Skkn một vài phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh khắc sâu kiến thức môn lịch sử 8, 9

  • 26 trang
  • file .pdf
I. THÔNG TIN CHUNG
1. Tên sáng kiến: Một vài phương pháp dạy - học tích cực giúp học sinh khắc
sâu kiến thức môn Lịch sử 8, 9.
2. Tác giả:
Họ và tên: Ngô Thị Hằng
Năm sinh: 1983
Nơi thường trú: Khu 21, thị trấn Tân Uyên - Tân Uyên - Lai Châu.
Trình độ chuyên môn: Đại học, sư phạm Lịch sử
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên
Điện thoại: 098894945
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Hoạt động giảng dạy môn Lịch sử 8, 9.
4. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 5 tháng 9 năm 2013 đến ngày 25
tháng 3 năm 2015.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên.
Địa chỉ: Khu 26, thị trấn Tân Uyên - Tân Uyên - Lai Châu.
Điện thoại: 02313787468
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
a. Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến:
Lịch sử là bộ môn mang tính giáo dục rất lớn đặc biệt là giáo dục lòng yêu
nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức dân tộc của thế hệ trẻ. Đồng thời cung cấp
cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh
không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống.
Từ những hiểu biết về quá trình phát triển của một đất nước, một dân tộc, rộng
hơn là cả một xã hội loài người, hiểu được sự phát triển hợp quy luật của tự
nhiên và xã hội. Biết vận dụng sáng tạo những hiểu biết ấy vào hoạt động thực
tiễn cuộc sống, phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông, để xác định nhiệm vụ
trong hiện tại, có thái độ đúng với sự phát triển hợp quy luật ở tương lai.
1
Tuy nhiên môn học lịch sử là một môn khoa học khó và khô khan bởi nó
bắt buộc người học phải ghi nhớ một lượng thông tin khá rộng cả về không gian
lẫn thời gian. Hầu hết các em học sinh đều không thích học môn lịch sử, xem
nhẹ môn lịch sử. Các em tiếp thu kiến thức một cách hời hợt, thiếu chính xác,
thiếu hệ thống dẫn đến các em không thể khắc sâu được kiến thức để làm bài và
áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Điều đó đã dẫn đến hệ quả, trong những năm
gần đây, đặc biệt là sau các kỳ thi tuyển sinh vào cấp III, đã báo lên hồi chuông
cảnh tỉnh tình trạng học sinh học lịch sử quá yếu kém.
Thực tế trên do nhiều nguyên nhân gây nên, song cơ bản không phải do
bản thân môn lịch sử, mà do quan niệm của người học và phương pháp dạy - học
lịch sử còn lạc hậu, thiếu sự đổi mới kịp thời so với xu hướng hiện đại hóa của
đất nước hiện nay. Giáo viên dạy lịch sử chưa phát huy được thế mạnh của bộ
môn; chưa chỉ cho các em biết được đây là bộ môn khoa học cần phải có sự học
tập, nghiên cứu nghiêm túc; chưa tái hiện được không khí lịch sử trong giờ học,
để học sinh rơi vào tình trạng thụ động; quan trọng nhất là chưa phát huy được
tính tích cực của học sinh làm cho không khí học tập mệt mỏi, giờ học trở nên
khô khan nặng nề.
Trước thực trạng đó đòi hỏi giáo viên giảng dạy môn lịch sử phải luôn tìm
tòi đổi mới phương pháp dạy học để "làm mới" môn của mình, làm sao để phát
huy được tính tích cực, chủ động của người học. Giúp học sinh hứng thú hơn với
môn học, làm cho người học khắc sâu được kiến thức lịch sử một cách có hệ
thống. Trên cơ sở đó góp phần vào việc đảm bảo đúng định hướng của ngành
Giáo dục trong chương trình đổi mới sách giáo khoa: “phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
b. Mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
Mục đích nghiên cứu của sáng kiến này nhằm đưa ra một vài phương
pháp dạy - học tích cực tối ưu, có tính khả thi để khắc phục có hiệu quả tình
2
trạng học sinh không thích học môn Lịch sử, tiếp thu, ghi nhớ kiến thức lịch sử
một cách hời hợt. Nhằm phát triển tư duy học tập, khả năng ghi nhớ sự kiện lịch
sử một cách lôgic, chủ động, tích cực, tự giác lĩnh hội kiến thức. Học sinh khắc
sâu được kiến thức để nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
Đây là một đề tài mới, được tôi nghiên cứu và triển khai thực hiện trong
thực tiễn hoạt động giảng dạy, học tập môn Lịch sử 8, 9 để tìm ra và kiểm chứng
các phương pháp dạy - học tích cực giúp học sinh khắc sâu kiến thức. Đối tượng
nghiên cứu mà tôi áp dụng là học sinh lớp 8, 9 và mở rộng cho cả học sinh khối
6, 7 trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên. Đề tài có thể áp dụng cho tất cả các
khối học môn Lịch sử cấp THCS và cấp THPT.
3. Mô tả sáng kiến:
a. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
* Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
Trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên là một trường chuyên biệt ở vùng
miền núi thuộc tỉnh Lai Châu, được thành lập và đi vào hoạt động năm 2009.
Đến nay, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã tương đối, đủ các phòng học, phòng
ở, đảm bảo yêu cầu cho việc dạy - học, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, học sinh đều là
con em các đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức thấp. Vì vậy, đa số học
sinh chưa thấy được vị trí, tầm quan trọng của việc học nói chung và môn Lịch
sử nói riêng. Đặc biệt, học sinh không có hứng thú với môn học; việc học tập,
rèn luyện môn học bị hạn chế, các em chưa độc lập suy nghĩ học tập mà chủ yếu
học nguyên si những gì mà giáo viên cho ghi, chỉ nêu được diễn biến sự kiện mà
không hiểu vì sao nó lại diễn ra như vậy; chưa xác định rõ động cơ học tập hoặc
học tập chưa có phương pháp phù hợp. Điều này đã gây khó khăn cho giáo viên
trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, ảnh hưởng
lớn đến chất lượng môn học Lịch sử.
Để góp phần giải quyết thực trạng hiện đang tồn tại của việc học tập môn
Lịch sử tại trường, tôi đã nghiên cứu và tìm ra một vài phương pháp tạo sự hứng
thú trong học tập môn Lịch sử, để học sinh có thể khắc sâu được kiến thức môn
3
học. Trong những giờ lên lớp tôi luôn định hướng cho mình các phương pháp
giảng dạy thích hợp sao cho phù hợp với từng loại bài, phù hợp với thực tế nhận
thức của học sinh như: Sử dụng các phương tiện đồ dùng trong dạy học; Tổ chức
hoạt động nhóm; Tổ chức cho học sinh tìm hiểu kiến thức lịch sử thông qua các
trò chơi; Liên hệ kiến thức cùng thời kì, cùng nội dung; Sử dụng biện pháp dạy
học liên môn; Đưa ra câu hỏi nêu vấn đề. Mỗi phương pháp có những mặt ưu
điểm và hạn chế nhất định, vì vậy tôi đã sử dụng linh hoạt các biện pháp dạy học
trên sao cho hợp lí, sáng tạo vào từng tiết học.
* Ưu nhược điểm của giải pháp cũ:
Để kiểm nghiệm hiệu quả của việc thực hiện những phương pháp nêu
trên. Tôi tiến hành lập phiếu thăm dò ý kiến của học sinh về sự hứng thú trong
học tập môn Lịch sử 8, 9 và theo dõi kết quả học tập của các em ở đầu năm học
và giữa học kì II, năm học 2013 - 2014. Kết quả thu được như sau:
Mức độ
Thời điểm Hứng thú Vừa phải Không hứng thú
(số học sinh)
Đầu năm học (114) 37 = 32,5% 26 = 22,8% 51 = 44,7%
Giữa học kì II (114) 62 = 54,4% 19 = 16,7% 33 = 28,9%
Mức độ Trên
Trung
Thời điểm Giỏi Khá Yếu Kém trung
bình
(số học sinh) bình
10 = 23 = 53 = 13 = 15 = 86 =
Đầu năm học (114)
8,7% 20,2% 46,5% 11,4% 13,1% 75,4%
12 = 26 = 52 = 15 = 9= 90 =
Giữa học kì II (114)
10,5% 22,8% 45,6% 13,2% 7,9% 78,9%
+ Ưu điểm:
Qua bảng thống kê nêu trên ta thấy rõ hiệu quả của việc giáo viên áp dụng
một vài phương pháp học tập tích cực, đã tạo được sự hứng thú học tập cho
người học. Trong các giờ lên lớp học sinh đã có sự tích cực hơn, hăng hái phát
4
biểu ý kiến xây dựng bài, lớp học sôi nổi, chủ động lĩnh hội kiến thức. Học sinh
ngày càng yêu thích say mê, hứng thú môn học, chất lượng học tập môn Lịch sử
đã có chiều hướng đi lên.
+ Hạn chế:
Chất lượng môn học tuy có được nâng lên nhưng nâng lên với tỉ lệ %
thấp, trái ngược với sự hứng thú học tập của học sinh tỉ lệ % được nâng cao hơn
nhiều. Điều đó đã khẳng định sự hứng thú học tập môn học Lịch sử của học sinh
chỉ là sự ngẫu hứng tùy thích, tạm thời tại thời điểm giáo viên áp dụng phương
pháp gây hứng thú ở trên lớp; kiến thức lịch sử vẫn chưa được các em khắc sâu
sau khi kết thúc tiết học; việc học tập nghiên cứu của mỗi học sinh chưa đúng
phương pháp, chưa phát huy được vai trò của người học sau mỗi giờ lên lớp. Đó
chính là sự nhàm chán trong học tập ở ngoài giờ lên lớp. Dẫn đến chất lượng
môn học vẫn chưa được nâng cao tương xứng với sự hứng thú học tập môn học.
* Sự cần thiết của việc đề xuất giải pháp mới:
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên thì có nhiều, xong cơ bản vẫn
xuất phát từ phía giáo viên. Bởi trong quá trình giảng dạy, giáo viên vẫn còn
lúng túng trong việc truyền thụ kiến thức cơ bản cho các em, chỉ chăm lo cung
cấp những kiến thức cần thiết cho việc làm bài kiểm tra, bài thi, mà không
hướng các em có một cái nhìn toàn diện về một thời kỳ lịch sử, về sự kiện, về
nhân vật lịch sử xảy ra trong quá khứ; không đầu tư cho học sinh một bộ óc tổng
hợp, một phương pháp học khoa học, tích cực, chủ động. Dẫn đến các em phải
nắm một khối lượng thông tin quá lớn về sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một
cách máy móc, khô khan, nên học sinh không nhớ nổi dẫn đến chán học.
Vậy, vấn đề cần đặt ra tiếp theo cho giáo viên là phải làm cách nào để học
sinh có phương pháp học tập tốt môn lịch sử, nhằm khắc sâu được kiến thức từ
hệ thống đến cơ bản và chi tiết về lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới và lịch sử xã
hội loài người. Trong quá trình giảng dạy, tôi tiếp tục áp dụng các phương pháp
cũ để tạo sự hứng thú học tập môn Lịch sử, đồng thời phát hiện tìm ra Một vài
phương pháp dạy - học tích cực giúp học sinh khắc sâu kiến thức môn Lịch
5
sử 8, 9. Tôi nhận thấy một vài phương pháp này đã góp phần lớn vào việc nâng
cao chất lượng bộ môn Lịch sử tại trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên.
b. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
* Tính mới của sáng kiến:
Là sáng kiến lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng thực hiện tại đơn
vị. Sáng kiến đã nêu được những nét mới trong thực hiện một vài phương pháp
dạy - học tích cực, nhằm giải quyết những hạn chế trong quá trình giảng dạy của
giáo viên và cách tiếp cận kiến thức môn học của học sinh. Cao hơn cả là giúp
học sinh khắc sâu được kiến thức môn Lịch sử 8, 9 và Lịch sử 6, 7 tại trường tôi.
* Sự khác biệt của phương pháp mới so với phương pháp cũ:
Phương pháp cũ: Giáo viên đóng vai trò trung tâm trong việc áp dụng
những phương pháp dạy - học để tạo sự hứng thú học tập cho học sinh. Trên cơ
sở của sự hứng thú học tập đó, học sinh sẽ học tốt môn Lịch sử và sẽ khắc sâu
được kiến thức môn học. Học sinh là đối tượng gián tiếp tham gia vào hoạt động
dạy - học tích cực của giáo viên.
Phương pháp mới: Giáo viên là người thiết kế, định hướng, triển khai
những nét cơ bản, nét chung nhất để hướng học sinh vào phương pháp tự học,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức cơ bản vào trong hoạt động học tập. Học
sinh được trực tiếp tham gia vào hoạt động dạy - học tích cực của giáo viên. Với
mục đích để học sinh khắc sâu được kiến thức đồng thời đem lại niềm vui, hứng
thú học tập môn Lịch sử cho học sinh.
* Cách thức thực hiện:
Như ta đã biết, lịch sử vốn tồn tại khách quan, là những vấn đề đã xảy ra
trong quá khứ, không nhìn thấy được, không sờ nắn được. Lượng kiến thức
trong sách giáo khoa ở mỗi bài học học vẫn rất nhiều, học sinh không thể nhớ
được. Để học sinh nắm bắt nhanh và lưu giữ tốt kiến thức, biết nhận xét, đánh
giá một sự kiện, một chân dung, một giai đoạn lịch sử, một địa danh lịch sử, ...
đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn các phương pháp dạy học khác nhau để đạt được
hiệu quả mong muốn, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn học
của học sinh.
6
Với tâm huyết của mình đối với sự nghiệp giáo dục, tôi rất quan tâm đến
nỗi lo chung của ngành và suy nghĩ, đề ra "Một vài phương pháp dạy - học tích
cực giúp học sinh khắc sâu kiến thức môn Lịch sử 8, 9" mà tôi đã áp dụng có
hiệu quả trong hoạt động giảng dạy lớp 8, 9 và thử nghiệm ở khối 6, 7 trường
PTDT Nội trú huyện Tân Uyên.
* Phương pháp 1: Khai thác và sử dụng phương tiện thiết bị dạy học bằng
ứng dụng công nghệ thông tin:
Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương
tiện và thiết bị dạy học hiện đại. Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh nhiều
nguồn tư liệu khác nhau về sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử giúp các em thu
nhận được cả thông tin nghe và nhìn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
dạy học là cần thiết, giúp học sinh hứng thú học tập đồng thời khắc sâu được
kiến thức lịch sử. Nếu chúng ta biết khai thác tốt vào việc thiết kế bài giảng, vào
đúng kiểu bài lên lớp. Học sinh sẽ tập trung chú ý vào bài giảng, có cảm xúc,
nhận thức tốt, tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn.
Thực tế hiện nay, giáo viên đang quá lạm dụng việc ứng dụng bài giảng
điện tử vào giảng dạy, sử dụng trình chiếu toàn bộ bài giảng, gây hậu quả
nghiêm trọng với người học, đó là sự không tập trung vì học sinh không biết đâu
là kiến thức trọng tâm và đâu là kiến thức mở rộng, gây khó khăn cho việc tiếp
thu, khắc sâu kiến thức dẫn đến sự nhàm chán trong học tập.
Nhận thấy điểm hạn chế nêu trên, trong quá trình giảng dạy tôi chỉ thực
hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết có nhiều hình ảnh, có diễn biến
sự kiện lịch sử hay dẫn chứng đoạn phim tư liệu, giới thiệu các ca khúc cách
mạng, đặc biệt trong tiết làm bài tập lịch sử, tiết thi tìm hiểu kiến thức lịch sử, ...
Làm vậy sẽ phát huy được vai trò của giáo viên trong tiết học, trong việc chuẩn
bị bài giảng giáo viên không phải mất nhiều thời gian cho việc thiết kế các
Slides trình chiếu không cần thiết. Khi thiết kế bài giảng trên PowerPoint chúng
ta cần thiết kế Slide trắng sau những Slide hình ảnh, đoạn phim, diễn biến, ...
minh họa, để khi kết thúc phần giảng cho yếu tố minh họa ta chọn Next từ điều
khiển đến Slide trắng để không còn hiện tượng học sinh chỉ tập trung lên màn
7
chiếu quan sát yếu tố minh họa. Thay vào đó học sinh sẽ tập trung vào phần
giảng nội dung mới của giáo viên, đồng thời giáo viên sẽ không phải mất một
khoảng khoảng thời gian một đến hai phút để ẩn đi những phần minh họa trước
đó của nội dung giảng tương ứng, tiết dạy sẽ liền mạch trôi chảy.
Tôi xin giới thiệu về việc ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế bài
giảng cụ thể, có nhiều lược đồ, hình ảnh, phim tư liệu cần được minh họa. Bài
27 - Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc
(1953 - 1954), trong chương trình Lịch sử 9, được thực hiện trong 2 tiết. Mục
tiêu, giúp học sinh nắm được những vấn đề cơ bản sau:
1. Kế hoạch Nava của Pháp - Mĩ:
Để giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về cục diện của chiến tranh Việt
Nam của Pháp từ sau năm 1950 và nội dung cơ bản của Kế hoạch Nava của
Pháp - Mỹ, giáo viên thiết kế 2 Slides Lược đồ "Âm mưu Pháp - Mỹ trong kế
hoạch Nava". Slide 1 trình bày bước thứ nhất, Slide 2 thể hiện bước thứ hai,
giúp học sinh nhận thấy được sự nguy hiểm của kế hoạch này với cách mạng
Việt Nam trong đông - xuân 1953 - 1954.
Saøi Goøn Saøi Goøn
Lược đồ: Âm mưu Pháp - Mĩ trong kế hoạch Nava
8
2. Cuộc tiến công chiến
lược Đông - Xuân 1953 - 1954
Nhằm giúp học sinh nắm
được kế hoạch đối phó của ta
với kế hoạch Nava: ta chủ động
đánh vào những nơi quan trọng
mà lực lượng kẻ thù yếu để phân
tán lực lượng của chúng. Giáo
viên sử dụng 5 Slides bản đồ để
giúp học sinh xác định được vị
trí 5 điểm đóng quân của Pháp
(ngược với ý đồ ban đầu của
Pháp - Mĩ). Từ đó, học sinh tự
hiểu được vì sao kế hoạch Nava
Lược đồ cuộc tiến công chiến lược
bước đầu bị phá sản. Đông - Xuân 1953 - 1954
3. Chiến dịch lịch sử
Điện Biên Phủ 1954
Nhằm giúp học sinh
nắm được: nguyên nhân, diễn
biến và kết quả của chiến dịch
lịch sử Điện Biên Phủ 1954,
giáo viên sử dụng Lược đồ thể
hiện 3 đợt tấn công của ta vào
Điện Biên Phủ để giúp học
sinh nhận thức được cụ thể và
rõ ràng hơn về diễn biến của
chiến dịch. Mặt khác, giáo viên
đưa vào bài giảng thêm 4 đoạn
phim có nội dung nêu bật về
các vấn đề sau:
9
- Âm mưu của Pháp - Mĩ để học sinh biết được cấu trúc, vị trí, vai trò của
Điện Biên Phủ trong âm mưu của Pháp - Mĩ. Từ đó, học sinh lí giải được
nguyên nhân vì sao ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Chủ trương của ta để học sinh nắm được kế hoạch và quyết tâm của ta
khi chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến lược với Pháp.
- Sự chuẩn bị của ta học sinh sẽ thấy được những vất vả, hiểm nguy mà
cha ông ta đã phải chịu đựng, hi sinh để giành thắng lợi trong chiến dịch Điện
Biên Phủ.
- Bại trận của Pháp sẽ giúp học sinh nhận thức đúng và khá đầy đủ về sự
thất bại của Pháp. Nếu giáo viên chỉ nói là “ta tiêu diệt và bắt sống được 16200
tên địch” thì học sinh khó có thể hình dung ra nó nhiều như thế nào. Tuy nhiên,
khi xem đoạn phim này chắc chắn các em sẽ nhận thấy được sự vĩ đại của chiến
dịch Điện Biên Phủ. Từ đó, giáo dục thêm lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho
học sinh.
Cuối cùng, giáo viên cung cấp thêm một số hình ảnh về Thành phố Điện
Biên ngày nay để học sinh thấy được sự lao động miệt mài, sáng tạo của nhân
dân Điện Biên đã biến từ một vùng chiến trận tàn khốc năm nào thành một thành
phố hiện đại như hôm nay.
Như vậy, nếu giáo viên không sử công nghệ thông tin vào thiết kế bài
giảng trên thì không thể nào lột tả được hết nội dung của bài học. Học sinh
không thể nào hình dung được chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và khó lòng cảm
phục được những hi sinh anh dũng của cha ông ta. Do đó, việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học lịch sử là rất cần thiết hiện nay.
* Phương pháp 2: Hướng học sinh nghiên cứu, học tập bằng hệ thống sơ đồ
tư duy:
Sơ đồ tư duy là một đồ dùng trực quan quy ước, dưới hình thức ghi chép
để tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề, … bằng
cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết, nhằm tìm
tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng. Điểm mạnh nhất của sơ đồ tư duy là giúp
10
phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng, phát triển óc tưởng tượng, khả năng
sáng tạo, hứng thú học tập.
Nếu như trước đây, giáo viên là người đưa ra hệ thống sơ đồ tư duy để
củng cố bài học hoặc hệ thống lại kiến thức một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử
mà không có sự tham gia của học sinh. Làm như vậy là giáo viên đã không lấy
học sinh làm trung tâm và không phát huy được vai trò của học sinh, để học sinh
học một cách thụ động theo sự đã định của giáo viên, học sinh sẽ không được
độc lập suy nghĩ, không tự mình khắc sâu được kiến thức.
Cách thức thực hiện như trên được tôi áp dụng theo cách hướng học sinh
vào nghiên cứu, học tập thông qua hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy cùng
với sự chỉ dẫn của giáo viên. Xuyên xuốt trong tiết học tôi đưa học sinh vào làm
việc cùng với giáo viên. Từ sự ghi chép kiến thức một cách hệ thống theo mô
hình sơ đồ tư duy ở trên bảng, học sinh kết hợp nghe giảng, chú ý đến những
điểm nhấn mạnh nhiều lần của giáo viên, dựa vào sách giáo khoa để phát triển ý
lớn đến ý nhỏ.
Trong quá trình thực hiện, giáo viên luôn có sự định hướng, hướng dẫn
học sinh lập bản đồ tư duy, dựa trên nguyên lý đi từ cây -> cành -> nhánh tương
ứng với việc xác định chủ đề -> phát triển ý chính -> ý phụ một cách lôgic. Việc
làm này cần được giáo viên định hướng và yêu cầu học sinh phải thực hiện
thường xuyên sau mỗi bài học, mỗi chương, mỗi giai đoạn. Khi đã trở thành thói
quen với học sinh, giáo viên sẽ không phải mất nhiều công sức cho việc hướng
dẫn chi tiết, tỉ mỉ cho học sinh học bằng sơ đồ tư duy. Sau nhiều lần học sinh sẽ
tự biết cách tổng hợp kiến thức bằng hệ thống sơ đồ tư duy, các em sẽ thấy bài
học trở nên ngắn gọn, dễ hiểu, các em nắm được kiến thức cơ bản nhanh chóng,
thuộc bài ngay tại lớp, nhớ sâu và chính xác nội dung bài học. Lúc này việc tự
học của học sinh sẽ không còn nhàm chán như trước.
Khi dạy Bài 29 - Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mĩ cứu nước (1965
- 1973), trong chương trình Lịch sử 9. Sau khi giảng hết mục I - Chiến đấu
chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mĩ (1965 - 1968). Giáo viên cùng
11
với học sinh dựa vào phần nội dung được ghi, thực hiện củng cố kiến thức bằng
hệ thống sơ đồ tư duy sau:
Dựa vào mẫu sơ đồ tư duy trên, giáo viên có thể yêu cầu học sinh về nhà
hoàn thiện các nội dung tương tự của chiến lược "Chiến tranh cục bộ", để củng
cố lại kiến thức về chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở Bài 28. Đồng thời, hướng
học sinh chuẩn bị bài mới về chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Đông
Dương hóa chiến tranh". Như vậy, chỉ với một hệ thống sơ đồ tư duy tôi đã giới
thiệu ở trên, đã có thể giúp học sinh nhìn thấy được bức tranh tổng thể của cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975) từ âm mưu, hành động của Mĩ
đến các thắng lợi của ta trong việc đánh bại các chiến lược chiến tranh do Mĩ
thực hiện ở miền Nam Việt Nam.
12
* Phương pháp 3: Tái hiện sâu sắc biểu tượng lịch sử thông qua việc dạy học
liên môn
Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều
kiện địa lý, thời gian, địa điểm, các mối quan hệ xã hội, … được phản ánh trong
óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất. Việc tái hiện sâu sắc về
biểu tưởng lịch sử tốt qua việc dạy học liên môn có ý nghĩa, tác dụng giúp học
sinh học tốt được môn học khác và có tính giáo dục tư tưởng cao. Có rất nhiều
cách phân loại biểu tượng lịch sử, theo các nhà giáo dục có thể phân ra các loại
sau: biểu tượng lịch sử về sự kiện chiến tranh; biểu tượng lịch sử về nhân vật
lịch sử; biểu tượng lịch sử về địa danh lịch sử.
Trên thực tế hầu hết trong các tiết học giáo viên đều đã và đang thực hiện
phương pháp này, nhưng do chưa thấy được đó là việc mà giáo viên đang tiến
hành việc tái hiện biểu tượng lịch sử. Vậy nên chưa có cách thức hoặc chưa biết
cách thực hiện để đạt hiệu quả cao nhất. Theo tôi, để thực hiện tốt việc tái hiện
được biểu tượng lịch sử cho học sinh, khâu chuẩn bị nội dung cho bài giảng là
một yếu tố quan trọng đòi hỏi giáo viên cần chú ý như sau:
- Đọc trước bài học trong sách giáo khoa, sách giáo viên, sách chuẩn kiến
thức kĩ năng, sách hướng dẫn sử dụng kênh hình; tìm những nội dung trọng tâm,
nắm vững các thuật ngữ lịch sử, nội dung các khái niệm mới được sử dụng trong
bài giảng. Lựa chọn cách thức liên môn để làm sống lại các biểu tượng lịch sử.
- Đọc các tài liệu liên quan đến nội dung bài học: Tư liệu, tài liệu Lịch sử,
Văn học, Địa lý, Âm nhạc, Mĩ thuật, GDCD, ... kết hợp với lối diễn đạt, sẽ giúp
học sinh hình dung về quá khứ, tái tạo quá khứ, làm “sống lại quá khứ”.
Trong quá trình dạy - học cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa giáo viên
và học sinh. Tôi luôn coi học sinh là trung tâm bằng việc cho học sinh xác định
loại biểu tượng lịch sử đang tìm hiểu, sau đó hướng dẫn học sinh dựa vào sách
giáo khao để: Đọc và tự ghi tóm tắt ngắn gọn những vấn đề cơ bản; tập quan sát
tranh ảnh bản đồ, lược đồ có trong bài; đưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá về các
sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, địa danh lịch sử quan trọng có trong bài học;
sưu tầm tư liệu, tranh ảnh có liên quan đến bài học (nếu có).
13
Về phía giáo viên nếu chỉ giới thiệu sơ lược, qua loa, hời hợt những nội
dung và hình ảnh giơ lên trong sách giáo khoa thì các em không có cảm nhận về
nhân vật, sự kiện, địa danh lịch sử, ... dẫn đến không có biểu tượng trong đầu.
Kinh nghiệm cho thấy khi dạy đến nhân vật lịch sử, địa danh, sự kiện lịch sử, ...
giáo viên phải nhấn mạnh vài đặc điểm nổi bật, đặc điểm riêng; kết hợp dạy học
liên môn đến văn học, âm nhạc, địa lí; xen lẫn kể tóm tắt các câu chuyện đã để
lại dấu ấn sâu đậm về sự kiện, nhân vật hay địa danh lịch sử kết hợp liên hệ đến
thời hiện tại. Chỉ cần một lần giáo viên tái hiện tốt được biểu tượng lịch sử, học
sinh sẽ dễ hiểu và nhớ lâu, có cảm nhận tốt và mong muốn được tìm hiểu, khám
phá về sự kiện, nhân vật, địa danh lịch sử. Như thế giáo viên không cần phải
nhắc lại nhiều lần cũng đã giúp học sinh nắm vững được các sự kiện, hiện tượng
quá khứ một cách cụ thể có hình ảnh, có biểu tượng lịch sử trong trí não của các
em, giúp học sinh hứng thú và ham thích môn học.
Để tái hiện được biểu tượng lịch sử, trong các tiết giảng tôi thường xuyên
liên hệ đến văn học. Bởi văn học và Lịch sử có nhiều kiến thức môn này sẽ hỗ
trợ cho môn kia, văn học sẽ cung cấp cho ta những tư liệu lịch sử mà nhờ đó học
sinh có thể nhận thức về biểu tượng một cách rõ ràng.
Bài 24 - Cuộc kháng chiến từ 1858 năm 1873 - Sách giáo khoa Lịch sử
8. Tôi đã sử dụng triệt để nội dung bài thơ "Chạy giặc" của Nguyễn Đình
Chiểu. Nội dung bài thơ như sau:
"Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây
Hỏi trang dẹp loạn này đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này!"
Qua phần đọc diễn cảm, hùng hồn của giáo viên, học sinh sẽ hình dung
được cảnh tượng thực dân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược
14
Việt Nam (1858) đến Gia Định (Sài Gòn), tràn tới sông Bến Nghé. Bài thơ dễ
học, dễ nhớ lại ngắn gọn, xúc tích, đã tái hiện được cảnh đất nước đau thương
trong những ngày đầu giặc Pháp đánh chiếm Việt Nam. Con người, chim chóc,
thiên nhiên đều trong dáng vẻ tan tác, xác xơ. Học sinh sẽ khắc sâu được biểu
tượng lịch sử về sự kiện thực dân Pháp thực hiện đánh chiếm Việt Nam vào cuối
thế kỉ XIX.
Khi giảng về nội dung "Những hoạt động của Nguyễn Tất Thành sau
khi ra đi tìm đường cứu nước" trong Bài 30 - Phong trào yêu nước chống
Pháp từ đầu thế kỉ XX đến năm 1918 - Sách giáo khoa Lịch sử 8. Tôi liên hệ
đến văn học với bài thơ "Người đi tìm hình của nước", tác giả Chế Lan Viên.
Bởi khi được nghe, được đọc, được suy ngẫm, chúng ta lại rưng rưng xúc động
về bài thơ. Mỗi vần thơ giản dị khi được cất lên như chứa đựng bao tình cảm,
nỗi niềm, sự tự hào, hãnh diện, kính trọng và biết ơn công lao trời bể của nhà
thơ nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong
hành trình suốt cuộc đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp. Từ ngày ra đi tìm
đường cứu nước (5/6/1911), trở thành nhà hoạt động cách mạng kiên cường và
bền bỉ cho đến hơi thở cuối cùng (2/9/1969), Bác đã đưa đất nước và dân tộc đi
từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Tái hiện biểu tượng lịch sử thông qua âm nhạc, bởi âm nhạc với những
ca từ cô đọng xúc tích, khắc họa những hình ảnh nổi bật về con người, quê
hương, đất nước, ... nó dễ đi vào lòng người hơn bao giờ hết. Trong nhiều tiết
học tôi cho học sinh nghe những bài hát nổi tiếng, gắn với các sự kiện nổi bật
của lịch sử dân tộc.
Bài 18 - Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - Sách giáo khoa Lịch sử 9.
Các bài hát về Đảng được tôi triệt để khai thác: Chào mừng Đảng Cộng sản Việt
Nam, nhạc và lời Đỗ Minh; Bài hát: Đảng đã cho ta một mùa xuân, sáng tác
Phạm Tuyên, ... Qua đó thấy được vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam
với quá trình giải phóng dân tộc, xây dựng, phát triển đất nước.
Bài 23 - Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và sự thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa - Sách giáo khoa Lịch sử 9. Phải kể tới bài hát: Mười
15
chín tháng Tám của nhạc sỹ Xuân Oanh. Để sống lại không khí hào hùng của
những ngày Tổng khởi nghĩa và nhắc nhở chúng ta: "19/8 chớ quên là ngày khởi
nghĩa - hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam".
Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), có nhiều ca khúc mãi đi
cùng năm tháng với lịch sử dân tộc Việt Nam, phải kể tới các bài: Hò kéo pháo,
nhạc sỹ Hoàng Vân; Giải phóng Điện Biên, sáng tác Đỗ Nhuận; Tiến về Hà Nội,
nhạc sỹ Văn Cao, .... Cuộc kháng chiến chống Mĩ (1954 - 1975), có các bài hát
mang dấu ấn sâu sắc giáo viên cần khai thác như : Cô gái mở đường, nhạc sỹ
Xuân Giao; Tiến về Sài Gòn, tác giả Lưu Hữu Phước, ....
Bài 23 - Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa - Sách giáo khoa Lịch sử 9, tái hiện biểu tượng lịch
sử thông qua sử dụng tư liệu lịch sử. Tài liệu được sử dụng là một đoạn trích
ngắn có nội dung súc tích, đơn giản, giàu hình tượng, học sinh có thể tiếp thu
một cách dễ dàng không cần giải thích gì thêm. Tôi đã đọc cho học sinh nghe
“Lệnh tổng khởi nghĩa”; cho học sinh xem đoạn băng tư liệu Bác Hồ đọc Tuyên
ngôn Độc lập 2/9/1945. Sau khi được nghe những tài liệu đó và tận mắt xem tư
liệu, học sinh có những hiểu biết rõ ràng, cụ thể và tường tận hơn, không hiểu
biết, nắm bắt kiến thức một cách phiến diện, mơ hồ, hời hợt về sự kiện nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, về chân dung Bác Hồ vĩ đại, về địa
danh Quảng trường Ba Đình lịch sử.
Việc tổ chức dạy học sử dụng phương pháp tái hiện sâu sắc biểu tượng
lịch sử thông qua âm nhạc, văn học, địa lí, tư liệu lịch sử, ... kết hợp việc ứng
dụng công nghệ thông tin, sẽ mang lại hiệu quả cao, giúp học sinh khắc sâu hơn
về sự kiện, nhân vật, địa danh lịch sử. Các em sẽ hứng thú học tập, tìm hiểu bài,
yêu thích, say mê môn Lịch sử.
* Phương pháp 4: Hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động
Đặc trưng của phương pháp học tập tích cực, chủ động là dạy học thông
qua tổ chức các hoạt động họa tập của học sinh; chú trọng rèn luyện phương
pháp tự học; tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác; kết hợp
đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh. Đề cao tính hoạt động cao
16
của người học, khai thác động lực học tập của người học để phát triển năng lực
tự học, tự nghiên cứu.
Thông qua việc giáo viên hướng dẫn, học sinh tích cực, chủ động trong
việc học theo phương pháp tự học, tự nghiên cứu bài học ngay tại lớp và ở nhà
cũng như phát huy tối đa việc học tập theo nhóm. Cụ thể, được tôi tiến hành
hướng dẫn học sinh như sau:
Quá trình học trên lớp: Là quá trình kết hợp nhuần nhuyễn và hợp lý
các thao tác: nghe giảng, ghi bài, trao đổi, thảo luận cùng bạn bè, không ngừng
tư duy, suy nghĩ trong suốt giờ học.
Khi học sinh nghe giảng người giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ
chức, lãnh đạo điều khiển quá trình lĩnh hội kiến thức của học sinh, giáo viên
không cần ghi chi tiết nội dung bài giảng mà chỉ ghi tóm lược các ý chính của
nội dung đó lên bảng. Yêu cầu với học sinh cần tập trung chú ý, phát huy tính
tích cực độc lập suy nghĩ của mình để chuyển từ “lĩnh hội tái tạo sang lĩnh hội
sáng tạo”, có vậy mới nhớ lâu được kiến thức.
Quá trình nghe giảng còn phải kết hợp quá trình ghi bài. Ghi bài phải chú
ý ghi rõ ràng, để khi nhìn vào vở thì dễ học, dễ hiểu, có thể hình dung được toàn
bộ bài giảng của thầy cô ở trên lớp. Ghi bài không nhất thiết phải ghi tất cả lời
giảng của giáo viên mà phải biết ghi chọn lọc, ghi kiến thức cơ bản. Những lời
phân tích, đánh giá của giáo viên về sự kiện, hiện tượng lịch sử, giáo viên hướng
học sinh ghi nhanh, ghi tóm tắt vào quyển nháp. Cách ghi như vậy, khi học mới
dễ dàng nắm ý và dựa vào tài liệu để phát triển ý kiến theo cách hiểu đã được
tiếp nhận ở trên lớp. Trong quá trình học luôn phải đặt ra câu hỏi “Vì sao” để
tìm hiểu bản chất của kiến thức mà thầy cô giáo cung cấp. Giáo viên có thể tổ
chức cho học sinh thi tìm hiểu kiến thức lịch sử thông qua các trò chơi, được
thực hiện trong tiết học làm bài tập lịch sử. Với các hình thức khác nhau như: trả
lời các câu hỏi trắc nghiệm, giải mật mã lịch sử, trò chơi giải ô chữ, tiếp sức, ….
Mục đích là để tổng hợp lại những kiến thức cơ bản các em đã được tìm hiểu ở
mỗi chương, mỗi giai đoạn, đồng thời mang tính giải trí cao, tạo nên một không
khí sôi nổi, hăng say học tập.
17
Quá trình học tại nhà: Sau khi lên lớp, việc học ở nhà nhằm củng cố lại
kiến thức, thông qua làm bài tập, đọc lại vở ghi, chuẩn bị bài ở nhà, .... Phát huy
năng lực tự học là yếu tố rất quan trọng đặc biệt trong thời đại ngày nay “Tự học
là chìa khóa để bước vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã
hội học tập, có năng lực tự học mới có thể học suốt đời". (Tạp chí Giáo dục)
Giáo viên hướng dẫn học sinh học tại nhà bằng vận dụng cách tự học hiệu
quả sau:
- Học lịch sử phải luôn đi liền với giấy nháp: Một vấn đề rất đơn gản
nhưng trong quá trình hướng dẫn học sinh học tập giáo viên không mấy chú ý.
Với các môn tự nhiên các em luôn có giấy nháp bên cạnh, vậy tại sao môn học
xã hội lại không thực hiện điều đó, đặc biệt là môn Lịch sử. Khi các em học kết
hợp viết các nội dung kiến thức ghi ở vở hoặc ở sách giáo khoa theo một hệ
thống sơ đồ tư duy từ ý chính -> ý phụ. Mục đích viết là để nhấn mạnh vào vấn
đề trọng tâm. Tôi chắc chắn học sinh sẽ tập trung học và khắc sâu kiến thức có
hiệu quả nhất.
- Học tập qua nhiều nguồn thông tin: Học tập qua đài, sách, báo, vô tuyến
truyền hình, ... là nguồn thông tin cập nhật hết sức bổ ích. Những thước phim tư
liệu, những chương trình tìm hiểu kiến thức lịch sử hay những chương trình thi
có chủ đề lịch sử, .... Học sinh có thể chủ động lĩnh hội kiến thức dễ dàng, có
biểu tượng lịch sử và ghi nhớ lâu hơn.
Ví dụ: Các bộ phim tư liệu về quãng đời hoạt động cách mạng của Bác
Hồ, Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) và hình ảnh tư liệu về Điện Biên Phủ,
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Chiến thắng 12 ngày đêm "Điện
Biên Phủ trên không" … giúp học sinh nhớ lâu, hiểu sâu.
- Học tập bằng hệ thống hóa kiến thức: Học lịch sử chúng ta nên học theo
giai đoạn. Cụ thể, Lịch sử Việt Nam lớp 9 có các giai đoạn sau: 1919 - 1930;
1930 - 1945; 1945 -1954; 1954 - 1975; 1975 - 2000. Các em cần nắm vững kiến
thức cơ bản của từng giai đoạn. Mỗi giai đoạn, cần hệ thống kiến thức, hệ thống
những vấn đề trọng tâm, những câu hỏi liên quan đến vấn đề đó. Học sinh nên
18
tập trung học dứt điểm một vấn đề, một giai đoạn, đừng học nhảy cóc lung tung.
Khi học cần sơ đồ hóa kiến thức một cách ngắn gọn cho dễ nhớ.
Ví dụ: Về hoàn cảnh ký Hiệp định Pari (1/1973) nên sơ đồ hóa ngắn gọn:
Thất bại (12/1972) -> ký Hiệp định Pari (1973). Nhưng khi trình bày bài kiểm
tra, phải viết đầy đủ như sau: "Thất bại nặng nề trong cuộc tập kích chiến lược
bằng không quân và hải quân vào Hà Nội, Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối
tháng 12/1972, buộc Mĩ phải ký Hiệp định Pa-ri (1/1973) về chấm dứt chiến
tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam".
Học theo nhóm: Là một trong những hình thức thực hiện tốt nhất việc
học tập phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh. Là cách thức học thảo
luận trao đổi theo nhóm về nội dung bài học cũ, nghiên cứu bài mới, làm bài tập
lịch sử. Đây là cách học mang lại tính giáo dục cao bởi nó tạo được sự đoàn kết,
hợp tác, giúp đỡ nhau trong học tập, học sinh sẽ học được kiến thức từ chính bạn
mình mà nhớ được kiến thức lâu hơn.
Vì học sinh trường Nội trú được học tập và sinh sống tại trường, nên tôi
đã thành lập các nhóm học khoảng 3 đến 4 học sinh hoặc "đôi bạn cùng tiến".
Yêu cầu với mỗi nhóm ngoài giờ học chính khóa, trong các buổi học nhóm, học
sinh phải tự giác học tập kiến thức cũ để tự dò kiến thức cho nhau. Cùng nhau
thảo luận tìm hiểu khai thác kiến thức bài học mới về sự kiện, nhân vật, địa danh
lịch sử, ... Như vậy các thành viên của nhóm được tự do học hỏi lẫn nhau những
vấn đề mình chưa hiểu, tự sửa được cái sai của mình, học được ở bạn bè cách
diễn đạt. Giáo viên cần đặt ra yêu cầu với mỗi thành viên của nhóm phải chịu
trách nhiệm về thành tích của nhóm mình. Hằng tháng tôi lựa chọn ra một nhóm
có thành tích cao nhất để động viên khen thưởng các em bằng điểm miệng (8),
trong nhóm đó lại chọn ra một học sinh có nhiều có nhiều câu trả lời bài mới
đúng nhất trong nhóm để động viên khen thưởng bằng điểm miệng (9 hoặc 10).
Với biện pháp thực hiện nêu trên sẽ giúp học sinh có được tinh thần đoàn
kết giúp đỡ nhau trong học tập, tạo được không khí thi đua, hăng hái phát biểu
xây dựng bài, lớp học sôi nổi. Do được học sinh các nhóm chuẩn bị trước nội
dung trả lời các câu hỏi ở bài học mới chu đáo nên làm cho tiết học không bị
19
mất nhiều thời gian, giáo viên sẽ liên hệ mở rộng kiến thức trọng tâm, làm cho
tiết học thêm sinh động, học sinh hứng thú tiếp thu kiến thức.
* Phương pháp 5: Kể chuyện trong giờ học lịch sử
Kể chuyện lịch sử là một phương pháp dùng lời nói kết hợp hình ảnh để
diễn tả một cách sinh động, hấp dẫn về một câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ.
Câu chuyện được kể trong giờ học lịch sử có liên quan đến những mảnh sự kiện,
biến cố lịch sử, nhân vật lịch sử hoặc để giải thích cho một cái tên, một địa danh,
một khái niệm, một thuật ngữ có liên quan đến nội dung bài học. Mỗi sự kiện,
nhân vật, địa danh đều có ý nghĩa riêng về mặt ngôn ngữ, văn hóa lịch sử. Việc
ghi nhớ chúng theo những câu chuyện thú vị đi kèm, giúp học sinh nhớ dữ liệu
không phải bằng cách "học thuộc" mà là nhận thức giá trị của chúng.
Muốn tái hiện bức tranh quá khứ một cách sinh động chúng ta phải dựa
trên cơ sở tài liệu tham khảo trong đó có những câu chuyện, những giai thoại
lịch sử. Câu chuyện được kể phải ngắn gọn, sát với mục đích, yêu cầu, nội dung
bài học; câu chuyện có chủ đề, có cốt truyện về sự kiện, nhân vật, địa danh lịch
sử trong không gian thời gian nhất định; có giá trị về mặt tư tưởng nghệ thuật
thẩm mĩ; phù hợp với tâm lý, trình độ học sinh. Khi kể chuyện giáo viên cần
hướng dẫn học sinh "kể" và nắm được những nội dung của các nhân vật, sự kiện
lịch sử, từ đó biết phân tích, nhận xét đánh giá sự kiện, nhân vật lịch sử. Việc
lồng ghép kể các câu chuyện, các giai thoại lịch sử trong bài dạy sẽ được học
sinh có thêm cơ sở để nắm vững bản chất sự kiện, ghi nhớ sự kiện, có ấn tượng
mạnh và ngưỡng mộ về nhân vật.
Trong bài giảng, phương pháp kể chuyện phải sử dụng kết hợp với các
phương pháp dạy học lịch sử khác một cách đồng bộ và nhuần nhuyễn, đặc biệt
nhất là phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan - quan sát tranh ảnh, để nâng
cao tính tích cực của học sinh, làm bài giảng sinh động có hiệu quả.
Bài 24 - Cuộc kháng chiến từ năm 1858 - 1873, sách giáo khoa Lịch sử
8. Khi giảng đến mục II - Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm
1858 đến năm 1873, để học sinh hiểu rõ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta,
giáo viên kể đoạn chuyện về Nguyễn Trung Trực: “Nguyễn Trung Trực tên thật
20