Skkn phương pháp sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học ngữ văn ở thcs.

  • 16 trang
  • file .doc
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học
có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con
người. Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan
điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Mặt khác nó cũng là môn học thuộc
nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn
học khác trong các nhà trường phổ thông. Học tốt môn văn sẽ tác động tích
cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học
tốt môn văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí
thuyết, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh
động của cuộc sống .
Những đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS và việc xây dựng chương
trình biên soạn lại sách giáo khoa các môn học theo tư tưởng tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về đổi mới
phương pháp dạy học.
Năm học 2011 - 2012 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tục đổi
mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn
trong các nhà trường phổ thông. Một trong những phương pháp dạy học mới
và hiện đại nhất được đưa vào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy -
một phương pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên thế giới áp
dụng. Qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư
duy, tôi nhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác
giảng dạy và học tập của học sinh. Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại
học văn, khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đem đến
cho các em cái nhìn mới, tư duy mới về môn học Ngữ văn. Vậy thế nào là
phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sử dụng bản đồ tư duy như thế
nào để nâng cao chất lượng trong các giờ học văn? Đó là những vấn đề tôi
muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệp trong sáng kiến kinh nghiệm
này.
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 1
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I . CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ.
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là
hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa
một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng
thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt
đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ, có thể vẽ thêm
hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình
ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể
“thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD
phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng
(các nhánh). Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng
cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,
mỗi học kì... và giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác.
BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn: Việc
rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao
hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số học
sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các em thường học bài nào biết
bài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến
thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những
phần sau. Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không
biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ
của mình. Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học sẽ gúp học sinh có được
phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
BĐTD - giúp học sinh học tập một cách tích cực. Một số kết quả
nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái
mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình vì vậy
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 2
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối
đa tiềm năng của bộ não.
Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học môn Ngữ Văn THCS” để
góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy và để lôi cuốn học sinh yêu thích giờ
học văn.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.
1. Thực trạng chung của việc học văn hiÖn nay:
Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói: "Văn học là nhân học"
vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học
văn. Thực trạng này lâu nay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là
những lời than thở với nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn văn và
nay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm
bài làm văn của học sinh trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải có
những thay đổi về phương pháp dạy văn và học văn hiện nay. Qua công tác
giảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rất
nhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh , cụ thể là:
- Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan tâm
đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng, đó là tâm lý
thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông. Điều đáng buồn nhất cho các
giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếu văn cũng không muốn
tham gia đội tuyển văn. Các em còn phải dành thời gian học các môn khác.
Phần lớn phụ huynh khi đã định hướng cho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ
yếu chú trọng ba môn: Toán, Lý, Hóa. Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có
không ít phụ huynh đã chọn hướng cho con thi khối A từ khi học tiểu học.
Một bậc học mà học sinh còn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu làm quen
với những khái niệm về từ ngữ mà đã định hướng khối A thì thật là nguy hại.
- Khả năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể dễ
dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai, viết câu sai,
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 3
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng, thiếu logic. Đặc biệt có
những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa, lủng củng ...Đây là một tình trạng
đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta.
Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện, nhưng
thực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinh
xem nhẹ, mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cả
mọi người. Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa
học xã hội, không thể chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực
đổi mới phương pháp dạy học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học
sinh, hình thành cho các em phương pháp học văn hiệu quả nhất.
2. Thực trạng đối với giáo viên và học sinh.
Trong quá trình giảng dạy và dự giờ các đồng nghiệp, tôi nhận thấy:
a. Đối với người dạy: Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tụy
với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn
những mặt hạn chế sau :
- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ
học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao .
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phương pháp
trực quan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bài của học
sinh .
- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi được
mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học.
b. Đối với học sinh:
- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, hổng kiến thức nên không
chuẩn bị tốt tâm thế cho giờ học Ngữ văn.
- Địa phương xã Cầu Lộc thuộc vùng kinh tế còn khó khăn, hầu hết phụ
huynh đều đi làm ăn xa, ít có thời gian quan tâm kèm cặp con em mình. Bản
thân các em còn phải phụ giúp gia đình ngoài giờ lên lớp, không có thời gian
học.
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 4
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như
xem ti vi, chơi game . . . ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức
học bị lôi cuốn, sao nhãng việc học tập.
- Theo xu thế phát triển của xã hội, phần lớn học sinh được gia đình định
hướng theo học các môn thuộc môn khoc học tự nhiên, nên sao nhãng các
môn khoa học xã hội, đặc biệt là môn Ngữ văn.
Để khắc phục tình trạng trên , cũng như để phát huy được tính độc lập ,
tự lực trong việc chiếm lĩnh tri thức của học sinh , khuyến khích được các em
nêu ra những thắc mắc , cách giải quyết những câu hỏi , bài tập, tình huống ,
bày tỏ những ý kiến , những ý tưởng của mình và ngày càng yêu thích học
văn hơn .
Tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn trình bày những kinh nghiệm về phương
pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn ở THCS nhằm nâng cao
chất lượng giờ dạy học thông qua việc sử dụng Bản đồ tư duy trong một vài
tiết dạy Ngữ Văn lớp 6 và lớp 9 để các đồng nghiệp tham khảo.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
1. Giải pháp chung:
Để nghiên cứu và đưa ra những kinh nghiệm dạy học sử dụng Bản đồ
tư duy tôi đã đưa ra một số giải pháp sau:
* Giải pháp 1: Để có cái nhìn khái quát về Bản đồ tư duy tôi phải tìm hiểu
những cơ sở lí luận về Bản đồ tư duy cụ thể từng bài thông qua những kiến
thức lý thuyết bằng cách đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến bài
học.
* Giải pháp 2: Tôi tiến hành khảo sát chất lượng học sinh, trò chuyện với các
em để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em muốn được các thầy cô dạy
theo cách như thế nào. Ngoài ra tôi còn tích cực đi dự giờ thăm lớp các đồng
nghiệp của mình , đặc biệt là các đồng chí dạy môn Ngữ văn ở các tiết dạy có
sử dụng Bản đồ tư duy . Tranh thủ trò chuyện, trao đổi kinh nghiệm dạy học
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 5
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
sử dụng Bản đồ tư duy vào những lúc trống tiết , những buổi sinh hoạt nhóm,
sinh hoạt tổ hoặc những buổi đi chuyên đề với các đồng nghiệp.
* Giải pháp 3: Lên kế hoạch dạy thử ở các lớp khác nhau, có các đồng
nghiệp đi dự để đánh giá hiệu quả và rút ra kinh nghiệm.
* Giải pháp 4: Sử dụng các phương pháp nghiên cứu là : Nghiên cứu , thực
nghiệm, khảo sát, quan sát , đối chứng.
2. Các biện pháp để tổ chức thực hiện.
Để thực hiện đề tài này tôi đưa ra một số biện pháp thực hiện như sau:
Khi dạy học sử dụng Bản đồ tư duy trước tiên tôi tìm hiểu cơ sở lí luận, sau
đó thông qua tìm hiểu học sinh , các đồng nghiệp, rồi tiến hành soạn bài, thực
dạy và cuối cùng tiến hành khảo sát học sinh và tranh thủ góp ý nhận xét của
đồng nghiệp để tìm ra kết quả đạt được. Điều đó cụ thể như sau:
2.1. Bản chất phương pháp dạy học bằng BĐTD:
- BĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp người học
chuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ não một cách
dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng,
đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu
rộng.
- Dạy học bằng Bản đồ tư duy - một giải pháp góp phần đổi mới cơ bản giáo
dục.
2.1.1. BĐTD tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng:
a. Sự hình dung:
BĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ.
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng.
Đối với não bộ, BĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh màu sắc
phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán.
b. Sự liên tưởng, tưởng tượng:
BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rất rõ ràng.
c. Làm nổi bật sự việc:
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 6
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, Sơ ®å BĐTD cho phép giáo
viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những
màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng. Hơn nữa, việc BĐTD dùng rất nhiều màu
sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy
phong phú của mình. Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc
sỡ thông thường, BĐTD giúp tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kết
chặt chẽ về những gì được học.
2.1.2. BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc:
BĐTD là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để
tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi
tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ
phân nhánh. Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi
nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1
câu chuyện) thì não bộ còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau.
Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não.Đây là một kĩ
thuật để nâng cao cách ghi chép. Bằng cách dùng giản đồ ý, tổng thể của vấn
đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đối tượng thì liên hệ với nhau
bằng các đường nối.
BĐTD thật sự giúp häc sinh tận dụng các chức năng của não trái lẫn
não phải khi học. Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh của
cả bộ não. Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng
lực tiềm ẩn trong häc sinh, đưa häc sinh lên một đẳng cấp mới, đẳng cấp của
một tài năng thực thụ hay thậm chí của một thiên tài.
2.2. Vận dụng BĐTD trong quá trình dạy học Ngữ văn:
2.2.1. Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:
* Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến
thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý
cho các em để các em tìm ra các néi dung liên quan đến từ khoá đó và hoàn
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 7
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
thiện BĐTD. Qua BĐTD đó học sinh sẽ nắm được kiến thức bài học một cách
dễ dàng. Ví dụ cụ thể:
VĂN BẢN: THẦY BÓI XEM VOI ( Truyện ngụ ngôn)
(Tiết 40- Ngữ văn lớp 6, tập 1),
Sau phần đọc và tìm hiểu chung, giáo viên có thể vẽ mô hình BĐTD
lên bảng. BĐTD gồm 5 nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phân thành nhiều
nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung bài học.
Để có thể hoàn thiện được mô hình BĐTD của bài học, giáo viên sử
dụng hệ thồng câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:
+ Bố cục của văn bản: học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ý chính
( Hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy nhận xét về con
voi, hậu quả.)
+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của BĐTD bằng hệ thống câu hỏi nhỏ có
tính gợi mở (các thầy xem voi trong hoàn cảnh nào, cách xem voi của các
thầy ra sao, ...).
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6
BÀI: SO SÁNH
(Tiết 86- Ngữ văn lớp 6, tập 2),
Đầu giờ giáo viên cho từ khoá “ So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ
BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em để các em có thể vẽ tiếp các
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 8
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ ( nhánh con cấp 2, cấp 3…), sau khi các
nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác
bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một
cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú
học tập của học sinh.
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “So sánh” - Ngữ Văn 6
* Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức
sau mỗi chương, phần…: Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để
học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng
cách vẽ BĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp
lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi
cần một cách nhanh chóng, dễ dàng. Ví dụ cụ thể:
BÀI: TRUYỆN KIỀU ( Nguyễn Du)
(Tiết 26,27- Ngữ văn lớp 9, tập 1),
Giáo viên định hướng để học sinh khai thác kiến thức của bài học bằng
hệ thống câu hỏi gợi mở. Trên cơ sở đó hình thành và củng cố kiến thức cho
HS bằng BĐTD. Hệ thống kiến thức của bài học bao gồm:
- Tác giả bao gồm: Tiểu sử (thân thế, gia đình), cuộc đời, sự nghiệp sáng tác...
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 9
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
- Tác phẩm:
+ Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du ở cả hai thành phần chữ (chữ Hán
và chữ Nôm).
+ Thời gian và hoàn cảnh sáng tác, nguồn gốc của tác phẩm; đồng thời giáo
viên gúp học sinh hiểu được vì sao “Truyện Kiều” có nguồn gốc từ Trung
Quốc mà vẫn được coi là tác phẩm văn học Việt Nam ...
+ Tóm tắt “Truyện Kiều”: Bố cục của “Truyện Kiều”.
+ Giá trị của “Truyện Kiều”: Giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật.
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “TruyÖn KiÒu”- Ngữ văn 9
VĂN BẢN: ÁNH TR ĂNG ( Nguyễn Duy)
(Tiết 58 - Ngữ văn lớp 9, tập 1),
Sau khi giáo viên hướng dẫn HS tiếp cận được nội dung kiến thức bài
“Ánh trăng” của tác giả Nguyễn Duy, giáo viên gợi dẫn để học sinh sinh lần
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 10
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
lượt củng cố lại nội dung bài học bằng cách lập Bản đồ tư duy. Qua BĐTD
học sinh có thể hệ thống, hình dung được toàn bộ nội dung bài học.
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy ( Ngữ Văn 9, tập 1)
BÀI: TỔNG KẾT NGỮ PHÁP
(Tiết 147,148- Ngữ văn lớp 9, tập 2),
Khi dạy phần từ loại tiếng Việt, giáo viên tổ chức cho học sinh vẽ
BĐTD sau mỗi bài học để mỗi em có một tập BĐTD về các từ loại tiếng Việt:
danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ…. Lên đến
lớp 9, trong bài “ Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 11
Phương pháp sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ Văn ở THCS.
thức về từ loại tiếng Việt bằng BĐTD dựa vào tập BĐTD đã có. Sau khi có
một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong BĐTD sẽ cho một học sinh
khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thể cho học sinh vẽ thêm các
đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích… rồi thảo luận chung trước lớp
để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em.
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “Tổng kết ngữ pháp”- Ngữ văn 9
2.2.2. Học sinh học tập độc lập, sử dụng BĐTD để hỗ trợ học tập, phát
triển tư duy lôgic.
- Học sinh tự có thể sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìm hiểu
trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa…
hoặc để tư duy một vấn đề mới. qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng
cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.
- Học sinh trực tiếp làm viÖc với máy tính, sử dụng phần mềm Mindmap, phát
triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng máy tính trong học tập.
2.2.3. Một số biện pháp ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy
học môn Ngữ văn.
* BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương
pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy
Giáo viên: Ngô Thị Huấn *** Trường THCS Cầu Lộc 12