Skkn vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học địa lý ở trường trung học phổ thông

  • 24 trang
  • file .doc
VẬN DỤNG KINH NGHIỆM ĐỔI MỚI THIẾT KẾ BÀI DẠY HỌC
ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. Phần mở đầu:
1. Lý do chọn đề tài:
Thiết kế bài dạy học là một công việc rất quan trọng của giáo viên Địa lý trước khi tổ
chức các hoạt động học tập của học sinh ở trên lớp. Thiết kế bài dạy học là một hoạt động
đa diện, phức tạp, tốn nhiều công sức, trí tuệ của giáo viên chứ không chỉ như là một giáo
án đơn thuần. Việc vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở Trường
THPT nhằm giúp thầy cô giáo nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn Địa lý
hiện nay trong các nhà trường. Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Vận dụng
kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở Trường Trung học phổ thông”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu đề tài trên nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ
môn Địa lý ở Trường phổ thông, nhất là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa
lý các cấp.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu việc đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở Trường
THPT như thế nào để việc dạy học đạt kết quả cao.
- Phạm vi nghiên cứu: Học sinh Trường PT cấp 2-3 Sơn Thành, học sinh Trường THPT
Dân lập Duy Tân, học sinh trường THPT chuyên Lương văn Chánh, Trung tâm Đông Mỹ
huyện Tây Hòa, đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp môn Địa lý của Trường cấp 2-
3 Sơn Thành và đội tuyển học sinh giỏi Địa bồi dưỡng thi học sinh giỏi Quốc gia hàng
năm của tỉnh Phú Yên.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở Trường Trung học phổ
thông.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trang 1
Sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát thực nghiệm qua giảng dạy, bồi dưỡng học
sinh giỏi các cấp môn Địa lý ở Trường THPT.
6. Nội dung đề tài:
Đề tài nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở Trường
THPT.
II. Nội dung đề tài nghiên cứu:
Đề tài kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở Trường THPT gồm có 3
chương:
Chương I: Cơ sở lý luận
1. Cơ sở pháp lý:
Đề tài nghiên cứu được dựa trên cơ sở pháp lý:
- Lý luận dạy học
- Tâm lý học sư phạm
- Phương pháp luận dạy học
- Chỉ thị năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
2. Cơ sở lý luận:
- Các khái niệm: Điểm phân biệt rõ nét giữa giáo án và thiết kế bài dạy học
+ Giáo án: Là một bản kế hoạch dạy học cụ thể của giáo viên. Về mặt hình thức, giáo án
là một bài soạn cụ thể của giáo viên được trình bày bằng những đề mục, câu chữ ngắn
gọn, rõ ràng theo một trình tự hợp lý và hình thức đặc trưng của giáo án.
Giáo án không thể trình bày hết những dự kiến, cách ứng xử của người dạy.
+ Thiết kế bài dạy học: bao gồm việc nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và tài liệu
tham khảo để xác định mục tiêu dạy học, lựa chọn kiến thức cơ bản, dự kiến các cách
thức tạo nhu cầu kiến thức ở học sinh, xác định các hình thức tổ chức dạy học và các
phương pháp, phương tiện dạy học thích hợp, xác định hình thức củng cố, vận dụng tri
thức đã học ở bài vào việc tiếp nhận kiến thức mới hoặc vận dụng vào trong thực tế cuộc
sống. Dự kiến các tình huống sư phạm xảy ra trong bài dạy và cách ứng xử tình huống
của giáo viên. Các tình huống đó có thể liên quan đến thời gian, phương tiện dạy học, đối
tượng học sinh, kiến thức thực tế có liên quan đến bài đang học. Nói tóm lại, thiết kế bài
Trang 2
dạy học là một hoạt động đa diện. đa chiều, phức tạp, đòi hỏi nhiều công sức, thời gian và
trí tuệ của giáo viên đầu tư từ khâu chuẩn bị, dự kiến, hình dung hoạt động thiết kế bài
dạy.
Thiết kế bài dạy khác với giáo án vì giáo án không trình bày hết những chuẩn bị, dự
kiến, hình dung hoạt động thiết kế, giáo án chỉ thể hiện những sản phẩm cụ thể, rõ ràng
của hoạt động thiết kế. Giáo án là một trong những sản phẩm của hoạt động thiết kế bài
dạy học được thể hiện bằng văn bản trước khi thực hiện bài dạy ở trên lớp.
- Thiết kế bài dạy học đòi hỏi giáo viên đầu tư nhiều thời gian và công sức trí tuệ, ý
tưởng,… hiệu quả dạy học sẽ được nâng cao hơn so với soạn một giáo án thông thường.
Vì vậy nghiên cứu đề tài trên nhằm tạo điều kiện giáo viên và học sinh tổ chức hoạt động
giảng dạy và học tập Địa lý đạt được kết quả cao và chắc chắn.
3. Cơ sở thực tiễn:
Đề tài nghiên cứu kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở Trường THPT sẽ
góp phần thay đổi không khí của lớp học, làm cho học sinh hứng thú hơn trong học tập
môn Địa lý, nắm được kiến thức một cách chủ động tích cực hơn. Qua nghiên cứu và
thực hiện đề tài, bản thân tôi đã thấy vấn đề này ngày càng có ý nghĩa thiết thực trong
việc giảng dạy học tập đối với các bạn đồng nghiệp và các em học sinh nhằm bồi dưỡng
kiến thức bộ môn Địa lý, lòng ham mê nghiên cứu khoa học Địa lý cho cả thầy cô giáo và
học sinh ở Trường THPT hiện nay.
Chương II: Thực trạng vấn đề vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa
lý ở Trường THPT hiện nay.
1. Khái quát phạm vi về thực hiện đề tài:
Phạm vi nghiên cứu đề tài chủ yếu ở một số trường phổ thông nơi tôi trực tiếp quản lý
và tham gia giảng dạy như Trường PT cấp 2-3 Sơn Thành, Trường THPT Dân lập Duy
Tân ở thành phố Tuy Hòa, Trường THPT chuyên Lương văn Chánh và đội tuyển học
sinh bồi dưỡng học sinh giỏi tỉnh, học sinh giỏi Quốc gia từ năm 2001-2002 đến năm
2010-2011 thuộc bộ môn Địa lý.
2. Thực trạng của đề tài nghiên cứu:
Trang 3
Đề tài vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở Trường THPT chưa
được nghiên cứu chuyên sâu trong phạm vi các Trường phổ thông trung học và toàn
ngành Giáo dục - Đào tạo Phú Yên.
Giáo viên và học sinh chưa chú trọng, chưa đặt đúng yêu cầu vận dụng kinh nghiệm đổi
mới thiết kế bài dạy học Địa lý trong giảng dạy và học tập bộ môn Địa lý.
Giáo viên ngại khó, ngại tốn nhiều thời gian và công sức trí tuệ trong tư duy ý tưởng để
chuẩn bị cho việc thiết kế bài dạy trên lớp, ngại học sinh tiếp thu ghi chép bài giảng khó,
không kịp, học sinh thiếu tích cực làm việc độc lập nếu không tự giác chuẩn bị kỹ bài học
mới ở nhà . Chính vì vậy để khỏi tốn thời gian công sức trong đầu tư thiết kế bài dạy,
thường thường giáo viên chọn hình thức soạn giáo án theo kiểu là một bài soạn cụ thể,
được trình bày những đề mục, câu chữ ngắn gọn, rõ ràng theo một trình tự hợp lý, trung
thành như nội dung sách giáo khoa đã biên soạn nhưng chỉ khác đã được tóm lược ngắn
gọn hơn. Về hình thức tổ chức dạy học, để đảm bảo thời gian học tập của học sinh trên
lớp, giáo viên thường chọn hình thức tổ chức dạy học nhẹ nhàng là trình bày lý thuyết
theo phương pháp truyền thống, thuyết giảng là chính, có đặt vấn đề, có sử dụng tranh
ảnh, bản đồ, lược đồ…cũng chỉ dừng ở mức độ minh họa cho phần giảng lý thuyết, chưa
thật sự đi sâu yêu cầu học sinh tìm hiểu cá nhân, cặp đôi hoặc trao đổi theo nhóm để phân
tích đào sâu suy nghĩ nội dung bài học yêu cầu nhằm chiếm lĩnh tri thức một cách chắc
chắn.
3. Nguyên nhân thực trạng:
Về nguyên nhân, có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan:
+ Về phía học sinh: Học sinh học nhiều môn, khối lượng kiến thức nhiều, thời lượng
dành cho học các môn chính còn các môn khác thì ít, chưa tích cực đầu tư thời gian và
công sức nghiên cứu bài mới ở nhà. Nghiên cứu bài mới trước ở nhà ngoài hiểu phần lý
thuyết cần yêu cầu phải phân tích được lược đồ, bản đồ, bảng số liệu, biểu đồ có liên
quan đến bài học; thêm vào đó học sinh cũng cần tập dượt trả lời các câu hỏi ngắn ở mỗi
đề mục của bài nêu ra. Tất cả những yêu cầu trên tương đối khó thực hiện đối với những
học sinh sức học vào mức trung bình, nếu không tích cực tự giác trong học tập, nếu
Trang 4
không có sự hướng dẫn chu đáo của thầy cô giáo ở tiết học trước đó. Khi học sinh học tập
thiếu tích cực dễ làm thầy cô nản lòng, hạn chế nhiệt tình trong giảng dạy.
+ Về phía thầy cô giáo: Thầy cô giáo chúng ta nhận thức chưa thật đúng mức tầm quan
trọng của việc vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý trong dạy học
bộ môn. Cách thiết kế bài dạy học phải nhằm thể hiện nhiệt huyết của thầy cô trong phát
huy tính tích cực học tập, độc lập suy nghĩ cho học sinh chưa được nhiều thầy cô quan
tâm chú trọng thực hiện, hạn chế đến lòng ham muốn thích thú học tập bộ môn Địa lý của
học sinh, kết quả giảng dạy và học tập bộ môn không được cao so với các bộ môn học
khác trong nhà trường.
Chương III: Các biện pháp, giải pháp chủ yếu trong vận dụng kinh nghiệm thiết kế
bài dạy Địa lý ở Trường Trung học phổ thông.
1. Cơ sở đề xuất các giải pháp:
- Về cơ sở lý luận: Như đã trình bày ở chương II
- Về cơ sở thực tiễn: Qua nhiều năm giảng dạy vận dụng đề tài: “Kinh nghiệm thiết kế
bài dạy Địa lý ở Trường Trung học phổ thông”. Ở đơn vị cũng như ở các trường bạn, tôi
có tham gia giảng dạy và có kinh nghiệm trong bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi các cấp
từ năm 2002 đến 2010, tôi mạnh dạn đề xuất các giải pháp chủ yếu trong quá trình vận
dụng đề tài để thực hiện các hoạt động giảng dạy và học tập bộ môn Địa lý ở Trường
trung học phổ thông như sau:
2. Các giải pháp chủ yếu:
2.1. Tích cực vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý trong Trường
trung học phổ thông:
Thiết kế bài dạy học Địa lý theo hướng đổi mới được trình bày theo các bước gồm:
Xác định mục tiêu, chọn kiến thức cơ bản, cấu trúc kiến thức cơ bản theo định hướng
thích hợp; tạo nhu cầu hứng thú nhận thức; xác định các hình thức tổ chức dạy học; xác
định các phương pháp dạy học; xác định hình thức củng cố và tập vận dụng các kiến thức
mà học sinh vừa tiếp nhận, giao nhiệm vụ về nhà hoặc là hoạt động nối tiếp cho bài học
tiếp theo.
Trang 5
Khi vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học để giảng dạy trên, giáo viên
phải chú trọng đến hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, phù hợp với đối
tượng học sinh và điều kiện hoàn cảnh cơ sở vật chất của nhà trường.
2.1.1 * Về “xác định mục tiêu bài học”: phải đảm bảo các nguyên tắc
+ Mục tiêu bài học phải phản ánh được mục đích giáo dục của nhà trường Việt Nam và
mục đích của chương trình Địa lý ở cấp học, lớp học.
+ Mục tiêu phải phù hợp với lý luận dạy học hiện đại, cụ thể hóa vào bài dạy nguyên lý,
quan điểm, nguyên tắc, tư tưởng về phương pháp dạy học và giáo dục.
+ Mục tiêu phải định rõ các công việc và mức độ hoàn thành của học sinh, tránh viết
chung chung, không cụ thể.
Thông thường mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, học sinh đạt được cái gì.
Ví dụ 1: Sau khi học xong bài: Ấn Độ, tiết 1 (lớp 11) học sinh phải nắm được:
+ Nhận biết được các dạng địa hình khác nhau ở Ấn Độ và đánh giá được vai trò của gió
mùa đối với sản xuất và sinh hoạt.
+ Chỉ ra được đặc điểm cơ bản về dân cư, xã hội và tiềm năng kinh tế Ấn Độ.
Ví dụ 2: Bài những vấn đề phát triển công nghiệp ở mục 2. Sự phân hóa lãnh thổ công
nghiệp (Địa lý 12). Học xong bài, học sinh phải hiểu được những khu vực tập trung công
nghiệp nước ta, giải thích tại sao tập trung ở đó và phân tích được những thay đổi về
phân hóa lãnh thổ công nghiệp.
Ví dụ 3: Bài Dân cư và nguồn lao động (Địa lý 12). Sau khi học xong bài, học sinh phải
phân tích được các đặc điểm và ảnh hưởng của dân cư, lao động tới phát triển kinh tế - xã
hội đất nước.
Ví dụ 4: Bài “Lớp vỏ địa lý. Qui luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lý” (địa lý
10, Ban KHTN). Sau khi học xong bài, học sinh nắm được:
+ Trình bày được khái niệm lớp vỏ địa lý. Phân biệt vỏ trái đất với vỏ cảnh quan.
+ Phân tích được khái niệm và sự biểu hiện, ý nghĩa thực tiễn của quy luật thống nhất và
hoàn chỉnh của lớp vỏ địa lý.
Trang 6
Ví dụ 5: Bài Nhật Bản, tiết 1 (Địa lý lớp 11, Ban KHXH-NV). Sau khi học xong bài, học
sinh phân tích được những thuận lợi và khó khăn của vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên,
đặc điểm nổi bật và tác động của dân cư Nhật Bản đối với phát triển kinh tế.
Chú ý: Mỗi một mục tiêu cụ thể nên diễn đạt bằng một động từ để xác định rõ mức độ
học sinh phải đạt bằng hành động. Để viết mục tiêu chung giáo viên dùng các từ như
“biết được”, “hiểu được”. Để viết mục tiêu cụ thể, giáo viên nên dùng các động từ: phân
tích, so sánh, liên hệ, tổng hợp, chứng minh, đo đạc, tính toán, quan sát, lập được, vẽ
được, thu thập, áp dụng được…
+ Về mục tiêu kiến thức: Theo Bloem (1956), trong lĩnh vực nhận thức, có 6 mức độ
(Biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá).
+ Về mục tiêu kỹ năng: đề cập tới mức độ thành thạo của các kỹ năng thực hiện hành
động, gồm các mức sau:
Bắt chước, thao tác, hành động chuẩn xác, hành động phối hợp, hành động tự nhiên.
+ Về mục tiêu thái độ: đề cập tới các cảm giác, thái độ, giá trị. Theo B.Bloem và Masior
(1964) có 4 mức độ: Tiếp nhận, Đáp ứng, Định giá, Tổ chức.
Cách xác định mục tiêu: Đọc kỹ sách giáo khoa, kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm
hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và các đích cần đạt tới của mỗi mục. Trên cơ sở đó
xác định đích cần đạt tới của cả bài về kiến thức, kỹ năng, thái độ.
2.1.2 * Về “ lựa chọn kiến thức cơ bản, cấu trúc kiến thức cơ bản theo định hướng
thích hợp”.
- Trong thiết kế bài dạy học Địa lý và truyền thụ kiến thức cho học sinh, nhiều giáo viên
Địa lý đã rơi vào hai cực của việc dạy học. Cực thứ nhất: tham lam, ôm đồm kiến thức,
làm cho tiết học nặng nề đối với học sinh; cực thứ hai: rơi vào quá tóm lược “sách giáo
khoa, không đảm bảo truyền thụ đầy đủ cho học sinh các kiến thức cần thiết.
N.N.Baranxki đã nói rằng:” Biết lựa chọn cái chính, cái căn bản là kỹ năng đầu tiên cần
phải có ở mọi người phổ biến các kiến thức địa lý, trong số đó có cả người giáo viên Địa
lý ở nhà trường” (phương pháp giảng dạy địa lý kinh tế, tập II, tài liệu dịch, NXB Giáo
dục,1970)
Trang 7
Vậy, kiến thức cơ bản là những kiến thức vạch ra được bản chất của sự vật hiện tượng.
Trong địa lý phổ thông, đó là những khái niệm, hệ thống khái niệm, các quy luật địa lý,
các sự vật hiện tượng địa lý tiêu biểu - kiến thức cơ bản địa lý phổ thông có các đặc điểm
cơ bản như sau:
+ Luôn luôn gắn liền với lãnh thổ: mỗi sự vật, hiện tượng địa lý tự nhiên, địa lý dân cư,
địa lý kinh tế - xã hội … đều có một vị trí xác định trong lớp vỏ địa lý, đều gắn với một
không gian cụ thể. Điều đó được phản ánh rõ nét ở trên các bản đồ, lược đồ.
+ Luôn luôn tồn tại trong các mối liên hệ qua lại, tác động lẫn nhau hoặc mối liên hệ
nhân quả. Bao trùm lên tất cả các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng tự nhiên; mối
quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên hay môi trường địa lý nói chung
với sản xuất xã hội; mối quan hệ giữa các ngành, các vùng lãnh thổ kinh tế -xã hội với
nhau.
+ Luôn luôn tồn tại trong sự vận động, phát triển theo thời gian. Vậy, kiến thức cơ bản
địa lý phổ thông bao gồm những sự vật, hiện tượng địa lý tiêu biểu, những khái niệm,
những quy luật tồn tại trong không gian lãnh thổ xác định, luôn vận động theo thời gian
và nằm trong các mối quan hệ qua các tác động lẫn nhau, hoặc mối liên hệ nhân quả.
- Căn cứ để chọn kiến thức cơ bản: cần quan tâm đến các điểm sau:
+ Nắm vững đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn. Giáo viên Địa lý cần nắm
vững đặc trưng của địa lý là nghiên cứu các thể tổng hợp tự nhiên và thể tổng hợp sản
xuất - lãnh thổ.
+ Bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa Địa lý, tài liệu chuẩn. Các kiến
thức trong sách giáo khoa , trong tài liệu chuẩn kiến thức đã được quy định giáo viên dựa
vào đó để xác định chuẩn kiến thức dạy cho học sinh. Do đó, chọn kiến thức cơ bản là
chọn kiến thức ở trong sách giáo khoa đặc biệt là trong tài liệu chuẩn kiến thức. Giáo
viên phải nắm vững chương trình và sách giáo khoa, ngoài nắm vững nội dung từng
chương, từng bài giáo viên cần phải có cái nhìn khái quát chung toàn bộ chương trình,
mối liên hệ “móc xích” giữa chúng để thấy tất cả các mối liên quan và sự kế tiếp. Do đó
mới xác định đúng đắn những vấn đề, khái niệm …trên cơ sở đó chọn lọc các kiến thức
cơ bản.
Trang 8
Khi nghiên cứu nội dung sách giáo khoa, giáo viên cần chú ý tìm hiểu cả phần kênh
hình bằng bản đồ, lược đồ, bảng số liệu, bảng thống kê, tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ, câu hỏi
giữa bài, câu hỏi và bài tập cuối bài…
+ Giáo viên phải hết sức quan tâm đến trình độ học sinh, cần phải biết học sinh đã nắm
vững cái gì, dựa vào kiến thức của các em để cân nhắc lựa chọn kiến thức cơ bản cho bài
dạy, trong đó kiến thức nào cần bổ sung, đổi mới, cần phát triển, đi sâu hơn.
- Phương pháp để chọn kiến thức cơ bản: sử dụng theo quy trình các bước sau đây:
+ Tìm mục đích, yêu cầu của bài dạy học và từng phần trong bài.
+ Xác định các nội dung chủ yếu của bài, của từng phần trong bài.
+ Chọn lọc trong các nội dung chủ yếu những khái niệm, hệ thống khái niệm, các mối
liên hệ, các quy luật, các sự vật, hiện tượng địa lý đặc trưng.
Kiến thức cơ bản của bài dạy học, có những nội dung then chốt hiểu được nó thì có thể
làm cơ sở để hiểu được các kiến thức liên quan, gần gũi. Giáo viên trong nghiên cứu thiết
kế bài dạy học để xác định đúng kiến thức cơ bản cần phải xác định được trọng tâm của
bài.
Khâu chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy có thể gắn với việc sắp xếp lại cấu trúc
của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thức của bài, từ đó rõ thêm
các trọng tâm, trọng điểm của bài.
Ví dụ: Chọn lọc kiến thức cơ bản của bài “Sử dụng vốn đất” (Địa lý lớp 12) và cấu trúc
kiến thức theo ý định học.
1. Vốn đất đai
- Vai trò:
+ Tài nguyên quốc gia quý giá.
+ Tư liệu sản xuất đặc biệt của nông, lâm, ngư nghiệp.
+ Thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.
+ Địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng.
- Bình quân đất tự nhiên đầu người: 0,4 ha (thấp, =1/6 thế giới)
Trang 9
- Cơ cấu: (Năm 2005).
+ Đất nông nghiệp = 28,4%, ít có khả năng mở rộng.
+ Đất lâm nghiệp = 43,6%, ngày càng bị thu hẹp.
+ Đất hoang hóa = 22%.
+ Đất chuyên dùng, thổ cư = 6%, ngày càng mở rộng, lấy chủ yếu từ đất nông nghiệp.
2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp:
Đất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cỏ cho
chăn nuôi và diện tích nuôi trồng thủy sản. Sử dụng đất nông nghiệp ở các vùng:
Đồng bằng Trung du
Thuận lợi để phát triển cây hàng năm (90% diện tích cho và miền núi
cây lúa và cây thực phẩm) Thích hợp cho trồng
Đồng bằng Đồng bằng Duyên hải rừng, trồng cây lâu năm.
sông Hồng sông Cửu Long miền Trung
- Bình quân đất - Bình quân đất - Bắc Trung bộ: - Thâm canh nông
nông nghiệp: 0,05 nông nghiệp: 0,18 chống cát bay, nghiệp, giải quyết lương
ha/người. ha/người. cát chảy. thực tại chỗ ở nơi có khả
- Khả năng mở - Còn khả năng - Nam Trung bộ: năng tưới tiêu.
rộng ít mở rộng. giải quyết nước - Chuyển một phần
- Hướng sử dụng - Hướng sử dụng tưới trong mùa nương rẫy thành vườn
đất: đất: khô. cây ăn quả, cây công
+ Thâm canh, tăng + Tăng vụ. nghiệp.
vụ. + Thủy lợi, cải tạo - Phát triển vùng chuyên
+ Chuyển đất đất. Sử dụng đất canh cây công nghiệp,
nông nghiệp sang gắn với quy hoạch chăn nuôi đại gia súc,
thổ cư phải theo thủy lợi. gắn với công nghiệp chế
quy hoạch biến.
+ Cải tạo đất ven
Trang 10
+ Tận dụng mặt biển nuôi trồng
nước nuôi trồng thủy sản.
thủy sản
Sau khi chọn lọc kiến thức cơ bản, tiếp đến là việc vận dụng các phương pháp dạy học
vào để tổ chức, chỉ đạo cho học sinh nhận thức các kiến thức cơ bản, tức là phải trả lời
được dạy như thế nào?
2.1.3 * Về “tạo nhu cầu hứng thú nhận thức” và “xác định các hình thức tổ chức
dạy học”.
1. Về tạo nhu cầu hứng thú nhận thức cho học sinh khi học:
GV cần lưu ý thực hiện việc tạo nhu cầu, hứng thú trong suốt cả tiết học. Khi vào bài
mới, giáo viên nên có sự định hướng phần nội dung cần học tập cho học sinh. Giáo viên
tạo được nhu cầu hứng thú học tập cho học sinh thì việc định hướng nội dung học tập sẽ
đạt hiệu quả cao như mong muốn. Khi vào bài mới, giáo viên có thể sử dụng nhiều cách
khác nhau để mở bài, như cách mở bài bằng cách tạo biểu tượng về lãnh thổ được học
trong bài, nêu vấn đề mà việc giải quyết sẽ được tiến hành trong bài.
Cách định hướng và tạo nhu cầu học tập trước mỗi mục của bài cũng tương tự như
trên. Vì các mục kế tiếp nhau nên thầy cô giáo vừa tiểu kết mục ở trước, đồng thời cũng
chuyển tiếp sang mục sau một cách thích hợp.
2. Xác định các hình thức tổ chức dạy học:
Trong thiết kế bài dạy lên lớp, giáo viên căn cứ trước hết nội dung dạy học để chọn hình
thức học cá nhân, nhóm, lớp.
- Đối với những nội dung thích hợp, vừa sức, giáo viên tổ chức cho học sinh học cá nhân
với sách giáo khoa, lược đồ, bản đồ, bảng thống kê,… để nắm bắt kiến thức bài học, làm
bài tập và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa.
- Đối với những nội dung dễ gây ra nhiều ý kiến khác nhau, giáo viên nên tổ chức cho
học sinh làm việc theo nhóm.
- Đối với những nội dung mà học sinh không có khả năng tự học (khó, phức tạp) và mất
nhiều thời gian trong tự nghiên cứu nên tổ chức cho học sinh học theo lớp. Việc học theo
Trang 11
lớp chỉ tổ chức trong một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp, lúc cần thiết của lớp
học nhằm phát huy tối đa tính làm việc tập thể. Tuy nhiên hình thức tổ chức học sinh học
theo lớp có hạn chế là ít phát huy tính tích cực học tập của học sinh, tạo sự ỷ lại bạn của
một số học sinh ngại suy nghĩ, đóng góp ý kiến xây dựng bài học.
Trong quá trình tổ chức hướng dẫn học sinh học trên lớp, giáo viên cần lưu ý, không có
một hình thức dạy học riêng lẻ nào là tối ưu, là tuyệt đối cả mà giáo viên cần phải phối
hợp chặt chẽ các hình thức dạy học nhuần nhuyễn với nhau khi lên lớp, có như thế mới
làm cho hình thức hoạt động nhận thức của học sinh đa dạng, vừa hứng thú học tập, các
em cùng một lúc được học từ thầy cô giáo, vừa được học bạn, vừa có sự nổ lực của cá
nhân để chứng tỏ mình trước tập thể lớp, nhóm.
2.1.4 * Về “xác định các phương pháp dạy học” và xác định hình thức củng cố , tập
vận dụng các kiến thức mà học sinh vừa tiếp nhận, giao nhiệm vụ về nhà”.
Khâu xác định các phương pháp dạy học có một vị trí và vai trò quan trọng trong thiết
kế bài dạy học Địa lý, vì nó có tính quyết định đến việc thực hiện mục tiêu dạy học và
chất lượng dạy học.
- Cơ sở để chọn lựa phương pháp dạy học cho một bài dạy thường dựa vào các căn cứ
sau:
+ Mục tiêu bài dạy: Mỗi mục tiêu cụ thể thường phải thực hiện bằng một (hay một số
phương pháp dạy học) thích hợp.
Ví dụ: Muốn hình thành ở học sinh thái độ về dân số thì dùng phương pháp dạy học thảo
luận (cặp đôi, nhóm, lớp) là thích hợp, về với phương pháp thảo luận sẽ tạo điều kiện
học sinh bộc lộ thái độ, chính kiến của các em ra bên ngoài để mọi người cùng biết,
cùng trao đổi để đi đến thống nhất, chuẩn xác kiến thức của bài học.
Trong dạy học, mục tiêu về nhận thức thường có nhiều mức độ. Mỗi mức độ lĩnh hội
kiến thức đạt được bằng mỗi phương pháp dạy học nhất định. Cho nên khi lựa chọn
phương pháp dạy học phải căn cứ vào mục tiêu dạy học.
+ Về nội dung dạy học: Chúng ta hiểu rằng, phương pháp là hình thức tự vận động bên
trong của nội dung. Do vậy, không có một phương pháp dạy học nào thích hợp với tất cả
nội dung dạy học, mỗi phương pháp dạy học chỉ thích ứng với một số nội dung nhất
định.
Trang 12
Ví dụ: Với nội dung địa lý đại cương thì sẽ có những phương pháp dạy học khác với nội
dung bài học về khu vực, địa phương , giáo viên lưu ý khi lựa chọn phương pháp dạy
học phải căn cứ vào nội dung bài dạy, lớp dạy.
+ Các giai đoạn của quá trình nhận thức: Quá trình nhận thức thường trải qua ba giai
đoạn: tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin, vận dụng thông tin. Mỗi giai đoạn học tập
tương ứng với những phương pháp dạy học nhất định. Do vậy, phương pháp dạy học
trong khi dạy bài mới khác với bài ôn tập, củng cố, khác bài thực hành.
+ Về đối tượng học sinh: Giáo viên cần biết học sinh đã đạt đến trình độ nào về kiến
thức, kỷ năng, kỷ xảo, đặc điểm tâm sinh lý, các thói quen học tập và vốn kiến thức thực
tế tích lũy được qua cuộc sống ra sao. Từ đó dự kiến các phương pháp dạy học thích
hợp, khêu gợi tính tích cực hoạt động của học sinh trên cơ sở phát huy năng lực và phẩm
chất cá nhân của các em.
+ Những điều kiện vật chất của việc dạy học: Về đặc điểm, số lượng học sinh, tài liệu và
phương tiện, thiết bị dạy học, các điều kiện vật chất khác, cũng có tác động, nhiều khi
rất quan trọng tới việc lựa chọn phương pháp dạy học.
+ Về năng lực, thói quen, kinh nghiệm của bản thân người giáo viên:
Cũng cần xem xét đến khi lựa chọn phương pháp dạy học. Bỡi vì, phương pháp dạy học
đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc, quy tắc, còn mang nặng tính trực giác của hoạt
động dạy chi phối bởi tính chủ quan, kinh nghiệm của người sử dụng nó.
- Mỗi phương pháp dạy học đều có tác dụng tích cực đối với một số mặt học tập của học
sinh, giúp học sinh nắm vững kiến thức và phát triển một số khía cạnh nào đó của kỹ
năng, thái độ, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng cả. Cho nên trong một bài
dạy học, cần phải có sự phối hợp hợp lý các phương pháp dạy học khác nhau.
Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp dạy học nào thì cũng nên nhớ rằng kiểu dạy học có
hiệu quả nhất là kiểu trong đó đề cao hoạt động chủ động, sáng tạo của học sinh.
Người dạy là trung tâm Kiểu học kém hiệu quả nhất
Trang 13
Người học là trung Kiểu học có hiệu quả
tâm nhất
(Nguồn: Field Studies Council/ Bristish Councii )
Có thể tham khảo thêm kết quả sau đây để có một sự lựa chọn thích hợp các phương
pháp dạy học:
Tiếp thu tri thức khi học: Nhớ được kiến thức sau khi học:
1% qua nếm 10% qua nghe 10% qua đọc 50% qua thấy và nghe
2% qua sờ 83% qua thấy 20% qua nghe 80% qua nói
3% qua ngửi 30% qua thấy 90% qua làm
(Nguồn: Phòng Truyền thông và thông tin UNICEF Băng-la-desh )
Trang 14
Tóm lại, phương pháp giáo dục phổ thông phải biết phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
2.1.5 * Về xác định hình thức củng cố, đánh giá và tập vận dụng các kiến thức mà
học sinh vừa tiếp nhận:
- Thường ở phần này vào cuối giờ, giáo viên chỉ kịp nêu tóm tắt những ý chính của bài,
nhắc nhở học sinh về học bài và giao cho các em một số câu hỏi bài tập về nhà nên hiệu
quả không cao, chưa nói với hình thức củng cố như thế nặng về buộc học sinh ghi nhớ,
chưa thật sự hướng dẫn cho học sinh tiếp tục suy nghĩ về kiến thức đã học và vận dụng
vào giải quyết những tình huống gặp phải trong học tập, thi cử và trong cuộc sống.
- Việc củng cố cuối bài học nhằm xem lại mục tiêu của bài học có đạt được không, đạt
được ở mức độ nào?
- Đối với những giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy, họ quan niệm rằng, hình thức
củng cố giúp cho học sinh vẫn tiếp tục suy nghĩ về các hình thức vừa học ngay vào lúc
tiết học sắp kết thúc và bước đầu có thể áp dụng những tri thức đó vào các tình huống
quen thuộc có nhiều tác dụng tích cực đối với việc nắm, xử lý thông tin của học sinh.
Củng cố còn bao hàm cả đánh giá mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng của học sinh
trong tiết học. Cho nên giáo viên phải có phương pháp thích hợp để vừa tái hiện lại kiến
thức của học sinh trong bài học, vừa có thể đánh giá mức độ nắm vững bài học của học
sinh. Để giúp đạt được mục tiêu đó, giáo viên nên đặt ra cho học sinh các câu hỏi, bài tập
nhỏ yêu cầu học sinh phải quay ngược lại với những kiến thức vừa học trong bài để hiểu
sâu thêm hoặc áp dụng nó vào việc giải thích các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống. Ví
dụ: Các câu hỏi củng cố, đánh giá sau khi học bài “Sử dụng vốn đất” (Địa lý lớp 12) như
sau:
Câu 1: Tại sao nói “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá”.
Câu 2: Việc sử dụng đất ở đồng bằng và miền núi có điểm gì khác nhau cơ bản?
Trang 15
Câu 3: Phương hướng sử dụng đất hợp lý ở đồng bằng sông Hồng khác với đồng bằng
sông Cửu Long ở điểm nào? Tại sao có sự khác nhau đó?
- Việc củng cố, đánh giá sau khi học bài cũng nhằm vào những kiến thức cơ bản, trọng
tâm, trọng điểm của bài. Vì vậy các câu hỏi, bài tập cũng được xây dựng bám sát vào các
nội dung đó, nhằm qua đó giúp học sinh nắm vững và vận dụng chúng vào trong các tình
huống mới, tình huống quen thuộc. (Xem phụ lục: Mẫu giáo án minh họa).
2.2 Vận dụng các kinh nghiệm trong đổi mới thiết kế bài dạy Địa lý ở Trường trung
học phổ thông phải đi liền với việc tạo điều kiện cho học sinh lĩnh hội tri thức đạt
hiệu quả cao nhất.
Vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy Địa lý ở Trường trung học phổ thông
nhằm đổi mới phương pháp soạn giảng đi vào chiều sâu hơn, làm cho tiết học trên lớp
sinh động hứng thú; khơi dậy tinh thần hăng say học tập, ham thích tìm tòi khám phá,
đồng thời qua đó cũng hạn chế dần tính thụ động trong tiếp thu chiếm lĩnh tri thức của
học sinh, từng bước xây dựng học sinh thành chủ thể trong hoạt động dạy và học, có như
thế học sinh mới lĩnh hội tri thức một cách chủ động, sáng tạo, tích cực, kiến thức học
sinh nắm bắt mang tính logic, tổng hợp chắc chắn được.
Thiết kế bài dạy địa lý theo hướng đổi mới để giảng dạy trên lớp được giáo viên vận
dụng vào từng nội dung bài, chương phù hợp với điều kiện thời gian, cơ sở vật chất hiện
có của nhà trường, tâm lý học sinh và trình độ học sinh từng lớp mới đạt hiệu quả thiết
thực.
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy và học tập, giáo viên cần lựa chọn, vận dụng linh
hoạt kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy địa lý ở Trường THPT trên cơ sở dữ liệu bài
yêu cầu để cùng học sinh xây dựng nội dung bài học, giáo viên phải chú ý theo dõi kiểm
tra qua quá trình dạy học học sinh mình có lĩnh hội được tri thức tốt nhất hay chưa, để từ
đó rút kinh nghiệm cho bản thân, từng bước bồi dưỡng năng lực chuyên môn của mỗi cá
nhân giáo viên.
Trong vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học địa lý ở Trường phổ thông
giáo viên luôn luôn nhớ rằng hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả nhất là hình thức
trong đó chú trọng đề cao tính hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh. Nếu
học sinh trong quá trình học chỉ được nghe giáo viên trình bày phân tích, đọc, nghe, nhìn,
Trang 16
liên hệ hoặc lệ thuộc vào bài báo cáo mẫu thầy cô giáo làm sẵn để học thuộc lòng một
cách máy móc thì hiệu quả tiếp thu kiến thức của học sinh sẽ kém đi.
Để khắc phục tình trạng tồn tại lâu nay học sinh học theo kiểu thụ động, ít động não
suy nghĩ, ngại tư duy nghiên cứu bài học trước ở nhà; giáo viên trong đổi mới thiết kế bài
dạy địa lý cần chú ý thiết kế khâu tổ chức các hoạt động dạy học linh hoạt, phù hợp điều
kiện, trình độ, tâm sinh lý học sinh; tổ chức cho học sinh thảo luận đóng góp ý kiến xây
dựng bài học một cách chủ động tích cực đi đến thống nhất hoàn chỉnh bài dạy học.
2.3. Vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học địa lý phải kết hợp thiết kế
giữa kênh chữ với kênh hình phù hợp, khoa học để phục vụ giảng dạy học tập đạt
kết quả.
Việc sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, Atlat, bản đồ, hình ảnh, phần kênh hình trong thiết
kế bài dạy kết hợp với kênh chữ cũng là biện pháp kết hợp linh hoạt giữa các hình thức
truyền thụ kiến thức giúp học sinh lĩnh hội tri thức hiệu quả hơn. Bỡi theo đánh giá của
các nhà giáo dục, nếu thầy cô giáo chỉ nói đọc để học sinh nghe thôi thì sẽ mau quên,
nhưng nếu cho các em nhìn thấy bằng hình ảnh hoặc dụng cụ trực quan trong quá trình
học thì các em sẽ nhớ, cho học sinh cả nghe lẫn nhìn hiệu quả lĩnh hội tri thức có khá
hơn… đặc biệt cho học sinh trải nghiệm qua việc làm cụ thể, dạy người khác sau khi nắm
được tri thức hiệu quả đạt được là cao nhất (sơ đồ hình tháp, trang 11)
Như vậy, việc vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài dạy học Địa lý ở trường phổ
thông nhằm giúp học sinh hiểu được vấn đề nội dung bài học, bài tập đề ra trong quá
trình dạy học một cách trực quan sinh động, giúp học sinh nhận thức dễ dàng những điều
tương đối trừu tượng, học sinh không được tận mắt chứng kiến thực tế. sự kết hợp kênh
chữ kênh hình trong thiết kế bài dạy học cho học sinh xuất phát từ cơ sở lý luận của quá
trình nhận thức sự vật khách quan mà trong triết học Mac –Lênin (phép biện chứng) đã
nêu “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó
là con đường nhận thức của hiện thực khách quan”.
Ví dụ 1: Khi dạy về khí hậu Việt Nam phần khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Bài 9 “Thiên
nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa”( lớp 12 ban cơ bản). Giáo viên có thể thiết kế trong bài
giảng sơ đồ mối liên hệ giữa khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta với các thành
phần tự nhiên khác và học sinh sẽ nắm vững nội dung kiến thức một cách hệ thống tốt
Trang 17
hơn nếu giáo viên thiết kế bài dạy không có phần sơ đồ. Sơ đồ khí hậu nhiệt đới ẩm, gió
mùa:
Ảnh hưởng đến Ảnh hưởng đến
Khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa
Hoạt động
Thổ sản xuất của
Địa hình Thủy văn Động, thực
nhưỡng con người
vật
Các quá Sông ngòi Phong phú, Quá trình: Sản xuất
trình nhiều nước, nhiều tầng feralit phát nông nghiệp,
ngoại lực mạng lưới tán. Nơi khô triển, giao thông
phát triển dòng chảy có loài rụng phong hóa vận tải, du
mạnh, dày đặc. Thủy lá theo mùa hóa học lịch hoạt
diễn biến chế theo mùa xảy ra động theo
theo mùa mạnh mùa, thời vụ
Ví dụ 2: Sử dụng lược đồ là một biện pháp thể hiện mối liên hệ giữa các hợp phần tự
nhiên. Sử dụng lược đồ “Khí hậu của Châu Phi” (lớp 11). Trong thiết kế bài dạy giáo
viên nêu câu hỏi:
1) Vì sao trong dải khí hậu từ 20 0 VN – 300VN của Châu Phi lại có sự chênh lệch rất lớn
về lượng mưa giữa bờ Đông và bờ Tây của lục địa.
2) Tại sao hoang mạc Namip lại phân bố sát bờ Đại Tây Dương
3. Triển khai tổ chức thực hiện
3.1 Tổ chức:
Trang 18
- Triển khai cho giáo viên bộ môn và học sinh nắm vững yêu cầu của kinh nghiệm đổi
mới thiết kế bài dạy học địa lý ở trường phổ thông cùng với chủ trương của Ngành là đổi
mới phương pháp dạy học nhằm làm cho thầy cô giáo và học sinh quán triệt, tiếp cận
trong quá trình dạy và học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, bồi dưỡng
đội tuyển tham gia thi học sinh giỏi các cấp đạt kết quả cao, ổn định.
- Thành lập đội tuyển học sinh giỏi các cấp, vận dụng kinh nghiệm đổi mới thiết kế bài
dạy học địa lý để giảng dạy bồi dưỡng kiến thức địa lý cho các em học sinh nắm được
một cách chắc chắn và tích cực, tự giác trong học tập nghiên cứu chuyên sâu về bộ môn
sau này.
3.2. Triển khai thực hiện:
- Thực hiện kết hợp linh hoạt thiết kế bài giảng chú ý cả phần lý thuyết (kênh chữ) với
thực hành (kênh hình) để giáo viên và học sinh từng bước sử dụng cách dạy học đa dạng,
học tập độc lập chủ động, hứng thú hơn, kết quả đạt được sẽ được nâng lên và chắc chắn
hơn so với khi chưa nắm được cách đổi mới thiết kế bài dạy học địa lý một cách cụ thể.
- Thực hiện được ở các khối lớp của trường, vận dụng trong giảng dạy bồi dưỡng đội
tuyển học sinh thi học sinh giỏi Quốc gia hàng năm của bộ môn hiệu quả thiết thực, nhờ
năng lực thiết kế bài dạy học địa lý theo hướng đổi mới, tích cực, sáng tạo.
3.3. Kết quả đạt được:
Quá trình thực hiện vận dụng đề tài đổi mới kinh nghiệm thiết kế bài dạy học địa lý,
kết quả giảng dạy học tập của nhà trường đạt rất khả quan so với lúc trước đây chưa thực
hiện phổ biến vấn đề này (học sinh học tập đạt tỷ lệ khá giỏi bộ môn cao, học sinh thi tốt
nghiệp bộ môn Địa lý cao hơn mức bình quân của tỉnh = 70%), học sinh trong đội tuyển
bồi dưỡng thi học sinh giỏi Quốc gia hàng năm tôi được trực tiếp bồi dưỡng cùng với
nhóm giáo viên bộ môn của Ngành đạt từ 03 đến 04 giải mỗi năm, nâng tổng số học sinh
đạt giải Quốc gia môn Địa lý của tỉnh lên 28 giải kể từ năm học 2001 – 2002 đến năm
2009 – 2010.
(Xem phần phụ lục thống kê kết quả học sinh giỏi các cấp môn Địa lý, Trường PT cấp 2-
3 Sơn Thành).
III. Kết luận và khuyến nghị:
1. Kết luận:
Trang 19