Skkn “kinh nghiệm dạy học môn toán theo mô hình trường học mới vnen cho lớp 5”

  • 14 trang
  • file .doc
A . PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài:
Trong thời đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển
kéo rất nhiều thứ thay đổi trong đó có giáo dục.Giáo dục là bước then chốt tác động
đến mọi mặt xã hội. việc thay đổi hình thức giáo dục để tạo ra một lớp người mới
năng động, tự tin, làm chủ chính mình, biết hợp tác là một xu thế tất yếu.
Trên thế giới việc thay đổi phương thức giáo dục đã diễn ra từ lâu đã mang lại
nhiều thành công. Hình thức giáo dục mới này chuyển từ cách dạy học truyền thống
thầy dạy trò nghe, ghi chép thụ động sang hình thức giáo dục hiện đại trò làm việc trải
nghiệm chiếm lĩnh kiến thức, thầy quan sát giúp đỡ. Nổi bật ở hình thức dạy học này
còn là cách tồ chức chỗ ngồi, học sinh được ngồi theo nhóm, được tự do thảo luận đưa
ra ý kiến của mình.
Về tới Việt Nam mô hình dạy học mới này có tên gọi VNEN hay mô hình
trường tiểu học mới Việt Nam. Mô hình này coi quá trình tự học của học sinh là trung
tâm hoạt động giáo dục, giáo viên là người hướng dẫn, đồng hành với học sinh, giúp
học sinh tự tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức.Trải qua gần 2 năm dạy thực nghiệm tôi
nhận thấy không những phụ huynh mà còn nhiều giáo viên vẫn bỡ ngỡ chưa hiểu rõ
bản chất của việc dạy học này.Và đặc biệt rất khó khăn trong quá trình tổ chức dạy
học môn toán. Môn toán là môn học đặc trưng chiếm thời lượng nhiều trong tất cả các
giờ học. Môn toán đòi hỏi tư duy logic và sự tập trung cao độ.Học sinh gặp nhiều khó
khăn trong quá trình trải nghiệm, thực hành, chiếm lĩnh kiến thức. Xuất phát từ thực
tế này và với mong muốn nâng cao chất lượng dạy học môn toán cho học sinh tiểu
học tôi chọn sáng kiến: “Kinh nghiệm dạy học môn toán theo mô hình trường học
mới VNEN cho lớp 5”
I.2. Điểm mới của đề tài.
Dạy học theo mô hình VNEN thực ra bản chất chính là cách thức dạy học theo
nhóm. Đây là mô hình giáo dục tiên tiến, hiện đại đã được áp dụng thành công ở
nhiều quốc gia trên thế giới và phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục nước ta.Các
phòng học được trang trí sinh động.Có các góc cho môn học với đồ dùng sẵn có hoặc
tự làm để học sinh hoạt động. Dạy học môn toán theo mô hình VNEN là việc dạy lấy
học sinh làm trung tâm, trong quá trình hoạt động học sinh được tương tác, được đề
xuất phương án, được phỏng vấn, được hỗ trợ từ các thành viên, từ giáo viên. Chuyển
từ việc truyền thụ giảng giải của giáo viên thành hoạt động tổ chức học sinh tự học
của học sinh. Mọi hoạt động trong giờ học do hội đồng tự quản điều hành các hoạt
động được tổ chức theo các hình thức: làm việc cá nhân, làm việc theo cặp, làm việc
nhóm, làm việc cả lớp trong đó ở hoạt động cơ bản hoạt động nhóm là chủ yếu, còn ở
hoạt động thực hành học sinh thực hiện cá nhân để phát huy tính độc lập. Học sinh
được học trong môi trường học tập thân thiện, thoải mái, không bị gò bó, luôn được
1
gần gũi với bạn bè, với thầy cô, được sự giúp đỡ của bạn học trong lớp, trong nhóm
và thầy cô, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em. học sinh khá giỏi được phát huy,
học sinh còn hạn chế, yếu kém được học sinh của nhóm và giáo viên giúp đỡ kịp thời
ngay tại lớp.
Trong quá trình dạy học môn toán học sinh sẽ được tương tác nhiều với nhau,
được hỏi bạn, được giúp bạn.trong quá trình đó học sinh rút ra được bài học, khắc sâu
củng cố, ghi nhớ lâu hơn, không bị áp lực. Học sinh được mạnh dạn đưa ra ý kiến của
mình và bảo vệ ý kiến của mình.Mỗi thành viên luôn có ý thức làm việc không ỷ lại
vào bạn, bởi mỗi thành viên trong nhóm đều có nhiệm vụ riêng góp phần vào tiến độ
làm việc của nhóm.Khác với hình thức hoạt động nhóm trong phương pháp truyền
thống là học sinh được làm việc trong thời gian nhất định và công việc hầu như học
sinh khá giỏi trong nhóm làm hết, còn học sinh trung bình, yếu không tham gia vào
hoạt động hoặc tham gia ít.
II. PHẦN NỘI DUNG
2. 1. Thực trạng.
Về phía giáo viên: Trước khi chuẩn bị thay sách, giáo viên chúng tôi đều được nhà
trường tổ chức tập huấn phương pháp dạy học theo mô hình trường học kiểu mới (mô
hình VNEN) để vận dụng trong quá trình giảng dạy. Thời gian đầu, mặc dù đã có sách
hướng dẫn học tập cụ thể tuy nhiên trong thời gian đầu, việc vận dụng còn rất bất cập,
lúng túng đặc biệt là đối với những giáo viên đang dạy theo sách giáo khoa chương
trình hiện hành lớp 5. Khi sử dụng mô hình này còn bị hạn chế bởi không gian chật
hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định cho một tiết học, giáo viên phải mất nhiều
thời gian chuẩn bị đồ dùng và thiết kế nhiệm vụ cho nhóm. Do vậy giáo viên ngại đổi
mới, ngại dạy học theo mô hình. Đôi khi giáo viên còn tổ chức hoạt đô nô g nhóm mang
tính hình thức, chưa quan tâm sâu sát đến từng đối tượng học sinh trong khi các em
học nhóm, nhất là học sinh yếu. Chưa tổ chức các hoạt động phù hợp với từng nhóm,
từng học sinh một cách cụ thể dẫn đến kết quả chưa cao. Bên cạnh đó một số giáo
viên tổ chức các hoạt động dạy học còn mang tính rập khuôn chưa có tính chủ động
sáng tạo.
Về phía học sinh: Trong hai năm học này học sinh khối 5 được học theo mô hình
trường tiểu học mới. Các em luôn thực hiện theo 10 bước học tập, học theo nhóm là
chính nên học sinh tự giác, mạnh dạn, biết chia sẽ, phát huy được tính năng động sáng
tạo. Nhờ đó mà trong những giờ ngoại khóa, tiết học thực hành…chúng tôi hướng dẫn
2
các em quan sát mô hình học tập ở các khối chọn làm thí điểm này nhiều học sinh đã
có ý thức tự giác, mạnh dạn hơn trước, biết chia sẽ, biết cách tổ chức trong học nhóm
và bước đầu thực hiện được các bước học tập theo mô hình mới. Thế nhưng trong quá
trình giảng dạy tôi thấy nhiều học sinh từ trước không được làm quen với cách học
này nên có phần bỡ ngỡ. Một số học sinh năng lực chỉ đạo nhóm còn hạn chế thường
e dè, chưa mạnh dạn, thiếu tự tin năng lực chỉ đạo chưa quen, chưa thành thạo 10
bước học tập. Bên cạnh đó tài liệu Hướng dẫn học tập không có còn phụ thuộc vào
cuốn sách hiện hành bởi vậy còn gặp nhiều khó khăn nhất định. Một số học sinh còn
hiếu động chưa có lòng kiên trì và quyết tâm cao, thấy khó là các em lùi bước vì khả
năng phân tích, tổng hợp đề toán kém. Hạn chế trong việc tìm ra mối quan hệ giữa các
dữ kiện của bài toán, tóm tắt bài toán thiếu chính xác. Học sinh khá giỏi thì chưa có
thói quen tìm nhiều cách giải khác cho một bài toán. Một số em do kĩ năng tính toán
hoặc giải toán còn hạn chế nên rất sợ học vì vậy việc dạy toán bên cạnh những thành
công vẫn còn nhiều hạn chế.
2.2. Các giải pháp.
Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi nhận thấy việc dạy học theo mô hình
dạy học truyền thống đâu tiên là việc sắp xếp chỗ ngồi. Học sinh được ngồi theo dãy
theo hàng, theo bàn, 2 học sinh ngồi 1 bàn, tất cả cùng nhìn lên bảng, nghe giáo viên
truyền thụ kiến thức. Với cách học này thì thời gian truyền tải kiến thức sẽ được chủ
động, kiến thức sẽ được truyền thụ đầy đủ trong 1 thời gian nhất định tuy nhiên học
sinh ít được hoạt động hơn đặc biệt là làm việc theo nhóm lớn. Với môn toán luôn cần
có sự trao đổi, so sánh, khẳng định chân lý .Quá trình làm việc như vậy sẽ giúp học
sinh nhận biết chân lý nhanh hơn, ghi nhớ lâu hơn, đưa ra phương án, cách làm tối ưu
nhất. Ở chương trình cũ người học không biết bài hôm nay cần học những gì, đích đến
ở đâu. Chỉ sau khi tiết học kết thúc hoặc sau phần lý thuyết học sinh mới biết mình
đang tìm hiểu nội dung gì. Vì vậy đã làm giảm, hạn chế tư duy của học sinh.
Ở hình thức dạy học mới đã khắc phục được nhược điểm của hình thức dạy học
cũ. Thứ nhất là học sinh được làm việc theo nhóm, hoạt động theo nhóm có thể trao
đổi bài với bạn ngay trong giờ học. với cách viết sách mới thì học sinh được biết mục
tiêu của bài học, biết mình cần đạt được điều gì sau bài học như vậy sẽ kích thích học
sinh học tập mạnh dạn hơn, tư duy chủ động, sáng tạo hơn. Cách viết sách mới giúp
học sinh tự học dễ dàng hơn, hiểu bài đơn giản hơn so với sách cũ trừu tượng.Có thể
nói sách giáo khoa cũ là sách dành cho giáo viên giảng dạy còn để tự học sinh làm
3
việc là rất khó. Với hình thức dạy học mới giáo viên không phải nặng về giáo án
nhưng nếu không tìm hiểu bài trước khi lên lớp thì có thể gặp nhiều tình huống khó
xử nếu kiến thức không vững bởi môn toán lớp 5 không dễ, có rất nhiều bài toán trừu
tượng. Trong quá trình dạy học môn toán theo chương trình VNEN nếu giáo viên
không quan sát rộng, không chú ý đến những học sinh yếu, không chuẩn bị đồ dùng
chu đáo thì hiệu quả tiết học rất thấp, học sinh yếu sẽ rất yếu do bị lệ thuộc vào học
sinh khá giỏi dẫn đến hiệu quả tiết học thấp.
2.2.1. Hình thức tổ chức dạy môn toán
Cũng giống hình thức tổ chức dạy học các môn khác đặc trưng dễ nhận biết đầu
tiên là việc sắp xếp chỗ ngồi. Học sinh được bố trí ngồi theo nhóm tùy vào điều kiện
lớp học rộng hẹp, số lượng học sinh nhiều hay ít mà sắp xếp học sinh ngồi theo nhóm
4 người hoặc nhóm 6 người, không nên sắp xếp nhóm có 3 người hay 5 người. Một
nhóm cũng không nên sắp sếp quá 6 người.
Trong lớp nếu trình độ của học sinh tương đối đồng đều nhau thì ta nên sếp
theo nhóm ngẫu nhiên khi đó các thành viên trong nhóm có điều kiện học tập giúp đỡ
nhau hoàn thành bài học tốt hơn, tinh thần thi đua trong nhóm sẽ được khơi dậy. Học
sinh nhận thức nhanh hơn có thể giúp đỡ bạn nhận thức chậm hơn tiến trình tiết học
diễn ra nhanh hơn.Khi đó giáo viên có thời gian để mở rộng, khắc sâu kiến thức cho
cả lớp.
Lớp học có trình độ học sinh không đồng đều tùy thuộc vào mục đích dạy học
của mỗi giáo viên có thể sắp xếp nhóm theo trình độ. Tức là nhóm học sinh nhận thức
nhanh ngồi với nhau, nhóm học sinh nhận thức chậm hơn ngồi với nhau.Nhóm học
sinh nhận thức nhanh có thể tự trải nghiệm chiếm lĩnh kiến thức nhanh hơn có thời
gian để nâng cao kiến thức, giải toán nâng cao. Nhóm học sinh nhận thức chậm hơn
được làm việc với nhau sẽ không còn sự ỷ lại, học sinh tự giác học tập hơn thi đua
nhau cùng tiến bộ và được giáo viên hỗ trợ nhiều hơn thì nhóm học sinh này sẽ nhận
thức kịp với tiến độ chương trình, đạt được mục tiêu của bài học. Với cách tổ chức
này tôi thường tổ chức vào buổi học thứ hai hoặc vào những buổi học nâng cao năng
lực học sinh.
Lớp học có từ hai thành phần dân tộc trở nên do ngôn ngữ Tiếng Việt của học
sinh còn hạn chế, có học sinh chưa hiểu hết nghĩa của bài toán trong khi tiếng dân tộc
của giáo viên còn hạn chế thì có thể sắp xếp nhóm theo thành phần dân tộc. Được
ngồi cùng nhau những nhóm học sinh này dễ giải thích thảo luận với nhau, ít mặc cảm
từ đó giúp quá trình học tập đạt hiệu quả hơn.Với cách chia nhóm này tôi cũng
thường sử dụng vào buổi học thứ hai.
Có nhiều cách tổ chức lớp học nhưng để hiệu quả thì có 3 cách tổ chức lớp học
như trên.
4
Trong quá trình tổ chức như vậy vai trò của giáo viên hết sức quan trọng tiết
học có thành công hay không chính là khâu tổ chức của giáo viên. Giáo viên là người
gợi động cơ, tạo hứng thú, cho học sinh trải nghiệm dựa vào vốn kiến thức sẵn có của
học sinh trước tiết học mới.Giáo viên là người hướng dẫn giúp đỡ học sinh khi học
sinh gặp khó khăn.Động viên khuyến khích các em làm các em tự tin vào bản thân,
phát huy được hết năng lực, sở trường của mình. Người giáo viên đóng vai trò là
người đánh giá chính quá trình chiếm lĩnh kiến thức hướng các em đến đáp án tối ưu
nhất. Đồng thời cũng là người chốt lại kiến thức cơ bản của bài để các em không xa
rời mục tiêu của bài.
Để giúp đỡ được học sinh kịp thời trong tiết học thì vị trí đứng của giáo viên
cũng rất quan trọng. Giáo viên cần chọn vị trí phù hợp sao cho vừa giúp đỡ được
nhóm này đồng thời vẫn quan sát được nhóm khác hoạt động, tránh tình trạng trong
khi giáo viên đi giúp đỡ nhóm này thì nhóm khác không hoạt động hoặc hoạt động
xong rồi ngồi chơi, giáo viên cần phát hiện và kịp thời cho học sinh chuyển sang hoạt
động khác. Theo tôi các nhóm cần được bố trí sao cho giáo viên có thể đi lại thuận
tiện xung quanh và các học sinh nhận thức chậm sẽ được bố trí ngồi ngoài để giáo
viên thuận tiện giúp đỡ và quan sát.
Sơ đồ tổ chức lớp học 30 học sinh mỗi nhóm 6 học sinh
B
ản
g
lớ
p
Vị trí giáo viên nên chọn trong quá trình quan sát giúp đỡ các nhóm
2.2. 2Cách thức tiếp nhận thông tin
Để quá trình tiếp nhận thông tin, chiếm lĩnh kiến thức đạt hiệu quả cần thực
hiện theo quy trình sau :
5
Gợi động cơ, tạo hứng thúHiểu được mục tiêu của bài học Tổ chức cho học
sinh trải nghiệmPhân tích, khám phá, rút ra kiến thức mới Thực hành Vận dụng.
- Gợi động cơ, tạo hứng thú: Khới dạy hứng thú của học sinh về chủ đề của bài
học; học sinh cảm thấy gần gũi với mình; tạo sự tò mò thích thú: có thể đặt câu hỏi;
đặt một tình huống; đố vui..
- Hiểu được mục tiêu bài học: Cho học sinh biết được đích cần phải đến của bài
học, tiết học. Không chỉ là việc đọc mục tiêu học sinh phải hiểu rõ từng chữ, từng từ
của mục tiêu từ đó học sinh sẽ hoạt động hiệu quả đúng hướng.
- Tổ chức cho học sinh trải nghiệm :Huy động vốn kiến thức của học sinh, học
sinh trải qua tình huống có vấn đề trong đó chứa đựng những nội dung kiến thức mới.
- Phân tích, khám phá, rút ra kiến thức mới : Dùng những câu hỏi gợi mở, câu
hỏi phân tích, đánh giá để giúp học sinh rút ra bài học. Có thể dùng hình thức thảo
luận cặp đôi, nhóm … kích thích trí tò mò sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện
của học sinh.
- Thực hành : Cho học sinh vận dụng những kiến thức vừa học để làm những
bài tập cơ bản. Giáo viên quan sát giúp đỡ học sinh nhận ra khó khăn của mình, nhấn
mạnh lại quy tắc, thao tác, cách thực hiện. Đồng thời giáo viên tiếp tục ra các bài tập
khó hơn phù hợp với khả năng của học sinh, tiếp tục giúp các em giải quyết khó khăn
bằng cách liên hệ với kiến thức cơ bản. Có thể giao bài cho cá nhân, hoặc theo
nhóm…
- Vận dụng : Giáo viên cần giúp học sinh thấy được ý nghĩa thực tế của toán
học từ đó khắc sâu kiến thức. Khuyến khích học sinh diễn đạt theo ngôn ngữ cách
hiểu của chính các em. Khuyến khích học sinh tập phát biểu, diễn đạt có lí lẽ, có lập
luận logic.
Lưu ý: Trong quá trình giảng dạy để đạt hiệu quả cần vận dụng linh hoạt, mềm
dẻo không phải hoàn cảnh nào cũng vận dụng dầy đủ các bước trên.
Cơ bản trong mọi tình huống giáo viên cần chuẩn bị kiến thức, nhiệt tình với
học sinh, nghiêm túc trong dạy học, luôn động viên khuyến khích kịp thời, cần chú ý
quan tâm đến học sinh nhận thức chậm.
2.2.3. Cách ghi nhớ kiến thức
Ghi nhớ kiến thức rất quan trọng bởi trong môn toán kiến thức của bài sau
thường liên quan đến kiến thức bài trước.Không nhớ được kiến thức bài trước học
sinh không thể vận dụng vào hoạt động bài sau.Đặc biệt mô hình VNEN chủ yếu là
học sinh tự khám phá, chiếm lĩnh kiến thức. Để ghi nhớ hiệu quả cần làm như sau :
Việc học toán phải chú trọng vào tư duy phân tích hơn là học thuộc lòng đơn
thuần.
Ví dụ :Ghi nhớ cách đổi 1m2 = 100 dm2
6
Cho hs hiểu 1m2 là diện tích hình vuông có cạnh 1m, mà 1m = 10dm. Diện tích
hình vuông có cạnh 1m bằng diện tích hình vuông cạnh 10dm.
Diện tích hình vuông cạnh 10dm là: 10 10 = 100dm2
Vậy 1m2 = 100 dm2
1dm
1m
Tạo ấn tượng sẽ làm cho học sinh nhớ lâu
Ví dụ : Ghi nhớ được thứ tự của bảng đơn vị đo độ dài.
Km hm dam m dm cm m
Đây là 1 dãy kĩ tự mà học sinh không nhớ được thứ tự các đơn vị dẫn đến tình
trạng không thể đổi được đơn vị đo. Vậy cần tạo cho học sinh 1 ấn tượng về bảng đơn
vị đo. Có thể làm như sau:
Từ Km hm dam m dm m
Trở thành Không họcđể mà đi chăn mèo
Km hm dam m dm cm m
Không học để mà đi chăn mèo
Tức là gắn chữ cái đầu của mỗi đơn vị với 1 từ và tạo thành một câu ấn tượng. Câu
này đọc thì vô lý nhưng học sinh rất ấn tượng vì vậy chắc chắn học sinh sẽ không bao
giờ quên bảng đơn vị đo độ dài và sẽ không bị nhầm lẫn khi đổi.
Và một cách ghi nhớ nữa là dựa vào sơ đồ tư duy của bộ não: sơ đồ này giống
như một cái cây có 1 gốc và nhiều cành nhánh, mỗi cành nhánh là một mảng kiến
thức, công thức giúp học sinh hệ thống lại kiến thức theo cách lôgic
Ví dụ: S=axa
Hình vuông
7
p=ax4
S=axb
Hình chữ nhật
p = (a +b)x2
Hình học Hình tam giác S=axh:2
p=a+b+c
Hình thang
S = (a + b) x h : 2
p=a+b+c+d
Trên đây là ví dụ về sơ đồ tư duy tùy vào bài cụ thể mà có các sơ đồ khác
nhau.Cũng có thể dùng sơ đồ tư duy để chốt lại kiến thức bài học.
VI. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Bài minh họa cho sáng kiến
* 1 Ví dụ 1
Bài 37: NHÂN MỘT SỐ THẬP PHÂN VỚI MỘT SỐ THẬP PHÂN
Mục tiêu
Cho học sinh đọc mục tiêu bài học, nhắc lại với bạn về những việc mình cần
đạt được sau bài học.
A. Hoạt động cơ bản
1. Học sinh làm việc theo nhóm khám phá cách nhân hai số thập phân.
Học sinh cùng bạn cùng đọc kĩ bài toán
a) Một mảnh vườn hình chữ nhật có chiều dài là 9,8m, chiều rộng là 5,3m. Tính
diện tích mảnh vườn đó.
b) Em hỏi để bạn trả lời
Để tính diện tích mảnh vườn đó ta làm thế nào? Thực hiện phép tính gì?
c) Em và bạn cùng đọc rồi giải thích cho nhau nghe dung sau:
Để tính 9,8  5,3 = ?, thông thường ta đặt tính rồi làm như sau :
9,8  Thực hiện phép nhân như nhân các số tự nhiên.
  Hai thừa số có tất cả hai chữ số ở phần thập
5,3 phân, ta dùng dấu phẩy tách ở tích ra hai chữ số kể từ
294 phải sang trái.
490
5 1,9 4
d) Đặt tính rồi tính : 25,8  1,4.
8
Giáo viên quan sát, giúp đỡ học sinh làm, chốt kiến thức trong nhóm cần lưu ý
lại cách nhân hai số thập phân. Đó là nhân giống như nhân các số tự nhiên, đếm xem
có tất cả bao nhiêu chữ số ở đằng sau dấu phẩy của hai thừa số thì tích sẽ có bấy nhiêu
chứ số đằng sau dấu phẩy. Bởi nhiều học sinh sẽ không hiểu hết nghĩa của phần đọc
thông tin.
HĐ 2 Làm việc cả lớp
a) Làm việc cá nhân nêu cách đặt tính và thực hiện phép tính 8,74  6,9.
Đổi vở trao đổi với bạn.
b) Em và bạn đọc rồi giải thích cho nhau nghe nội dung cách nhân hai số thập
phân.
Giáo viên thực hiện giảng trên lớp vì đây là phần kiến thức trọng tâm học sinh
cần hiểu rõ cách làm thế nào, đặt dấu phẩy ở đâu. “ Thực hiện nhân như nhân hai số
tự nhiên, hai thừa số có tất cả ba chữ số ở hàng thập phân thì tích cũng có ba chữ số ở
hàng thập phân. Dùng dấu phẩy tách tích ra ba chữ số kể từ phải sang trái. Vừa nói
giáo viên vừa chỉ trên bảng để tạo hình ảnh trực quan.
c) Học sinh thực hiện đặt tính rồi tính : 16,25  6,7
Thống nhất kết quả đúng, hướng dẫn bạn còn gặp khó khăn.
HĐ 3. Khắc sâu kiến thức
Làm việc cặp đôi cùng bạn đọc nội dung quy tắc cách nhân một số thập phân
với một số thập phân, nói với bạn cách nhân một số thập phân với một số thập phân,
lấy ví dụ minh họa.
B. Hoạt động thực hành
Cặp đôi
HĐ 1. Đặt tính rồi tính
Học sinh làm việc cá nhân, sau đó từng cặp đổi vở chữa bài cho nhau
a) 25,8  1,5 b) 16,25  6,7 c) 0,24  4,7 d) 7,826  4,5
HĐ 2 Hình thức tổ chức như HĐ 1, giáo viên quan, kiểm tra các nhóm làm
việc, hoặc trợ giúp nhóm, học sinh còn lúng túng.
a) Tính rồi so sánh giá trị của a  b và b  a
a b a b b a
2,36 4,2
3,05 2,7
b) Em và bạn đọc rồi giải thích cho nhau nghe nội dung :
Nhận xét
Phép nhân các số thập phân có tính chất giao hoán :
Khi đổi hai thừa số của một tích thì tích không thay đổi.
a b=b a
9
c) Em vận dụng viết ngay kêt quả tính:
4,34  3,6 = 15,624 9,04  16 = 144,64
3,6  4,34 = ............. 16  9,04 = ..............
HĐ 3 Thực hiện lần lượt các hoạt động sau.
a) Đặt tính rồi tính :
Các em hoạt động cá nhân, so sánh kết quả
142,57  0,1 531,75  0,01
b) Học sinh đọc theo cặp rồi giải thích cho nhau nghe nội dung :
Giải thích cho bạn tại sao khi nhân một số thập phân với 0,1 ; 0,01 ; 0,001... ta
không cần đặt tính mà chỉ việc dịch chuyển dấu phẩy sang bên trái một, hai, ba,.. chữ
số.
Giáo viên quan sát, giúp đỡ. Khắc sâu lại kiến thức trong nhóm, có thể giải
thích thêm nếu học sinh chưa hiểu.
c) Tính nhẩm.
Học sinh làm việc cá nhân đổi vở kiểm tra nhau.
HĐ 4 Viết các số đo dưới dạng số đo có đơn vị là ki-lô-mét vuông
Học sinh thực hiện cá nhân, làm xong báo cáo nhóm trưởng, nhóm trưởng kiểm
tra.
HĐ 5, HĐ6 Giải các bài toán sau :
Học sinh làm bài, đổi vở chữa bài cho nhau.
Đây là 2 bài toán có lời văn nếu trong lớp có nhiều học sinh gặp khó khăn chưa
làm được. Ta sẽ chuyển sang hoạt động lớp để đảm bảo học sinh kịp tiến độ chương
trình. Nhưng vẫn đảm bảo tính tích cực lấy học sinh làm trung tâm.
Học sinh báo kết quả những việc em đã làm.
Giáo viên có thể dùng sơ đồ tư duy như sau để củng cố lại kiến thức cho học
sinh.
Đếm số chữ số ở
Nhân như nhân phần thập phân của Đánh dấu phẩy ở
số tự nhiên hai thừa số tích
10
Nhân số thập
phân
Nhân số thập Đếm số chữ số ở
phân với 0,1 ; phần thập phân các Dịch dấu phẩy ở
0,01 ; 0,001... số 0,1 ; 0,01 ; tích
0,001...
C. Hoạt động ứng dụng
Các em đọc yêu cầu hoạt động ứng dụng, yêu cầu các em về nhà đo thực tế rồi
tính diện tích của nền căn phòng.
Giáo viên nhận xét và ghi nhận kết quả học tập của học sinh
Với bài học trên học sinh đã được làm việc theo đúng quy trình, trong bất cứ
hoạt động nào học đều được làm việc cá nhân trước khi hoạt động cặp đôi, hoạt động
nhóm, hoạt động cả lớp. Học sinh được được khắc sâu kiến thức qua sơ đồ tư duy
hoặc cũng có thể giáo viên gợi ý để học sinh tự vẽ sơ đồ kiến thức, như vậy học sinh
càng nhớ lâu hơn.
3. Phần kết luận:
3.1. Kết quả đạt được:
Với phương pháp dạy học theo mô hình VNEN tất cả học sinh trong lớp đều được
cùng nhau bàn bạc, hợp tác để giải quyết vấn đề. Đây là phương pháp dạy học dễ tổ
chức và áp dụng được cho tất cả các môn học trong chương trình tiểu học. Qua hoạt
động học tập học sinh biết cách trình bày ý kiến của mình với người khác, với tập thể,
làm cho các em trở nên tự giác, linh động, sáng tạo, mạnh dạn, tự tin hơn. Học sinh
biết nghe và lựa chọn để tiếp nhận hiểu biết của người khác để bổ sung vào vốn hiểu
biết của mình, đồng thời tập dượt cho các em vai trò chỉ đạo. Qua việc tổ chức hoạt
động học tập tôi thấy các em hứng thú, say sưa sôi nổi hơn trong học tập. Những học
sinh giỏi thực sự có điều kiện phát huy năng lực của mình. Còn những em trước đây
kĩ năng tính toán hạn chế, tiếp thu bài chậm, ít trao đổi, ít giơ tay phát biểu ý kiến thì
nay đã mạnh dạn hơn, tự tin hơn, sôi nổi hơn nhiều. Các em biết hợp tác, giúp đỡ,
giao tiếp học hỏi lẫn nhau, tự tìm tòi, tự phát hiện, tự chiếm lĩnh kiến thức. Các em
11