICE đóng góp tích
cực vào việc tạo nguồn thu ngân sách và thúc đẩy các nước hội nhập sâu hơn,
rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.
Hoạt động du lịch MICE trong đối ngoại cung cấp đầy đủ thông tin, hình
ảnh giúp công chúng và giới chức hữu quan có nhận thức đúng đắn về thiện chí
12
của các quốc gia trong quan hệ chính trị. Sự nhận thức đúng đắn và hiểu biết sâu
sắc về sự thân thiện giữa các quốc gia sẽ giúp duy trì mối quan hệ tốt đẹp. Từ đó
thúc đẩy mối quan hệ nhiều mặt và trong đó có quan hệ về chính trị. Khi một
quốc gia có những mối quan hệ chính trị tốt đẹp với nhiều quốc gia khác thì đó
chính là một lợi thế rất lớn trong quan hệ quốc tế. Quốc gia đó sẽ nhận được
nhiều sự đồng tình, ủng hộ trong nhưng vấn đề quốc tế, được đề của vào những
vị trí quan trọng trong những tổ chức quốc tế và khu vực…
2. Tác động của MICE đối với xã hội – văn hóa
MICE góp phần tạo ra nhiều việc làm mới; làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Công việc của loại hình du lịch này tạo ra có phạm vi rộng gồm các lĩnh vực
quản lí, tài chính, điều hành, khoa học thông tin, bán hàng và marketing. Theo
nghiên cứu của UNWTO, du lịch là ngành sử dụng lao động nhiều nhất và cũng
là ngành tuyển lao động đầu vào nhanh trực tiếp thông qua các dịch vụ liên quan
như xây dựng và thương mại.
Du lich MICE đã trở thành động lực chính thúc đẩy tiến bộ xã hội và đa
dạng văn hóa nhờ có sự giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau thông qua
lượng du khách quốc tế. Cũng nhờ có sự giao lưu văn hóa này mà các quốc gia
có cái nhìn thân thiện hơn về văn hóa của nước còn lại cũng như hòa nhịp theo
xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế.
3. Tác động của MICE đối với môi trường
Du lịch MICE mang lại những tín hiệu đáng mừng vì đã góp phần tích cực
trong việc bảo vệ môi trường. Hoạt động du lịch này cung cấp những sáng kiến
cho việc làm sạch môi trường trường thông qua các chương trình quy hoạch cảnh
quan, thiết kế xây dựng các cơ sở hạ tầng như sân bay, đường sá, khách sạn, khu
resort.
MICE cũng hưởng ứng mạnh mẽ khẩu hiệu “du lịch xanh”, thân thiện và
bền vững cho môi trường. Mặc dù thu hút một lượng lớn khách du lịch quốc tế
nhưng du lịch MICE vẫn luôn đảm bảo vấn đề môi trường và coi đây như một
yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của loại hình du lịch MICE.
13
III. Bài học kinh nghiệm từ các nước trong khu vực
1. Singapore
Năm 2008, Singapore đứng vị trí thứ 3 với 30% lựa chọn từ hàng trăm
công ty, tập đoàn trên khắp khu vực. Đến năm 2009, Singapore giữ vị trí thứ 4
sau Trung Quốc (đứng hạng 1) và Hồng Kông, Thái Lan (đồng hạng 2) với việc
đăng cai trên 5.000sự kiện kinh doanh MICE. Thế mạnh du lịch Singapore chính
là một hệ thống CSHT-KT đồng bộ mang đẳng cấp quốc tế và một giao hòa
trong văn hóa, nghệ thuật giải trí, mua sắm và ẩm thực giữa Đông và Tây. Năm
năm liên tiếp Singapore được bình chọn là “Thành phố có môi trường kinh doanh
được yêu thích nhất” bởi độc giả tạp chí Time- một trong những tạp chí duy nhất
trên thế giới.
Đối với những hội nghị lớn, Singapore đem đến nhiều lựa chọn về địa điểm
tổ chức như: Trung tâm hội nghị và triển lãm quốc tế Suntec Singapore,
Singapore Expo, trung tâm hội thảo Raffes City, và trung tâm Hội nghị
Harbourfront. Tất cả các trung tâm này đều nằm gần các khu vực lưu trú và vui
chơi giải trí, quan trọng hơn là việc được trang bị những thiết bị hiện đại nhất với
chất lượng phục vụ được đánh giá rất cao trong khu vực. Về khả năng đáp ứng
nhu cầu lưu trú của khách du lịch quốc tế. Singapore cung cấp nhiều lựa chọn vô
cùng phong phú về chỗ ở có chất lượng tại hơn 100 khách sạn với trên 30.000
phòng khắp đảo quốc.
Tổng cục du lịch Singapore đã trích 170 triệu SGP để đầu tư cho chương
trình “Các sự kiện kinh doanh tại Singapore” trong vòng 5 năm, từ năm 2006-
2010. Đây là chương trình khuyến khích phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng và đa dạng của du lịch MICE tại đảo quốc này với sự tư vấn của các
chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực du lịch MICE. Cụ thể, chương trình này
hướng tới sự thúc đẩy phát triển ngành du lịch MICE bằng cách thu hút các tổ
chức quốc tế (IOS) chọn Singapore làm địa điểm đặt trụ sở chính cho khu vực
Châu Á- Thái Bình Dương, khuyến khích ngành du lịch MICE tăng cường hoạt
động Marketing và phát triển kinh doanh theo xu thế toàn cầu hóa.
14
2. Trung Quốc
Vào năm 2007, Trung Quốc giữ vị trí thứ hai trong khu vực phát triển du
lịch MICE. Đến năm 2008, nhân sự kiện Olympic Bắc Kinh, quốc gia này đã
vươn lên vị trí dẫn đầu, trở thành nước tổ chức hội nghị, triển lãm, du lịch khen
thưởng được ưa thích nhất với 37% trong tổng số 293 công ty được phỏng vấn và
hơn một nửa (59%) đánh giá Trung Quốc có tỉ lệ tăng trưởng loại hình du lịch
này cao nhất khu vực Châu Á- Thái Bình Dương.
Để khai thác tiềm năng to lớn của du lịch MICE, Trung Quốc đã đầu tư xây
dựng nhiều trung tâm triển lãm, hội nghị mang tầm cỡ quốc tế trải đều từ Bắc
Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu nên đã thu hút được rất nhiều khách du lịch
MICE quốc tế đến đây nhờ có khâu tổ chức qui mô và chu đáo. Theo Thẩm
Quyến nhật báo, mỗi năm ở Trung Quốc có khoảng 3000 sự kiện có thể khai thác
du lịch MICE. Đây là một con số đáng mơ ước đối với MICE tại Việt Nam
Bên cạnh đó Trung Quốc đã rất thành công trong việc quảng bá, giới thiệu
du lịch của mình trên khắp thế giới. Ví dụ, Trung Quốc đã đăng cai tổ chức cuộc
thi sắc đẹp lớn nhất thế giới là Hoa Hậu Thế giới và Hoa Hậu Hoàn Vũ. Riêng
cuộc thi Hoa Hậu Thế Giới đã được tổ chức liên tiếp ba năm tại quốc gia này.
Trong suốt quá trình tổ chức sự kiện này, hình ảnh về đất nước con người, văn
hóa Trung Quốc xuất hiện liên tục trên các phương tiện truyền thông đại chúng
trên khắp thế giới và nhất là đêm chung kết hai cuộc thi này được truyền hình
trực tiếp trên khắp các châu lục với hơn 1,5 tỉ người xem. Điều này đã tạo nên
một hiệu quả quảng bá có khả năng lan truyền mạnh mẽ giúp ngành du lịch
Trung Quốc nói chung và du lịch MICE nói riêng có được sự tăng trưởng nhảy
vọt trong giai đoạn vừa qua.
Hồng Kông
Hồng Kông sở hữu một hệ thống CSHT-KT thuộc loại tiên tiến nhất khu
vực, đặc biệt là các trung tâm hội nghị. Nổi bật nhất là trung tâm hội nghị Hồng
Kông (HKCEC)- một trong những nơi hội tụ khách du lịch MICE lớn nhất Châu
Á- Thái Bình Dương hiện nay. Trung tâm được chính quyền Hồng Kông xây
dựng để tổ chức buổi lễ trao trả Hồng Kông cho Trung Quốc đã trở thành cơ hội
15
khai thác thị trường MICE của ngành du lịch Hồng Kông. Sự thật rất nhiều quốc
gia và doanh nghiệp đã chọn trung tâm này làm nơi tổ chức hội nghị kinh tế,
chính trị, văn hóa. Trung tâm hội nghị Hông Kông hằng năm thu hút trên 4,5
triệu lượt khách/năm tham gia dự các sự kiện MICE được tổ chức tại đây. Nhờ sự
đầu tư trên mà vào năm 2008, Hồng Kông giữ vị trí thứ tư trong khu vực về tổ
chức du lịch MICE và đến năm 2008 thì vươn lên vị trí thứ hai sau Trung Quốc.
Ủy ban du lịch Hồng Kông cho biết chi tiêu khách du lịch MICE khoảng 10.757
HKD, cao gấp hai lần chi tiêu của du khách thông thường, thời gian lưu trú bình
quân là 4,8 đêm, cao hơn bình thường là 60%
Kết luận chương1:
Chương 1 đã đưa ra những kiến thức tổng quát về du lịch MICE từ khái
niệm, đặc trưng, các nhân tố ảnh hưởng đến loại hình du lịch này, cho đến vai trò
của MICE trong việc phát triển du lịch bền vững. Việt Nam đang được xem là
một điểm sáng trong khu vực về địa điểm tổ chức MICE. Vì vậy việc tăng cường
thu hút khách du lịch quốc tế MICE đến với Việt Nam thông qua việc phát triển
loại hình du lịch này là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của ngành du lịch
Việt Nam trong giai đoạn sắp tới. Tuy nhiên để đảm bảo cho du lịch MICE ở
Việt Nam có thể phát triển nhanh chóng và bền vững trước hết chúng ta cần đi
sâu vào tìm hiểu, tiến hành phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động thu hút
khách du lịch quốc tế theo loại hình du lịch MICE ở Việt Nam.
16
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ
CỦA LOẠI HÌNH DU LỊCH MICE Ở VIỆT NAM
I. Tiềm năng phát triển du lịch MICE của Việt Nam
1. Lợi thế từ nguồn lực tự nhiên – lịch sử - văn hóa
Trên toàn cầu, hiện nay, hàng năm có tới 800 triệu người đi du lịch; 60%
dòng du khách hiện nay là có mục đích tìm hiểu những nền văn hóa khác lạ. Vì
thế sản phẩm quan trọng của du lịch là du lịch văn hóa. Sức hấp dẫn du khách là
bản sắc văn hóa của điểm đến và trình độ văn hóa của những nhà tổ chức du lịch
chuyên nghiệp.
Việt Nam từ lâu đã được các tổ chức chính phủ và phi chính phủ trên khắp
thế giới công nhận là một quốc gia có nhiều danh lam thắng cảnh. Không chỉ nổi
tiếng về vẻ đẹp tự nhiên, Việt Nam còn được nhớ đến như là một trong những
quốc gia luôn kế thừa, gìn giữ và phát huy những tinh hoa của nền văn hóa dân
tộc với hàng loạt những làng nghề truyền thống xuất hiện cách đây hàng trăm
năm như Làng tranh Đông Hồ, Làng gốm Phù Lãng, Làng gốm Bát Tràng hay
các loại hình nghệ thuật độc đáo vẫn còn được lưu truyền cho tới tận ngày hôm
nay như Hát chèo, Hát bộ, Hát ả đào, Cải lương, Nhã nhạc cung đình Huế v.v…
Có thể nói nguồn tài nguyên du lịch thiên nhiên đa dạng, phong phú là một
lợi thế đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của du lịch Việt Nam nói chung và
dịch vụ du lịch MICE nói riêng. Trải dài từ Bắc xuống Nam, các danh lam thắng
cảnh nổi tiếng như Phong Nha – Kẻ Bàng, Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An,
Hồ Hoàn Kiếm, Cố đô Huế, quần thể kiến trúc đền cổ của dân tộc Chăm tại Ninh
Thuận, Bình Thuận hay Nha Trang – Một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Đặc
biệt, Vịnh Hạ Long được UNESSCO công nhận là kì quan thiên nhiên thế giới.
Những vẻ đẹp do thiên nhiên ban tặng đó càng hấp dẫn, lôi cuốn khách du lịch
quốc tế.
2. Lợi thế từ sự đầu tư xây dựng CSHT – KT của Chính phủ Việt Nam
Theo nhận định của bà Võ Thị Thắng – Nguyên tổng cục trưởng TCDL
trong Hội nghị Tổng kết đầu tư CSHT – KT du lịch thời kì 2001 – 2005 thì vốn
17
ngân sách để tập trung cho sự phát triển CSHT – KT du lịch tại các tỉnh – Thành
phố trong giai đoạn đã đạt hiệu quả tương đối cao. Từ năm 2001, thực hiện chủ
trương tập trung cho sự phát triển du lịch theo công văn số 1095/CP-KTTH ngày
28/11/2000 về việc xây dựng các khu du lịch, ngân sách nhà nước đã được bố trí
hỗ trợ đâu tư cho CSHT-KT du lịch cho các địa phương. Dù không phải là nguồn
vốn lớn, nhưng nguồn vốn này giữ vai trò rất quan trọng trong việc thu hút các
nguồn lực khác.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nhà nước sẽ hỗ trợ vốn từ ngân sách để đầu
tư CSHT-KT du lịch cho các dự án thuộc khu du lịch đã được xác định tại chiến
lược phát triển du lịch Viêt Nam giai đoạn 2006-2010. Theo đó, Nhà nước sẽ hỗ
trợ các địa phương có khu du lịch xây dựng CSHT-KT như đường giao thông nối
từ đường trục chính đến các điểm, khu du lịch, cầu cảng, bến thuyền, bãi đỗ xe
nhằm tạo điều kiện thụận lợi để tiếp cận các địa điểm du lịch, các khu du lịch.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng qui định, đối với các địa phương thuộc các
khu du lịch quốc gia, mức hỗ trợ sẽ không quá 30 tỷ đồng/năm; đối với các địa
phương thuộc các khu du lịch chuyên đề thuộc địa bàn khó khăn, mức hỗ trợ
không quá 25 tỷ đồng/năm; đối với các địa phương có khu du lịch thuộc địa bàn
khó khăn không quá 15 tỷ đồng/năm [24].
3. Khả năng nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ du lịch MICE của các
doanh nghiệp Việt Nam
Khai thác thị trường MICE là một trong những mục tiêu của chiến lược
phát triển du lịch Việt Nam, mà thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm có điều
kiện hơn bất kì một thành phố nào để phát triển sản phẩm dịch vụ tổng hợp này
vì có lợi thế là cửa ngõ ra vào của cả nước,
khách du lịch sẽ đến thành phố Hồ Chí Minh trước khi tham quan vùng đất
nào dù xa hay gần.
Với vai trò là một trung tâm kinh tế- thương mại, văn hóa, khoa học- kĩ
thuật…và là đầu mối giao thông quan trọng đối với trong nước và quốc tế.
TP.HCM được tổ chức Liên hiệp quốc xếp vào loại đô thị lớn nhất thế giới vào
thế kỉ XXI. Với việc cải thiện và tăng cường đầu tư CSHT-KT và các cơ sở vật
18
chất kĩ thuật phục vụ du lịch, hiện nay thành phố có một hệ thống khách sạn 4-5
sao đạt tiêu chuẩn quốc tế như: Sheraton, Saigon Hotel & Tower, Caravelle,
Daiwoo, New World, Renaissance, Riverside, Majestic, Equatorial, Legend
Saigon, Duxton, Rex v.v… có khả năng cung cấp các phòng họp đạt tiêu chuẩn
cao với sức chứa từ 300 đến 800 chỗ với các phương tiện, trang thiết bị hiện đại
phục vụ hội nghị, hội thảo như hệ thống âm thanh, thông tin liên lạc, phiên dịch.
Ngoài ra, hệ thống trung tâm thương mại Dimond Plaza, Vincom, Parkson ở
trung tâm thành phố rất thuận lợi chỉ việc mua sắm cũng như thăm quan, nghỉ
dưỡng trong vòng bán kính 200km từ trung tâm thành phố (bao gồm các vườn
quốc gia, các địa điểm du lịch sinh thái, các khu nghỉ dưỡng chất lượng cao dọc
theo các bãi biển v.v…) rất thuận tiện để tổ chức các tour du lịch khen thưởng,
khích lệ cho các đoàn du khách quốc tế.
Bên cạnh TP.HCM thì các trung tâm kinh tế- thương mại lớn trong cả nước
như Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ và các tỉnh, thành phố du lịch nổi tiếng như
Sapa- Lạng Sơn, Hội An- Quảng Nam, Vịnh Hạ Long- Quảng Ninh, Nha Trang-
Khánh Hòa, Quy Nhơn- Bình Định, Mũi Né- Phan Thiết, Phú Quốc- Kiên Giang
cũng đã và đang nỗ lực không ngừng trong việc nâng cao số lượng và cải thiện
chất lượng phục vụ của các khách sạn, các khu nghỉ dưỡng đạt chuẩn 3-5 sao
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách du lịch MICE đến Việt Nam
trong giai đoạn tới.
Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch MICE đều rất chú trọng phát
triển và nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng. Sở Du lịch Hà Nội
cho biết nhìn chung hệ thống cơ sở lưu trú thành phố tiếp tục khẳng định vị thế
hàng đầu trong cả nước, trong đó các khách sạn từ 3-5 sao có khả năng cạnh
tranh được với khách sạn trong khu vực về giá cả lẫn chất lượng. Ngoài ra,
phương thức bán hàng qua mạng đã được hầu hết các doanh nghiệp lữ hành,
khách sạn lớn áp dụng. Hơn thế, một số doanh nghiệp còn chú trọng xây dựng
những trang web chuyên đề cho từng loại thị trường. Nếu việc quảng bá được
thực hiện tốt thì thị trường du lịch Việt Nam cũng không thua kém các nước khác
trong khu vực như Thái Lan, Singapore.
19
II. Tình hình thu hút khách du lịch quốc tế theo loại hình du lịch MICE ở
Việt Nam
Loại hình du lịch MICE đã xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1994. Tuy nhiên,
du lịch MICE chỉ thực sự nhận được sự quan tâm đầu tư từ phía nhà nước lẫn
doanh nghiệp từ năm 2000, và xuất hiện trên bản đồ du lịch MICE của thế giới
kể từ sau sự kiện Việt Nam tổ chức thành công Cuộc họp thượng đỉnh APEC
2006. Nhận ra được tiềm năng phát triển rất lớn của loại hình du lịch này, Chính
phủ Việt Nam cùng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch đã mạnh
dạn đầu tư mạnh mẽ vào du lịch MICE và xác định đây là một trong những động
lực phát triển chính của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới.
1. Hoạt động quảng bá du lịch quốc tế cho dịch vụ du lịch MICE của Việt
Nam:
1.1. Sử dụng phương tiện truyền thông quốc tế
Trong giai đoạn vừa qua, Chính phủ đã có những sự đầu tư đáng kể vào
việc quảng bá, giới thiệu du lịch Việt Nam trên các phương tiện truyền thông
quốc tế. Trong đó nổi bật nhất chính là việc quảng bá hình ảnh Việt Nam trên
kênh truyền hình CNN - kênh truyền hình uy tín của thế giới. Vào tháng 10/2007,
đoạn phim 30 giây quảng bá du lịch Việt Nam đã phát sóng định kỳ trên kênh
truyền hình quốc tế CNN Châu Á. Đoạn phim này đã được phát sóng liên tiếp
đến hết ngày 13/1/2008 vừa qua. Hãng CNN đã dành giờ vàng vào buổi sáng và
buổi chiều đề quảng cáo cho du lịch Việt Nam trên các kênh của CNN ở Châu Á
như Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản… Đoạn phim này do nhóm làm phim
chuyên nghiệp của CNN được thực hiện với kỹ thuật hiện đại, trong đó hình ảnh
đất nước Việt Nam với bề dày văn hóa lịch sử, con người thân thiện, hiếu khách
ẩm thực, nghệ thuật, cảnh quan thiên nhiên phong phú được thể hiện sống động.
Để thực hiện và phát sóng đoạn phim này, Chính phủ đã chi gần 4,7 tỷ đồng,
tương đương 290,750 USD nhằm tăng cường hơn nữa việc thu hút DKQT đến
Việt Nam [13]
Một sự kiện quan trọng khác trong năm 2007 chính là việc hình ảnh Việt
Nam, trong đó chủ yếu là vịnh Hạ Long được phát sóng miễn phí liên tục trong
20