Skkn-một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử lớp 4

  • 21 trang
  • file .doc
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
I. Phần mở đầu
I. 1. Lí do chọn đề tài
Ngày 1 tháng 2 năm 1942 trên báo Việt Nam độc lập, phát hành tại chiến
khu, Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã viết bài “Nên học sử ta”. Mở đầu bài báo
Bác viết:
Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Là một người dân Việt Nam yêu nước, mỗi chúng ta phải yêu và hiểu biết
về lịch sử của đất nước, của dân tộc mình. Chính vì vậy mà trong chương trình
giáo dục phổ thông môn Lịch sử đóng vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn
trong việc giáo dục học sinh (HS) tình yêu quê hương đất nước, tự hào về truyền
thống của dân tộc. Học Lịch sử để biết được cội nguồn dân tộc, quá trình đấu
tranh anh dũng để dựng nước và giữ nước, quá trình lao động sáng tạo của cha
ông, để biết quý trọng những gì mình đang có, biết ơn những thế hệ cha ông đã
làm ra nó và ngày càng làm giàu thêm truyền thống dân tộc.
Môn Lịch sử ở tiểu học nói chung, môn Lịch sử lớp 4 nói riêng đều nhằm
cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng,
nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu
dựng nước (khoảng năm 700 trước công nguyên) đến năm 1858. Dạy Lịch sử là
bước đầu hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu
thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau. Góp phần bồi
dưỡng ở học sinh thái độ và thói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết các kiến thức
về Lịch sử dân tộc Việt Nam và thêm yêu mến tự hào về lịch sử dân tộc. Lịch sử
là môn học hỗ trợ đắc lực cho các môn học khác, nó không chỉ có tác dụng quan
trọng trong việc phát triển trí tuệ mà còn cả giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức,
thẩm mỹ…với những người thật, việc thật, là cơ sở vững chắc cho việc giáo dục
niềm tin, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, truyền thống dân tộc, truyền thống yêu nước,
giáo dục tinh thần và thái độ lao động đúng đắn, lòng biết ơn với tổ tiên, với
những người có công với Tổ quốc. Do vậy việc khơi dậy niềm say mê, tìm tòi,
tiếp thu kiến thức của học sinh, tạo sự hứng thú trong giờ học lịch sử là nhiệm vụ
và mục đích của người giáo viên (GV) trong sự nghiệp đào tạo thế hệ mới, con
người mới xã hội chủ nghĩa.
Nhưng hiện nay, không ít giáo viên vẫn còn xem nhẹ, không coi trọng môn
Lịch sử vì nghĩ rằng đó chỉ là môn phụ. Đa số học sinh còn thờ ơ với môn học này
nên kết quả học môn Lịch sử còn thấp so với các môn học khác. Trước thực trạng
đó tôi đã rất trăn trở trong việc đổi mới phương pháp dạy học, làm thế nào để các
em hứng thú trong học tập và nâng cao chất lượng dạy học phân môn Lịch sử. Đó
cũng chính là lí do thúc đẩy tôi chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất
lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4” làm đề tài nghiên cứu.
I. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Phạm Thị Thúy Lan -1- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
Mục tiêu, nhiệm vụ mà đề tài này hướng tới chính là khơi dậy khả năng tư
duy sáng tạo, tích cực chủ động của học sinh. Giúp GV có một số biện pháp để
dạy tốt hơn phân môn Lịch sử đồng thời trang bị, cung cấp cho học sinh những
biện pháp để học môn Lịch sử, để các em hiểu và yêu thích phân môn này. Điều
đó góp phần tạo cho học sinh biết quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, bồi
dưỡng lòng yêu nước, tự hào, ghi nhớ công ơn của tổ tiên, với những người có
công với Tổ quốc.
I.3. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy, học môn Lịch sử ở lớp 4.
I.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu về một số biện pháp nâng cao chất lượng
dạy học môn Lịch sử lớp 4.
I.5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp trải nghiệm
+ Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
II. Phần nội dung
II.1. Cơ sở lí luận
Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học đã được
thực hiện ở tất cả các trường tiểu học trong cả nước. Đây là con đường giúp HS
tiếp cận với tri thức mới, nhằm thay đổi cách dạy học truyền thống “thầy giảng trò
nghe, thầy đọc trò chép”. Theo quan điểm dạy học mới, dạy học là quá trình HS
tự khám phá, tự tìm ra chân lí. Phương pháp dạy môn Lịch sử cũng không nằm
ngoài định hướng đó. Đặc trưng nổi bật của nhận thức Lịch sử là con người không
thể tri giác trực tiếp những gì thuộc về quá khứ. Lịch sử là những việc đã diễn ra,
là hiện thực trong quá khứ, nó tồn tại khách quan không thể phán đoán, suy luận.
Vì vậy nhiệm vụ tất yếu của dạy Lịch sử là phải tái hiện lại bức tranh Lịch sử, cho
HS tiếp cận những thông tin từ sử liệu, tiếp xúc những chứng cứ, những dấu vết
của quá khứ. Tạo ra ở HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác về các
nhân vật, sự kiện Lịch sử. Đây là môn học không chỉ có tác dụng quan trọng trong
việc phát triển trí tuệ mà còn giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho thế hệ trẻ.
Nghị quyết Hội nghị TƯ 5 (khóa VIII) chỉ rõ: “Để nền giáo dục phát triển bền
vững, xây dựng lớp thế hệ trẻ có đủ đức, tài thì bên cạnh các môn khoa học tự
nhiên, cần coi trọng hơn nữa các môn khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng
Việt, Lịch sử, Địa lý và văn hóa Việt Nam". Nhưng trong thực tế, một bộ phận
GV và cả học sinh vẫn còn những nhận thức chưa đúng về môn Lịch sử, xem nhẹ
vai trò của Lịch sử, thờ ơ với môn học này dẫn đến chất lượng dạy và học không
Phạm Thị Thúy Lan -2- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
cao. Như vậy muốn đào tạo con người phát triển toàn diện thì vấn đề cấp thiết là
thay đổi cách dạy, cách học môn Lịch sử.
II. 2. Thực trạng
a) Thuận lợi, khó khăn
Thuận lợi
Được sự quan tâm của các cấp và nhà trường, tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho GV và HS về cơ sở vật chất. Đồ dùng dạy học được trang bị tương đối đầy
đủ. Bên cạnh đó sự giúp đỡ của đồng nghiệp nhất là những GV trong tổ 4 đã giúp
tôi hoàn thành đề tài này.
Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như hiện nay GV có
điều kiện để tham khảo các tài liệu, sử liệu trên internet, sách báo có liên quan, tự
học để nâng cao tay nghề và góp phần làm cho bài giảng thêm phong phú, sinh
động hơn .
Chương trình Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới Việt Nam gọi tắt
là VNEN được phân chia theo từng giai đoạn lịch sử. Các đề mục trong sách giáo
khoa đã được các nhà biên soạn sắp xếp thành một hệ thống và rất khoa học, kênh
hình, kênh chữ rõ ràng, màu sắc đẹp. Phần nội dung cần thiết dễ nhớ, dễ thuộc.
Giáo viên được thực hiện mô hình dạy học mới VNEN nên đã quen dần với
việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt
động học của học sinh.
Học sinh lớp 4 đã có ý thức hơn trong học tập, ham học hỏi, thích tìm tòi,
khám phá về Lịch sử.
Khó khăn
Về nội dung chương trình Lịch sử lớp 4 theo mô hình trường học mới
VNEN cũng giống như chương trình trước đây nhưng cách chia nội dung bài theo
sách VNEN thì mỗi bài học là được tích hợp nhiều nội dung, gồm một chuỗi sự
kiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử tiêu biểu của một giai đoạn lịch sử nhất
định. Thời lượng dành cho mỗi bài học thường là 2 đến 3 tiết. Nội dung bài khá
dài và dàn trải.
Thiết bị dạy học phục vụ cho việc dạy học môn Lịch sử còn nhiều hạn chế,
thiếu tranh ảnh, mô hình, sa bàn,…
Một số giáo viên và cả học sinh còn quan niệm Lịch sử không phải là môn
học chính mà chỉ chú trọng vào hai môn Toán và Tiếng Việt. Chính vì vậy nên
không đầu tư vào chất lương dạy và học cho môn Lịch sử. Dẫn đến tình trạng GV
cắt xén thời gian, nội dung chương trình còn HS học Lịch sử chỉ để đối phó. Ở lớp
4, môn Lịch sử là môn học hoàn toàn mới mẻ đối với chính các em, việc dạy môn
Lịch sử không hấp dẫn cho học sinh khiến các em chỉ học thuộc lòng, học vẹt để
trả bài, chứ đầu thì trống rỗng.
Phần lớn học sinh của lớp tôi là dân tộc thiểu số (9 em chiếm 45%) nên sự hiểu
biết của các em về lịch sử còn nhiều hạn chế. Khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan
sát, tưởng tượng, khái quát hóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm mà các
Phạm Thị Thúy Lan -3- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
nhân vật, mốc lịch sử, sự kiện lịch sử lại nhiều nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách
máy móc (nhanh nhớ nhưng lại mau quên). Kĩ năng đọc, kể, tường thuật của các em
chưa lưu loát, do đó ảnh hưởng đến thời gian và tiến trình chung của môn học. Tinh
thần hợp tác học chưa cao, nhiều em chưa tự tin khi hợp tác trong nhóm, một số em còn
học thụ động.
b) Thành công, hạn chế
* Thành công
Sau khi đã vận dụng những kinh nghiệm đã tích lũy được, tôi nhận thấy:
Cả GV và HS đã thay đổi cách nghĩ về môn Lịch sử từ đó cũng thay đổi
cách dạy, cách học theo hướng tích cực. Giờ học Lịch sử không còn nhàm chán,
nặng nề, khô khan như trước, học sinh ham thích học vì giáo viên biết cách tổ
chức các hoạt động dạy học phù hợp. Môn học này không còn là môn học “khó
nuốt” nữa.
GV đã biết vận dụng các phương pháp dạy học linh hoạt, phù hợp với từng
loại bài. Biết cách sử dụng các đồ dùng dạy học môn Lịch sử nhuần nhuyễn, biết
cách khai thác đồ dùng dạy học một cách hiệu quả.
Giáo viên không nhất thiết phải rập khuôn và gói gọn kiến thức trong sách
giáo khoa mà giáo viên phải biết chủ động gợi mở, hướng dẫn cho học sinh nắm
bắt được những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa và mở rộng những kiến
thức mới.
* Hạn chế:
Một số giáo viên áp dụng các biện pháp này vào dạy Lịch sử còn khá máy
móc, chủ yếu chỉ hướng học sinh đến việc hoàn thành mục tiêu bài học, môn học
chứ chưa chú ý đến việc học sinh có hứng thú học tập và hình thành cho HS
những kĩ năng khi học Lịch sử.
c) Mặt mạnh, mặt yếu
* Mặt mạnh
Khi vận dụng đề tài này vào thực tế, tôi thấy HS biết cách làm việc khai
thác tư liệu lịch sử, bước đầu các em đã có một số kĩ năng như quan sát và phân
tích tranh ảnh lịch sử; kĩ năng đọc, phân tích bản đồ, sơ đồ, lược đồ; kĩ năng so
sánh, đánh giá, giải thích; kĩ năng sắp xếp hệ thống hóa các sự kiện, hiện tượng
lịch sử …Từ đó giúp các em mạnh dạn nêu thắc mắc, đặt câu hỏi và cùng tìm câu
trả lời, trình bày kết quả học tập bằng cách diễn đạt của chính mình. Học sinh ham
thích học môn Lịch sử hơn, thích tìm tòi, khám phá về Lịch sử. Môn học này đã
hình thành ở các em lòng yêu mến, tự hào về lịch sử dân tộc, khơi gợi ở các em
tính tò mò thích tìm hiểu về quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, quá trình
lao động sáng tạo của cha ông trong suốt chiều dài lịch sử từ buổi đầu dựng nước
(khoảng năm 700 TCN) đến năm 1858. Từ đó các em thấy được trách nhiệm của
người học sinh đối với quê hương, đất nước thân yêu.
* Mặt yếu
Phạm Thị Thúy Lan -4- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
Để giờ học Lịch sử không khô khan, nhàm chán thì cả thầy và trò đều phải
nỗ lực, hợp tác với nhau một cách hiệu quả. Giáo viên phải có sự chuẩn bị bài,
nghiên cứu kĩ nội dung khi lên lớp, chuẩn bị đồ dùng dạy học phục vụ cho tiết
dạy. Chính vì vậy mà làm mất nhiều thời gian, công sức do đó một số giáo viên
ngại dạy môn Lịch sử.
d. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
* Nguyên nhân dẫn đến thành công của đề tài:
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp quản lí giáo dục, sự giúp đỡ nhiệt
tình của chị em trong tổ 4. Là một giáo viên khi được phân công dạy một lớp có nhiều
HS dân tộc thiểu số, chất lượng đầu vào thấp nên tôi luôn trăn trở, tìm tòi biện pháp dạy
học để mang lại hiệu quả. Bên cạnh đó tôi nhận được sự đồng lòng hưởng ứng cách dạy
học mới từ phía phụ huynh, sự phối hợp giáo dục của 3 lực lượng nhà trường-gia đình-
xã hội giúp cho việc dạy học mang lại kết quả khả quan hơn.
* Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:
Năm học 2013 – 2014 là năm đầu tiên chúng tôi sử dụng Sách Hướng dẫn học
môn Lịch sử, đây là sách thử nghiệm nên vẫn còn một số bất cập, các bài học nội dung
không tách bạch rõ ràng theo từng tiết như sách giáo khoa của chương trình hiện hành
mà được tích hợp nhiều nội dung và mỗi bài thường học từ 2 đến 3 tiết do vậy nội dung
bài khá dài và dàn trải. Một số GV chưa thật sự coi trọng môn học này vì cho rằng đây
là môn phụ, vẫn còn cứng nhắc, chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc dạy học nên nhiều
khi áp dụng máy móc, rập khuôn theo sách. Đồng thời khi tổ chức dạy học giáo viên
ngại phải chuẩn bị nhiều thứ như bảng phụ, phiếu học tập, tranh ảnh, bản đồ,… gây tốn
kém thời gian, kinh phí. Đồ dùng như tranh ảnh, bản đồ, hay các giáo cụ phục vụ cho
việc dạy học còn ít, giáo viên phải tự làm đồ dùng dạy học nhưng số lượng cũng như
chất lượng đồ dùng tự làm còn hạn chế. Thiết bị dạy học còn chưa phong phú. Tài liệu
về bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn kĩ năng dạy học môn Lịch sử vẫn chưa đồng bộ, nội dung
còn chung chung.
e) Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra
Trong những năm gần đây, tình hình học sinh tiếp thu, ghi nhận những kiến
thức lịch sử của dân tộc, của đất nước quá hạn chế. Qua các thông tin đại chúng
đưa tin, đặc biệt là kết quả các lần thi của học sinh trung học phổ thông quá thấp
làm cho dư luận không khỏi băn khoăn suy nghĩ và đặt câu hỏi tại sao kiến thức
về môn lịch sử của các em lại kém như vậy. Đây cũng chính là nỗi đau của người
thầy, người cô. Phải chăng lịch sử bây giờ dài hơn ngày xưa nên học sinh không
tiếp thu được. Kết quả học môn lịch sử ở đơn vị tôi đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn
còn một số em nắm bắt, ghi nhớ kiến thức lịch sử còn thụ động, nhanh quên, các
em chưa biết cách quan sát sơ đồ, lược đồ, mô phỏng, tường thuật lại các sự kiện,
thời gian lịch sử. Năm học 2013 – 2014 là năm học tôi được nhà trường phân công chủ
nhiệm và giảng dạy lớp 4D, chất lượng đầu vào của HS thấp và đa số các em là người
dân tộc, bố mẹ thường đi làm ăn xa không quan tâm nhiều đến việc học hành của con
Phạm Thị Thúy Lan -5- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
cái, nhiều em gia đình rất khó khăn. Chính vì vậy mà tôi luôn trăn trở để tìm biện
pháp giúp HS yêu thích học Lịch sử hơn, chất lượng môn học này khả quan hơn.
Năm học này cũng là năm thứ hai trường tiểu học Lý Tự Trọng thực hiện mô
hình dạy học kiểu mới gọi tắt là VNEN. Với mô hình dạy học này cả giáo viên và học
sinh phải chuyển đổi từ lối truyền thụ một chiều của giáo viên (thầy giảng trò nghe, thầy
đọc trò chép) sang dạy học hợp tác theo nhóm (học sinh chủ động học tập, tự khám phá
chiếm lĩnh kiến thức, GV là người hướng dẫn, gợi mở để HS nắm được kiến thức). Việc
học theo nhóm này hình thành cho các em các kĩ năng như kĩ năng hợp tác trong nhóm,
trong lớp; kĩ năng giao tiếp, tương tác giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên,
kĩ năng giải quyết mâu thuẫn.
Sách Hướng dẫn học môn Lịch sử Địa lí vừa là sách dùng cho học sinh vừa là
sách dùng cho giáo viên, đồng thời cũng là sách bài tập. Sự kết hợp ba trong một này
vừa tiện lợi nhưng cũng gây khó khăn cho giáo viên vì không có sách thiết kế bài giảng
hay sách giáo viên để làm cơ sở cho việc dạy học.
Học sinh chỉ được sử dụng sách Hướng dẫn học trên lớp mà không được mang
về nhà nên khó khăn trong việc ôn lại bài cũ và chuẩn bị nội dung cho bài mới. Phụ
huynh cũng gặp khó khăn trong việc hướng dẫn con em học tập ở nhà. Muốn có sách để
học ở nhà phụ huynh phải phô tô sách cho con em mình học vừa tốn kém mà chất lượng
của sách phô tô thì không cao.
Học sinh phải đọc hiểu tốt mới tự học theo các câu lệnh trong sách nhưng trong
thực tế một số em đọc hiểu còn chậm vì vậy ảnh hưởng đến tiến độ bài học. Mặt khác
các kĩ năng như giao tiếp, hợp tác, lãnh đạo, giải quyết vấn đề của một số em còn rất
hạn chế nhất là các em người dân tộc thiểu số các em rất rụt rè trong giao tiếp. Vả lại
môn học Lịch sử chỉ được học 1 tiết/tuần mà đối với học sinh tiểu học các em nhanh
nhớ nhưng cũng nhanh quên cho nên nhiều nội dung các em không nhớ hết được dẫn
đến việc hổng kiến thức.h phải i giáo viên lo ngại việc dạy học theo n
II.3. Giải pháp, biện pháp
a) Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Để nâng cao hiệu quả dạy và học môn Lịch sử lớp 4, tôi đã tiến hành một
số biện pháp nhằm thay đổi cách dạy, cách học Lịch sử, hình thành cho HS một
số kĩ năng khi học Lịch sử. Đồng thời giúp giáo viên giảng dạy môn học này một
cách hiệu quả hơn.
b) Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
b.1. Thay đổi nhận thức của người dạy, người học
* Đối với giáo viên
Tôi luôn xác định rằng muốn các em học tốt môn Lịch sử thì giáo viên phải
là người yêu thích Lịch sử, phải tự trang bị cho mình kho tàng kiến thức về lịch
sử. Việc bồi đắp kho tàng này không bao giờ là đủ mà phải được thực hiện liên
tục, thường xuyên suốt cuộc đời. Bởi vậy tôi luôn tìm đọc những cuốn sách về
lịch sử, những câu chuyện, bộ phim lịch sử, xem các tài liệu trên mạng internet để
hiểu hơn về lịch sử dân tộc cũng như thế giới. Giáo viên có yêu lịch sử thì mới có
Phạm Thị Thúy Lan -6- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
thể truyền được tình yêu đó đến học sinh của mình bởi vì ở cấp tiểu học các em
xem giáo viên như thần tượng, như một chuẩn mực để các em hướng đến, các em
bắt chước, làm theo như giáo viên. Mặc dù trường tôi đang thực hiện mô hình dạy
học mới VNEN trong đó học sinh chủ động học tập tuy nhiên giáo viên vẫn đóng
vai trò quan trọng. Lời giảng của giáo viên rõ ràng, truyền cảm sẽ gây được sự
chú ý của học sinh.
Bản thân tôi luôn nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, tài liệu, nắm vững các kiến
thức cơ bản cần truyền đạt, đảm bảo hệ thống kiến thức chính xác, có hệ thống để
từ đó có phương pháp giảng dạy thích hợp.
GV phải hiểu và tái hiện được bức tranh lịch sử một cách sinh động, chân
thực bởi dạy lịch sử phải đảm bảo tính chính xác, nói đúng sự thật, điều đó có tác
dụng giáo dục niềm tin và gây hứng thú học tập, từ đó sẽ phát huy tính tích cực
học tập của học sinh. Vì vậy tôi không ngừng nghiên cứu, sưu tầm tài liệu để phục
vụ cho việc giảng dạy, khi dạy phải có dẫn chứng minh họa cụ thể vì “Nói có
sách, mách có chứng” thì mới thể hiện tính chân thực của lịch sử và như thế mới
thuyết phục được học sinh.
Chẳng hạn khi dạy bài “ Nước Đại Việt thời Lý” (Lịch sử lớp 4, tập 1, trang
45), người giáo viên phải giúp học sinh hiểu được hoàn cảnh lịch sử của sự kiện
Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lập ra triều đại nhà Lý. Cụ thể là khi dạy đến bài
này giáo viên cần phải nghiên cứu để dẫn dắt HS đi từ các vấn đề lịch sử: Năm
1005 vua Lê Đại Hành mất, Lê Long Đĩnh lên ngôi. Nhà vua tính tình bạo ngược
nên lòng dân oán hận. Không lâu sau Lê Long Đĩnh mất. Trước tình hình đó triều
đình cử một vị quan là Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Ông là người thông minh, văn
võ song toàn, đức độ cảm hóa được lòng người.
Qua những bài học Lịch sử, tôi luôn khơi dậy những tình cảm của học sinh
đối với nhân vật, sự kiện lịch sử. Qua đó, giáo dục tinh thần đoàn kết, truyền
thống uống nước nhớ nguồn. Trong quá trình giảng dạy, tôi luôn dựa vào trình độ
của học sinh lớp mình để lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp nhất đồng
thời tôi sử dụng linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp dạy học đàm
thoại, vấn đáp hay thảo luận nhóm, trao đổi, theo hình thức cá nhân, nhóm 2 hay
nhóm 4….để giải quyết những vấn đề được đặt ra. Việc linh hoạt tổ chức đối
tượng học sinh hoạt động theo nhóm cũng cần được quan tâm, tránh áp đặt cố
định số lượng hoặc trình độ học sinh hay để học sinh quá đông trong một nhóm.
Hệ thống câu hỏi cũng được tôi lựa chọn kĩ lưỡng, tôi thường xây dựng những
câu hỏi ngắn, gọn, dễ hiểu, vừa sức, đi từ dễ đến khó và cần nhất là nổi bật trọng
tâm bài học.
Ví dụ: Nếu giải quyết chung một đề tài khó, cần có sự đan xen về trình độ
học sinh trong cùng một nhóm để các em hỗ trợ cho nhau. Nhưng cũng có lúc, tôi
tạo điều kiện cho các em học sinh còn chậm, còn nhiều hạn chế cùng làm việc với
nhau theo nhóm và dành riêng cho các em một đề tài dễ hơn . Đây cũng là lúc tôi
phát huy vai trò của mình “ Dạy học phân hóa đối tượng học sinh.”
Phạm Thị Thúy Lan -7- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
Trong quá trình giảng dạy, tôi hướng dẫn học sinh khai thác nội dung bài
học qua từng hoạt động học tập. Phân chia thời gian hợp lý. Có hình thức khen
thưởng, khuyến khích học sinh tích cực phát biểu ý kiến, tham gia xây dựng bài,
tránh tối đa hình thức xử phạt, la mắng.
* Về phía học sinh
Phải thay đổi nhận thức về môn Lịch sử bởi đây chính là môn học giúp HS
tìm về cội nguồn dân tộc. Đây cũng là môn học bổ trợ kiến thức cho các môn học
khác.
HS phải có sự chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp. Tích cực sưu tầm tài
liệu, sử liệu có liên quan đến bài học để việc học tập được tốt hơn. Đọc thêm sách
báo, sách lịch sử, truyện kể lịch sử, xem phim lịch sử để bổ sung, tích lũy kiến
thức về môn học. Khi vào lớp chú ý nghe giảng, nghe theo sự hướng dẫn của giáo
viên, biết hợp tác với các bạn trong nhóm, trong lớp để tập trung và hoàn thành tốt
nội dung bài học.
b.2. Sử dụng kênh hình hiệu quả
Cũng giống như một số môn học khác, trong SGK Lịch sử 4, kênh chữ giữ
vai trò chủ yếu trong việc cung cấp kiến thức. Tuy nhiên, kênh hình vẫn có vai trò
quan trọng; nó không chỉ minh hoạ cho kênh chữ, mà còn là nguồn cung cấp kiến
thức và rèn luyện kĩ năng cho HS. Trong giờ dạy Lịch sử, có những giáo viên
không hiểu kênh hình nên không khai thác được kênh hình với đúng vai trò của
nó mà chỉ đưa ra như một sự minh hoạ đơn thuần. Kênh hình trong sách giáo khoa
của phân môn Lịch sử hiện nay nhiều, phong phú, màu sắc và trình bày đẹp, ngoài
tính minh hoạ mỗi bức tranh, bức ảnh còn hàm chứa những thông tin lịch sử với
mức độ khác nhau phục vụ việc dạy và học đạt hiệu quả. Tôi phân loại kênh hình
trong sách giáo khoa phân môn Lịch sử lớp 4 như sau:
- Loại thứ nhất là bản đồ, lược đồ: Chủ yếu được bố trí ở loại bài về các
cuộc khởi nghĩa, các chiến dịch, các trận đánh nhằm giúp học sinh hiểu được vị trí
của cuộc khởi nghĩa, chiến dịch, trận đánh… cách bố trí lực lượng hai bên và diễn
biến của cuộc khởi nghĩa, chiến dịch, trận đánh… Khi khai thác lược đồ giáo viên
phải giúp học sinh hiểu được ý nghĩa sâu xa của cách chọn vị trí trận địa, việc bố
phòng và hướng tấn công của hai bên qua đó làm nổi bật âm mưu của địch, sự
mưu lược và nghệ thuật quân sự tài tình của những vị tướng chỉ huy trận đánh
cũng như tinh thần chiến đấu dũng cảm của ta từ đó giáo dục lòng yêu nước, tinh
thần tự hào dân tộc cho các em.
Ví dụ ở bài: “Nước Đại Việt thời Lý (từ năm 1009 đến năm 1226) khi
hướng dẫn trên lược đồ người giáo viên không dừng lại ở mức độ chỉ cho học
sinh thấy các hướng tấn công của địch và cách chọn vị trí tiêu diệt địch của ta một
cách đơn thuần mà còn phải giúp các em phân tích để thấy âm mưu thâm độc của
địch và bằng nghệ thuật quân sự tài tình Lý Thường Kiệt đã đập tan âm mưu của
chúng. Thông qua lược đồ HS tường thuật lại diễn biến của trận đánh trên sông
Như Nguyệt.
Phạm Thị Thúy Lan -8- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
Lược đồ trận chiến tại phòng tuyến sông Như Nguyệt
- Loại kênh hình thứ hai là tranh, ảnh tư liệu: Đó là tranh ảnh về các cuộc
khởi nghĩa, các cuộc biểu tình, về tình hình chính trị, kinh tế xã hội và đời sống
của nhân dân, về các thành tựu kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật…của mỗi triều
đại ứng với mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Đối với loại bài này người giáo viên
phải am hiểu đầy đủ về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, khoa học,
kỹ thuật của mỗi thời kỳ mới có thể hiểu và khai thác tốt kênh hình phục vụ việc
giảng dạy đạt hiệu quả cao. Việc khai thác tranh ảnh thể hiện các thành tựu văn
hoá như điêu khắc, kiến trúc, các giá trị văn hoá phi vật thể là khó khăn hơn cả
với người giáo viên vì đây là những lĩnh vực không dễ hiểu và càng không dễ
chuyển tải đến học sinh, nhất là học sinh tiểu học.Vì vậy giáo viên cần có sự đầu
tư sưu tầm tranh ảnh liên quan đến nội dung bài học, chuẩn bị chu đáo các tư liệu
về các giá trị văn hóa của các nhà nghiên cứu Lịch sử có ở trên sách báo và trên
các trang mạng. Tất nhiên khi diễn đạt ý này cho học sinh tiểu học phải bằng thứ
ngôn ngữ và cách diễn đạt phù hợp với nhận thức của các em, đặc biệt phải bằng
các hình ảnh tư liệu trực quan.
Ví dụ: Khi dạy bài “Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê” tôi cho
HS quan sát tranh, ảnh về văn miếu Quốc Tử giám, các tấm bia tiến sĩ trong văn
miếu để HS hiểu hơn về trường học và việc tổ chức thi cử ở thời Hậu Lê.
Phạm Thị Thúy Lan -9- TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
Văn Miếu Quốc Tử Giám
Bia tiến sĩ trong Văn Miếu
- Loại kênh hình thứ ba là ảnh chân dung nhân vật lịch sử: Đây là ảnh của
các nhân vật lịch sử trong loại bài dạy về nhân vật lịch sử. Số bài dạy về các nhân
vật lịch sử tiêu biểu trong chương trình Lịch sử lớp 4 không nhiều. Cái mới của
loại bài này so với chương trình cũ là dạy nhân vật lịch sử thông qua và gắn liền
với sự kiện lịch sử chứ không thuần tuý kể về nhân vật lịch sử như trong chương
trình cũ. Vì vậy, việc khai thác ảnh chân dung của nhân vật phục vụ bài dạy phải
đảm bảo nguyên tắc: Làm nổi bật tư chất, nhân cách nhân vật nhưng không quá xa
Phạm Thị Thúy Lan - 10 - TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
đà, không tách rời nhân vật lịch sử ra khỏi mối quan hệ với thời đại của nhân vật
và sự kiện lịch sử mà nhân vật có vai trò quyết định.
Ví dụ khi dạy một số bài: “Trường học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê (giới
thiệu chân dung nhân vật Nguyễn Trãi), Phong trào Tây Sơn và vương triều Tây
Sơn (giới thiệu anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung). Đây là những bài gắn với
sự kiện và giai đoạn lịch sử với sự xuất hiện của các nhân vật Lịch sử tiêu biểu, vì
vậy giáo viên cần sử dụng triệt để các hình ảnh, chân dung các nhân vật lịch sử và
có sự so sánh vai trò của họ ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau.
Nguyễn Trãi
b.3.Vận dụng các kiến thức Văn học vào dạy Lịch sử
Việc vận dụng một cách hợp lý kiến thức Văn học vào dạy Lịch sử sẽ làm
cho giờ Lịch sử hay hơn, sinh động hơn, hấp dẫn hơn, cuốn hút học sinh hơn và
cuối cùng là làm cho tiết dạy - học Lịch sử mang lại hiệu quả cao hơn. Thường là
việc người giáo viên đọc những trích đoạn thơ, văn về nhân vật lịch sử, sự kiện
lịch sử ở phần giới thiệu bài học, phần củng cố, liên hệ, cũng có khi là cả trong
phần chính của bài.
Ví dụ khi dạy về “ Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng” Sau khi kể nguyên nhân
Hai Bà Trưng nổi dậy khởi nghĩa tôi đọc cho học sinh nghe 1 số câu thơ: “Giận
thay Tô Định bạo tàn. Nay ta dấy nghĩa diệt loài sói lang ! Một xin rửa sạch nước
thù. Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng. Ba kẻo oan ức lòng chồng. Bốn xin vẻn
vẹn sở công lênh này”. Tôi cố gắng đọc thật truyền cảm, khi đọc với giọng căm
hờn, có lúc lại đọc với giọng quyết tâm tạo được sự tập trung chú ý của HS đồng
Phạm Thị Thúy Lan - 11 - TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
thời cũng giúp các em hiểu rõ hơn nguyên nhân nổ ra cuộc khởi nghia Hai Bà
Trưng.
Thường thì các anh hùng dân tộc và các sự kiện lịch sử hào hùng của ông
cha ta đều được phản ánh trong văn học nên rất dễ để người giáo viên lựa chọn
những câu thơ hay, những đoạn trích hay, phù hợp, trong các tác phẩm văn học
đưa vào bài giảng của mình, làm cho tiết dạy - học Lịch sử có được những hiệu
ứng mà một tiết dạy sử thông thường không thể đạt được. Mặt khác, các bài thơ
gắn với các sự kiên lịch sử giúp cho các em dễ nhớ các sự kiện lịch sử đã học vừa
bổ trợ thêm các kiến thức về văn học, cảm thụ văn học cho các em.
Ví dụ: khi dạy về cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ 2.
Trong khi kể cho HS nghe về diễn biến của trận chiến trên sông Như Nguyệt tôi
kết hợp đọc (hoặc ngâm) bài thơ: Sông núi nước Nam vua Nam ở, Rành rành định
phận ở sách trời, Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Tôi thấy HS như bị cuốn hút vào bài giảng của tôi, các em chăm chú lắng nghe và
nhớ kiến thức lâu hơn.
b.4. Chia các bài học thành các dạng bài cơ bản và đưa ra phương pháp
dạy học đặc trưng cho các dạng bài đó
* Dạng thứ nhất: Dạng bài về thành tựu kinh tế – chính trị, văn hoá - xã hội.
Nội dung chính:
- Hoàn cảnh ra đời của thành tựu đó.
- Vài nét tiêu biểu của thành tựu.
- Giá trị thực tiễn của thành tựu.
- Kết quả, ý nghĩa của thành tựu.
Gồm các bài dạy: Nước Đại Việt thời Lý, Nước Đại Việt thời Trần, Trường
học, văn thơ, khoa học thời Hậu Lê. Trịnh - Nguyễn phân tranh. Công cuộc khẩn
hoang và sự phát triển của thành thị.
Vấn đề cần lưu ý: Phải mô tả được tình hình nước ta như thế nào, tình cảnh
đất nước, quan lại, chính quyền, cuộc sống nhân dân. Trong tình cảnh đó, chính
quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào và kết quả của
những việc làm đó.
Phương pháp dạy học đặc trưng cho dạng bài này là: Kể chuyện, vấn đáp,
tìm tòi, thảo luận nhóm, sử dụng đồ dùng dạy học.
Ví dụ: Bài “Trịnh – Nguyễn phân tranh. Công cuộc khẩn hoang và sự phát
triển của thành thị.” Để các em mô tả đúng ba thành thị lớn của nước ta thế kỉ
XVI – XVII. Tôi đưa ra bài tập sau:
Điền các thông tin vào bảng dưới đây:
Đặc điểm Dân cư Quy mô thành thị Hoạt động
Thành thị buôn bán
Thăng Long
Phố Hiến
Hội An
Phạm Thị Thúy Lan - 12 - TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
Tôi tiến hành theo các bước sau:
- Trước hết tôi yêu cầu học sinh đọc kênh chữ SGK, kết hợp quan sát các
tranh về ba thành thị này, thảo luận nhóm 4 hoàn thành bảng thống kê trên
- Tôi yêu cầu mỗi nhóm mô tả về một thành thị.
- Nhận xét, tuyên dương nhóm mô tả đúng, đầy đủ.
Cách học này giúp các em mô tả đúng về thành thị và ghi nhớ kiến thức đã
học.
* Dạng thứ hai: Dạng bài về nhân vật lịch sử.
Nội dung chính:
- Nhân vật lịch sử nảy sinh trong hoàn cảnh lịch sử như thế nào?
- Hoàn cảnh cụ thể của nhân vật (tên, nơi sống, nguyện vọng )
- Suy nghĩ, hành động cụ thể của nhân vật
- Những đóng góp của nhân vật.
Gồm các bài dạy: “Hơn một nghìn năm đấu tranh giành độc lập, Buổi đầu
độc lập, Nước Đại Việt thời Lý, Nhà Hồ, Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt
buổi đầu thời Hậu Lê, Phong trào Tây Sơn và vương triều Tây Sơn.
Vấn đề cần lưu ý: Ở dạng bài này GV cần khai thác tốt hình ảnh (tranh vẽ
hoặc chân dung) nhân vật lịch sử. Cho HS biết nhân vật lịch sử là người như thế
nào? (sinh năm nào, ở đâu, làm gì, có đặc điểm tính cách gì nổi bật, đời sống nội
tâm, tư tưởng, tình cảm thế nào, tài năng đức độ ra sao? Có những cống hiến to
lớn gì cho đất nước?) Qua đó GV tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ
cho HS về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử.
Phương pháp dạy học đặc trưng cho dạng bài này là: Kể chuyện, sắm vai
GV yêu cầu học sinh sưu tầm tranh, ảnh hoặc tư liệu về cuộc sống và sự
nghiệp của nhân vật lịch sử đó. Kết hợp đọc SGK trước ở nhà để nắm được nội
dung bài mới về cuộc sống và sự nghiệp của nhân vật lịch sử trước khi đến lớp.
Trước khi nhắc đến nhân vật lịch sử nào đó, GV cần cung cấp thông tin để HS
biết được những nét sơ lược về bối cảnh lịch sử (không gian, thời gian) mà nhân
vật hoạt động. Sau đó cho học sinh tự trình bày hiểu biết của mình về nhân vật
lịch sử đó. Đối với những bài học trong đó có các nhân vật có những câu nói nổi
tiếng thể hiện phẩm chất cao quý của nhân vật có thể cho HS đóng vai để diễn lại.
Ví dụ: Để giới thiệu về Ngô Quyền tôi yêu cầu HS sưu tầm tranh ảnh về nhân
vật này (tôi dặn HS chuẩn bị trước), kết hợp đọc thông tin SGK, kể những điều
em biết về Ngô Quyền: Ngô Quyền quê ở xã Đường Lâm (thị xã Sơn Tây, Hà
Nội). Ông là người có tài nên được Dương Đình Nghệ gả con gái cho…
* Dạng thứ 3: Dạng bài về các cuộc khởi nghĩa, các trận đánh.
Nội dung chính:
- Nguyên nhân diễn ra cuộc khởi nghĩa.
- Diễn biến của cuộc khởi nghĩa.
- Kết qủa, ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa đó.
Phạm Thị Thúy Lan - 13 - TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
Gồm các bài dạy: “Hơn một nghìn năm đấu tranh giành độc lập (Khởi
nghĩa Hai Bà Trưng, Trận Bạch Đằng năm 938), Buổi đầu độc lập (cuộc kháng
chiến chống quân Tống), Nước Đại Việt thời Lý (cuộc kháng chiến chống quân
Tống lần 2), Nước Đại Việt thời Trần (cuộc kháng chiến chống quân Mông –
Nguyên), Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời kì Hậu Lê (trận
Chi Lăng), Phong trào Tây Sơn và vương triều Tây Sơn (Quang Trung đại phá
quân Thanh).
Vấn đề cần lưu ý: GV cần giúp HS khai thác tốt bản đồ, lược đồ, mô hình,
sa bàn,…về các cuộc khởi nghĩa, các trận đánh để các em hiểu được vì sao lại
diễn ra cuộc khởi nghĩa đó, ai là người chỉ huy trong trận đánh đó, kết quả ra sao
và cuộc khởi nghĩa đó có ý nghĩa gì.
Phương pháp dạy học đặc trưng cho dạng bài này là: Kể chuyện, quan sát,
thảo luận nhóm, vấn đáp, tường thuật.
Ví dụ: Khi dạy Chiến thắng Bạch Đằng năm 938. Tôi cho HS kể những
điều em biết về Ngô Quyền, sau khi HS kể xong tôi hỏi: Nguyên nhân nào diễn ra
trận Bạch Đằng năm 938? (HS trả lời dựa vào phần thông tin đã đọc và nghe bạn
kể). Hay các em muốn biết diễn biến của trận Bạch Đằng, thì các em phải đọc
thầm kênh chữ trong SGK và kết hợp quan sát tranh minh họa.
Lược đồ trận Bạch Đằng năm 938
Phạm Thị Thúy Lan - 14 - TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
Trận Bạch Đằng năm 938 (trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Sau đó từng nhóm HS sẽ thảo luận nội dung trong phiếu học tập như sau:
Câu hỏi Trả lời
1. Lực lượng quân giặc như thế nào?
2. Tướng giặc do ai chỉ huy ?
3. Ngô Quyền dùng kế gì để đánh giặc ?
4. Thuật lại diễn biến của trận Bạch Đằng
5. Kết quả
Sau khi làm xong, các nhóm dựa vào kết quả thảo luận báo cáo kết quả làm
việc của nhóm. Tôi chọn 1-2 nhóm làm tốt thi đua thuật lại diễn biến của trận
Bạch Đằng năm 938. Cách làm này giúp HS ghi nhớ bài tốt hơn.
Hoặc khi dạy bài 7: “Chiến thắng Chi Lăng và nước Đại Việt buổi đầu thời
kì Hậu Lê”, để giúp học sinh trình bày tóm tắt được diễn biến trận Chi Lăng, tôi
xây dựng nội dung như sau:
Hãy sắp xếp các câu sau theo thứ tự thích hợp về diễn biến trận Chi Lăng.
a. Kị binh ta nghênh chiến rồi giả vờ thua để nhử quân kị binh của địch vào
ải.
b. Liễu Thăng bị giết chết, quân bộ theo sau cũng bị phục binh của ta tấn
công.
c. Đạo quân của địch do Liễu Thăng cầm đầu đến cửa ải Chi Lăng.
d. Khi quân địch vào ải, từ hai bên sườn núi quân ta bắn tên và phóng lao vào kẻ
thù.
Phạm Thị Thúy Lan - 15 - TH Lý Tự Trọng
SKKN: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp 4
e. Hàng vạn quân Minh bị chết, số còn lại rút chạy.
Tôi tiến hành như sau:
- Tôi yêu cầu học sinh đọc kênh chữ SGK kết hợp quan sát lược đồ, thảo
luận nhóm 4 và hoàn thành phiếu bài tập sắp xếp các câu trên theo thứ tự thích
hợp diễn biến trận Chi Lăng,
- Các nhóm báo cáo diễn biến trận Chi Lăng.
- Một số em trình bày tốt thuật lại diễn biến cuộc kháng chiến, vừa trình
bày vừa chỉ lược đồ.
- Nhận xét, tuyên dương những em trình bày tốt.
b.5. Phát huy tính tích cực của HS
Sẽ là thiếu sót nếu như không nhắc đến vai trò quan trọng của HS bởi GV
có chuẩn bị bài tốt đến cỡ nào, có dạy hay, dạy giỏi đến bao nhiêu mà học sinh
không chú ý, không tự giác, tích cực, chủ động trong học tập thì sẽ không chiếm
lĩnh được kiến thức và chắc chắn tiết dạy đó sẽ không thành công. Chính vì vậy
tôi đặc biệt chú ý trong việc hướng dẫn HS học tập bằng cách phát huy tính tích
cực của các em.
Việc phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh có vai trò quan
trọng trong quá trình dạy học, đó là việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm, đòi
hỏi ở người học sinh phải độc lập, tự giác, tự tin, chủ động, trở thành chủ thể của
hoạt động học tập. Trong đó thầy, cô giáo đóng vai trò là người tổ chức, hướng
dẫn, gợi mở các hoạt động của học sinh. Thông qua hoạt động học, mỗi học sinh
đều có cơ hội được bộc lộ mình và đều có cơ hội phát triển.
* Phát huy tính tích cực của học sinh trong kĩ năng đọc và phân tích tư
liệu
Để học sinh dễ hiểu, dễ nắm được những sự kiện, thời gian lịch sử, cần rèn
cho học sinh kĩ năng đọc và phân tích tư liệu. Các câu lệnh trong sách Hưỡng dẫn
học đã được in nghiêng rất đễ thấy, tôi dựa vào các yêu cầu đó để hướng dẫn học
sinh thực hiện các hoạt động, có thể chuẩn bị thêm hệ thống câu hỏi phù hợp, vừa
sức giúp cho các em phát huy khả năng nói, hạn chế tối đa việc học thuộc lòng và
ghi nhớ máy móc.
Ví dụ: bài “Buổi đầu độc lập (từ năm 938 đến năm 1009)”. Để biết được
tình hình nước ta sau khi Ngô Quyền mất, các em đọc thầm đoạn văn trong SGK
nắm chắc nội dung kênh chữ sau đó trao đổi cặp đôi để trả lời câu hỏi: Sau khi
Ngô Quyền mất tình hình nước ta như thế nào ? (Sau khi Ngô Quyền mất triều
đình lục đục, tranh nhau ngai vàng, các thế lực cát cứ địa phương nổi dậy, chia cắt
đất nước thành 12 vùng,…).
* Phát huy tính tích cực của học sinh trong kĩ năng quan sát và kể, trình
bày lại diễn biến cuộc kháng chiến qua bản đồ, lược đồ, …
Qua 2 bài đầu của môn Lịch sử - Địa lí tôi đã hướng dẫn cho các em kĩ
năng quan sát, chỉ, mô tả, kể những sự kiện lịch sử trên bản đồ, lược đồ. Vì vậy,
một số bài có bản đồ, lược đồ, tôi sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, để cho học sinh
Phạm Thị Thúy Lan - 16 - TH Lý Tự Trọng