Tai biến môi trường

  • 13 trang
  • file .doc
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
---------------
BẢN BÁO CÁO KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Đề tài
TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Phương Loan
Sinh viên : Nguyễn Thị Trang
Lê Thị Phương
Lớp : K51-CNMT
Hà Nội -2007
Nội dung chính
I. Khái niệm chung
1. Giai đoạn nguy cơ
2. Giai đoạn phát triển
3. Giai đoạn sự cố
4. Nguyên nhân
II. Phân loại tai biến môi trường.
1. Tai biến môi trường
2. Thiên tai
3. Tham hoạ môi trường
4. Tai biến sinh thái
5. Tai biến khi hậu thuỷ văn
6. Tai biến địa động lực
III. Ứng xử tai biến môi trường
1. Dự báo
2. Ứng xử tai biến môi trường
2
I. KHÁI NIỆM CHUNG.
Ta biết rằng môi trường bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và
yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và thiên nhiên.
Tai biến môi trường là các sự cố hoặc rủi ro trong quá trình vận
hành của bộ máy môi trường có thể do hoạt động của con người hoặc
biến đổi bất thường của tự nhiên. Nó cũng là quá trình phản ánh tính
nhiễu loạn, tính bất ổn định của hệ thống và thường gồm 3 giai đoạn:
1. Giai đoạn nguy cơ: (hay giai đoạn hiểm hoạ).
Tồn tại các yếu tố hiểm hoạ nhưng chưa gây mất ổn định cho
hệ thống.
2. Giai đoạn phát triển:
Tập trung và gia tăng các yếu tố tai biến, xuất hiện trạng thái
mất ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi
trường.
3. Giai đoạn sự cố:
Trạng thái mất ổn định đã vượt qua ngưỡng an toàn của hệ
thống gây ra các thiệt hại không mong đợi cho con người (như về yếu
tố sức khoẻ, tính mạng, sản nghiệp).
Ví dụ: Chất thải từ công ty Supe Phốt phát và hoá chất Lâm
Thao (Phú Thọ) đã ra ngoài và hoà tan trong nước ngầm, lâu nay
3
được tích tụ trong đất đá, khó tẩy rửa do công ty xây đập ngắn xỉ tràn
nhưng không hiệu quả.
+ Ở giai đoạn nguy cơ: Các chất độc được thải ra và bắt đầu
ngấm vào đất, đá, nước ngầm nhưng nồng độ thấp, chưa biểu hiện rõ
rệt ra môi trường.
+ Giai đoạn phát triển: do quá trình tích tụ lâu ngày nồng độ
hoá chất gia tăng, ngấm sâu trong mạch nước ngầm, và có ảnh hưởng
rõ rệt đến sức khoẻ người dân quanh vùng.
+ Giai đoạn sự cố: nồng độ chất độc vượt qua giới hạn cho
phép thể hiện những người dân ở vùng Thạch Sơn - sử dụng nguồn
nước nhiễm độc đã bị ung thư như ung thư tóc, ung thư móng tay,
ung thư máu…
*Tai biến môi trường : có thể là thiên tai hoặc là sự cố:
-Là thiên tai nếu nó được gây ra do quá trình tự nhiên.
-Là sự cố nếu nó được gây ra do quá trình nhân tạo.
Tuy nhiên trên thực tế các tai biến đều xảy ra do cả quá trình tự
nhiên và nhân tạo.
Ví dụ: Một trận bão lớn đi qua gây vỡ đê, vỡ tàu thuyền thiệt
hại về người,…
+ Về nguyên nhân tự nhiên do bão lớn là một hiện tượng tự
nhiên.
+ Về nguyên nhân nhân tạo do các công trình xây dựng chất
lượng kém, do tư tưởng chủ quan của con người không có biện pháp
phòng chống kịp thời.
4
4. Nguyên nhân :
Tai biến môi trường có thể được gây ra do 3 nguyên nhân:
Quá trình tự nhiên như: hạn hán, lũ lụt, động đất.
Do hoạt động của con người như: khai thác rừng bữa bãi; thải nhiều
chất độc ra môi trường, tiêu diệt nhiều loài động vật quý hiếm.
Do cả quá trình tự nhiên và hoạt động nhân sinh.
II. PHÂN LOẠI TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG.
1. Theo cách thức xuất hiện:
-Thường gồm có hai loại: cấp diễn và trường diễn.
+ Loại cấp diễn: Là loại tai biến xảy ra nhanh, mạnh đột ngột
như: động đất, cháy rừng, lũ lụt, bão. Loại cấp diễn thường gây
những thiệt hại lớn và gọi là thảm hoạ.
+ Tai biến trường diễn: diễn ra một cách từ từ, trong một thời
gian dài nên ở giai đoạn đầu nó không có biểu hiện gì.
Ví dụ: Hạn hán, sa mạc hoá.
Loại tai biến này thường người ta ít chú ý đến mà chỉ đến khi
nó xảy ra người ta mới nhận thấy sự khốc liệt.
Hệ quả của các loại tai biến này thường là rất lớn nhưng hiện
nay chưa thể xử lý được mà chỉ có thể phòng tránh. Tuy nhiên để
phòng tránh được phải hiểu rõ qui luật hoạt động của nó, theo dõi và
dự báo.
5
Ví dụ: chúng ta không thể ngăn được một trận sóng thần xảy ra
mà chỉ có thể dự báo được thời điểm sóng thần xảy ra (thường là sau
một trận động đất lớn hoặc dùng máy đo sóng thần đặt dưới lòng đại
dương) để có thể giảm thiểu thiệt hại.
2. Thiên tai:
-Đó là những tai biến môi trường gây ra bởi quá trình tự nhiên
thường được coi là bất khả kháng, con người chỉ còn cách sống phù
hợp với chúng. Tuy nhiên, mức độ của thiên tai có thể được tăng
cường hoặc giảm bớt tuỳ thuộc vào hành động của con người.
3. Thảm hoạ môi trường.
-Thảm hoạ môi trường là các thiên tai hay sự cố môi trường
gây thiệt hại nghiêm trọng là:
Ví dụ: Ngày 19/11/2002 tàu chở dầu Prestige đã gẫy làm đôi
sau 6 ngày gặp sự cố trên Đại Tây Dương nó đã chìm xuống mang
theo hơn 65.000 tấn dầu lửa, vết loang mở rộng ra hơn 800km 2 ,
khoảng 5000 tấn trong số 77.000 tấn dầu hàng đã tràn ra biển từ một
vết nứt của thân tàu. Sau khi nó gẫy làm đôi thêm 500 tấn nữa thoát
ra, phần còn lại kẹt trong phần tàu bị gãy tạm thời chìm xuống đáy
biển ở độ sâu 3,6km, dự báo trong 10 năm mới có thể khôi phục bờ
biển như ban đầu.
4. Tai biến sinh thái.
-Là tai biến xảy ra trong hệ sinh thái tự nhiên của hệ thống môi
trường.
6
-Một bộ phận của tai biến sinh thái vận hành trong tổ phần
động thực vật của phân hệ gọi là tai biến sinh học.
-Tai biến sinh học gồm dịch bệnh được bùng phát ở người, dịch
hại ở vật nuôi, cây trồng hoặc động thực vật hoang dã, và sự suy
thoái tài nguyên sinh học do khai thác quá mức. Xét theo nguồn gốc
có thể chia tai biến sinh học thành các loại sau.
+ Các ổ dịch địa phương, (sốt rét, sán máng, dịch hạch, sốt xuất
huyết, sán lá gan, bệnh than…)
+ Nuôi trồng thiếu tính toán, các loài đã bị biến nạp di truyền.
+ Mất cân bằng do đưa vào hệ một loài lạ có tính canh tranh
cao, lấy ra khỏi hệ một vài loài khiến cho một vài loài trong hệ bùng
phát thành dịch hại.
+ Ô nhiễm gây bùng phát các loài thích gnhi có khả năng gây
hại do loài này trở nên quen với môi trường ô nhiễm.
Ví dụ: Tảo độc, rầy nâu, cào cào, châu chấu, ruồi, muỗi.
Việc sử dụng tràn làn thuốc bảo vệ thực vật nhóm này.
+ Sử dụng vũ khí sinh hoá: Ví dụ: đạn, pháo có vi trùng dịch
hạch, bom có vi khuẩn than.
+ Khai thác quá mức tài nguyên như phá rừng, dùng mìn thuốc
nổ và các dụng cụ điện để đánh bắt thuỷ sản.
5. Tai biến khí hậu thuỷ sản:
7
5.1. Lũ lụt: Là một loại tai biến môi trường xảy ra ở nhiều vùng
(từ đầu nguồn tới các vùng dọc theo tuyến sông suối. Nguyên nhân là
do mưa lớn kéo dài trên một diện rộng gây nhiều thiệt hại về người
và tài sản.
Ở nước ta lũ lụt thường xảy ra ở cả 3 miền, đặc biệt ở miền núi
thường có những trận lũ quét: xuất hiện đột ngột, bất ngờ, khó dự báo
nên thiệt hại rất nghiêm trọng. Như trân lũ lụt năm 1945.
5.2. Hạn hán: Là hiện tượng mưa hay không mưa trong một
thời gian dài làm cho nguồn nước ở sông, hồ cạn kiệt, đất đai nứt nẻ,
gây thiếu nước cho mọi hoạt động của con người, sinh vật.
Hạn hán là một tai biến trường diễn nên con người thường chủ
quan, ở nước ta hiện nay cũng chưa có cơ quan nghiên cứu dự báo về
hạn hán. Mặc dù trên thực tế hậu quả mà hạn hán gây ra là rất lớn và
lâu dài.
Trong lịch sử đã xảy ra nhiều đợt hạn hán nghiêm trọng. Gần
đây các nhà khoa học đã tìm ra rằng một đứt khô hạn kéo dài, được
đánh dấu bằng 3 thời kì hạn hán cực kì khắc nghiệt đã chấm dứt nền
văn minh Maya - một trong những nền văn minh Trung Mỹ cổ đại
nhất.
5.3. Lốc: Là xoáy phát triển mạnh, di chuyển theo mây giông
có thể gây thiệt hại trên khắp một dải rộng, vài chục mét và dài 10 
20km. Lốc là loại tai biến cần được xem xét trong qui hoạch phát
triển vùng. Cần có các số liệu nghiên cứu, định hướng phân vùng lốc,
nhiễu loạn khí quyển, để đề xuất các biện pháp qui hoạch phát triển
vùng.
8
5.4. Vòi rồng: Là hiện tượng một luồng không khí xoáy tròn
mở rộng rằt một đám mây rông xuống tới mặt đất, gió xoáy mạnh ở
40  50m/s, có khi lên tới 100m/s. Giữa vòi rồng hình thành một
khoảng trống, gió hút lên rất nhanh.
5.5. Bão. Là sự vận động của không khí ở xoáy. quanh tâm bão
có đường kính từ vài chục đến vài trăm km, gió mạnh và phụ thuộc
vào chênh lệch khí áp giữa biên và tâm bão. Chênh lệch khí áp càng
lớn tốc độ gió càng mạnh, ở vùng tâm bão do khí áp thấp nên cột
nước biển thường dâng cao cùng với xoáy lốc quanh tâm bão sóng
biển có chiều cao lớn, có thể xuất hiện trước tâm bão đến 1500km..
6. Tai biến địa động lực.
6.1. Động đất: là những rung động mạnh do sự đứt gãy đột ngột
của lớp vỏ trái đất ở những nơi địa chất bất ổn định. Đây là loại tai
biến ít diễn ra những khả năng xuất hiện ở diện rộng và bất ngờ khó
dự báo, thường để lại hậu quả nặng. Động đất là do nguyên nhân tự
nhiên nhưng cũng có thể là do quá trình hình thành các hồ lớn do xây
đập thường làm tăng xác xuất xảy ra trong đất kích thích.
6.2. Trượt lở, nứt đất ngầm, dị thường phóng xạ: Là các tai
biến thường xảy ra cục bộ nhưng rất nguy hiểm:
+ Dị thường phóng xạ xảy ra ở những khu vực có mức phát xạ
cao hơn bình thường và gây nguy hiểm cho người dân.
+ Sụt đất là hiện tượng đất ở một số khu vực bị sụt xuống tạo
thành các hố sâu.
9
Ví dụ: ở Phú Thọ ngày 20/11/2002 có khoảng đất rộng bằng cả
cái ao sụt xuống tạo thành những hố sâu, các giếng nước trở nên cạn
khô làm 73 hộ dân thôn Đồng Xá - xã Ninh Dân - huyện Thanh Ba bị
thiếu nước sinh hoạt. Những hố sụt này xuất hiện ở cánh đồng hoặc
các ao làng gây đe doạ tính mạng người dân.
III. ỨNG XỬ TAI BIẾN MÔI TRƯỜNG.
1. Dự báo:
Để dự báo tai biến môi trường hay sự cố ,cần phải có các điều
kiện sau:
-Có tập hợp các số liệu thực tế và lịch sử về các loại tai biến và
sự cố cần dự báo.
-Có một hệ thống quan trắc hoặc kiểm soát.
-Có hiểu biết tường tận về các loại tai biến, sự cố cần dự báo.
-Có qui tắc dự báo.
2. Ứng xử tai biến môi trường.
Tuỳ vào các giai đoạn của quá trình tai biến mà có các loại
chiến lược ứng xử tương ứng.
-Chiến lược I: can thiệp khẩn cấp, chấm dứt sự cố, đưa hệ
thống đến ngưỡng an toàn tạm thời, được tiến hành khi xảy ra sự cố
môi trường nó bao gồm các hành động khẩn cấp như: di tản, cứu hộ,
viện trợ thuốc men, lương thực, cấp cứu người bị thương, viện trợ
quần áo, lều trại…
10