Skkn hướng dẫn học sinh kỹ năng vễ biểu đồ địa lí 9

  • 13 trang
  • file .doc
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Thực hành kỹ năng Địa lí trong đó có kỹ năng vẽ biểu đồ là một yêu cầu rất quan
trọng của việc học tập môn Địa lí. Vì vậy, các đề kiểm tra, đề thi học sinh giỏi môn Địa lí
đều có hai phần lí thuyết và phần thực hành. Trong đó phần thực hành thường có những
bài tập về vẽ và nhận xét biểu đồ chiếm khoảng 30 - 35% tổng số điểm.
Hiện nay trong chương trình đổi mới của sách giáo khoa Địa lí lớp 9 - gồm có 55 tiết
học thì đã có 10 tiết thực hành trong đó có 6 tiết về vẽ biểu đồ và có khoảng 13 bài tập về
rèn luyện kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ sau các bìa học của học sinh trong phần câu hỏi
và bài tập trong sách giáo khoa. Điều đó chứng tỏ rằng bộ môn Địa lí lớp 9 hiện nay
không chỉ chú trọng đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức lí thuyết mà còn
giúp các em rèn luyện những kỹ năng đại lí cần thiết, đặc biệt như kỹ năng vẽ biểu đồ.
Bởi thông qua biểu đồ các em đã thể hiện được mối liên hệ giữa những đối tượng địa lí đã
học, thấy được tình hình, xu hướng phát triển của các đối tượng địa lí. hoặc từ biểu đồ đã
vẽ các em cũng có thể phân tích, nhận xét, phát hiện tìm tòi thêm nội dung kiến thức mới
trên cơ sở kiến thức của bài học.
Nhưng trong thực tế hiện nay muốn thực hiện vấn đề này vẫn còn gặp không ít khó
khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau: các em học sinh xem là môn học phụ, nên thường
học vẹt, qua loa hay một cách máy móc, rập khuôn, không sáng tạo, thiếu sự quan tâm
của gia đình, cùng với phương tiện dạy học chưa đáp ứng đủ cho nên chưa kích thích học
tập của học sinh… từ đó làm cho chất lượng dạy học địa lí thiếu hiệu quả và chưa đạt kết
quả cao.
Tuy vậy, qua hơn 15 năm công tác trong dạy học bản thân tôi nhận thấy với nhiều em
học sinh lớp 9 hiện nay, kỹ năng vẽ biểu đồ, xử lí và phân tích số liệu còn rất yếu hoặc kỹ
năng này vẫn chưa được các em coi trọng. Chính vì vậy, bản thân tôi là một giáo viên
giảng dạy bộ môn Địa lí, tôi rất quan tâm đến việc củng cố, rèn luyện kỹ năng xử lí số
liệu và vẽ biểu đồ cho học sinh - để giúp các em thực hiện kỹ năng này ngày càng tốt hơn.
Chính vì những lí do trên tôi đã mạnh dạn đề cập một số sáng kiến trong việc “
Rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ và rút ra nhận xét cho học sinh lớp 9 trường THCS Lâm
Kiết”
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm hiểu việc rèn luyện kỹ năng xử lí, phân tích số liệu và vẽ biểu đồ cho học sinh
lớp 9 giúp cho giáo viên và học sinh có những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả giảng dạy và học tập môn Địa lí nói chung , đồng thời củng cố, nâng cao việc rèn
luyện kỹ năng xử lí, phân tích số liệu và vẽ biểu đồ cho học sinh nói riêng.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 9 trường THCS Lâm Kiết
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đối với đề tài này tôi sử dụng các phương pháp.
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: nhằm xây dựng cơ sở lí kuận cho đề tài.
Phương pháp quan sát: nhằm tìm hiểu việc rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ và rút ra
nhận xet của học sinh trong giờ học.
1
Phương pháp điều tra: nhằm đánh giá thực trạng có bao nhiêu học sinh còn yếu -
kém khi thực hành kỹ năng vẽ biểu đồ.
Phương pháp thực nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Thông qua kết quả các bài kiểm tra có thể đánh giá chất lượng và hiệu quả các bài
tập về kỹ năng xử lí, phân tích số liệu và kỹ năng vẽ biểu đồ của học sinh.
5. Tính mới của đề tài:
Nếu như giáo viên sử dụng tốt phương pháp thực hành một cách hiệu quả đồng thời
kết hợp với một số phương pháp dạy học khác như: nêu và giải quyết vấn đề, thảo luận
nhóm sử dụng một số thiết bị dạy học hỗ trợ… cho bài học một cách hợp lí thì sẽ tạo ra
một không khí học tập tích cực, giúp các em chú ý quan tâm hơn đến việc rèn luyện kỹ
năng xử lí, phân tích số liệu và vẽ biẻu đồ, để kết quả học tập được tốt hơn.
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận:
Trong xu thế chung hiện nay việc dạy học môn địa lí phải theo tinh thần đổi mới, lấy
học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tinh tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, được
thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và
Đào tạo. Luật giáo dục đã xác định: “ Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học
sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản
nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và
trách nhiệm công dân… ( Điều 23-Luật giáo dục).
Nhưng trong thực tế hiện nay muốn thực hiện vấn đề này vẫn còn gặp không ít khó
khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau: các em học sinh xem là môn học phụ, nên thường
học vẹt, qua loa hay một cách máy móc, rập khuôn, không sáng tạo, thiếu sự quan tâm
của gia đình, cùng với phương tiện dạy học chưa đáp ứng đủ cho nên chưa kích thích học
tập của học sinh… từ đó làm cho chất lượng dạy học địa lí thiếu hiệu quả và chưa đạt kết
quả cao.
2. Cơ sở thực tiện:
Với học sinh các trường ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn như trường THCS Lâm
Kiết thì việc rèn luyện kỹ năng thực hành Địa lí cho các em trong một bài học gặp không
ít khó khăn: ví dụ với mọt bài tập thực hành vẽ biểu đồ có yêu cầu phải sử lí số liệu, thì
đa phần các em thực hiện vẫn còn chậm, mất nhiều thời gian do máy tính không có, hoặc
còn ít trong một lớp học, khiến cho việc so sánh, đánh giá kết quả giữa các tổ, nóm hoặc
cá nhân với nhau còn rất hạn chế. Từ đó cũng ảnh hưởng nhiều tới thời gian hoàn thành
bài tập của học sinh, bởi thông thường sau khi vẽ biểu đồ, học sinh còn phải nhận xét,
đánh giá các sự vật, hiện tượng địa lí từ biểu đồ đã vẽ.
Nhiều em chưa có ý thức chuẩn bị tốt các đồ dùng học tập chuản bị cho bài thực
hành như thước kẻ, bút chì, compa, hộp màu… còn coi nhẹ yêu cầu của bài thực hành nên
cũng ảnh hưởng nhiều tới các bài tập về vẽ biểu đồ như: hình vẽ chưa đẹp, vẽ chưa chuẩn
xác.
2
Khi giáo viên hướng dẫn các bước tiến hành, một số học sinh vẫn chưa chịu để ý,
quan tâm dẫn đến các em lúng túng khi tiến hành các thao tác: ví dụ cách xử lý số liệu
hoặc cách chọn tỷ lệ..
Thời gian một bài thực hành có 45 phút: có rất nhiều các bước cần thực hiện, nhưng
quan trọng nhất là việc kiểm tra, đánh giá kết quả bài tập của học sinh. Tuy vậy công việc
nàythường được thực hiện sau khi học sinh đã hoàn thành hết các yêu cầu của bài tập nên
giáo viên bị hạn chế rất nhiều về thời gian để sủa chữa uốn nắn cho các em nhất là học
sinh yếu.
Bên cạnh các bài tập thực hành vẽ biểu đồ trên lớp còn có rất nhiều các bài tập thực
hành vẽ biểu đồ ở nhà, nếu không có biện pháp kiểm tra, đánh giá kịp thời thì nhiều em sẽ
coi nhẹ việc thực hiện các bài tập này, hoặc có những lỗi soi sót mắc phải của học sinh mà
mà giáo viên không kịp thời phát hiện ra để giúp các em sửa chữa.
Chính từ những lí do trên, qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi đã tích luỹ được
một số kinh nghiệm: Để đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường tính tích cực, tư
duy, sáng tạo ở học sinh là phải đặc biệt chú trọng đến việc rèn luyện cho học sinh những
kỹ năng vẽ biểu đồ địa lí và từ đó góp phần rất lớn hạn chế việc ghi nhớ máy móc của học
sinh.
3. Các giải pháp tiến hành giải quyết vấn đề
3.1. Biện pháp: Vẽ biểu đồ tròn:
Khi nào vẽ biểu đồ tròn?
Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ tròn.
Trong đề bài có từ cơ cấu (nhưng chỉ có 1 ,2 hoặc 3 năm) ta vẽ biểu đồ tròn. Muốn
vậy đòi hỏi học sinh phải có kĩ năng nhận biết về các số liệu trong bảng, bằng cách người
học phải biết xử lí số liệu (hoặc đôi lúc không cần phải xử lí số liệu khi bảng số liệu cho
sẵn %) ở bảng mà có kết quả cơ cấu của nó đủ 100 (%) , thì tiến hành vẽ biểu đồ tròn.
Cách tiến hành:
Chọn trục gốc: để thống nhất và dễ so sánh, ta chọn trục gốc là một đường thẳng nối
từ tâm đường tròn đến điểm số 12 trên mặt đồng hồ.
Khi vẽ cần phải có kĩ năng vẽ theo chiều kim đồng hồ, điểm xuất phát 12 giờ. Đễ vẽ
cho chính xác ta lấy từng tỉ lệ % của từng đối tượng X 3,60, Sau đó dùng thước đo độ vẽ
lần lượt các yếu tố theo bảng số liệu đã cho.
Cuối cùng là chú thích và ghi tên biểu đồ.
Tên biểu đồ: ghi phía trên biểu đồ hay phía dưới biểu đồ cũng được.
Chú thích: ghi bên phải hoặc phía dưới biểu đồ.
Lưu ý: chú thích không nên ghi chữ, đánh ca-rô, vẽ trái tim, mũi tên, ngoáy giun, …
sẻ làm rối biểu đồ. Mà nên dùng các đường thẳng, nghiêng, bỏ trắng…
Đối với số liệu tuyệt đối sau khi xử lí ra % thì ta phải tính đến bán kính đường tròn
theo công thức sau:
S1 R2 S1 X R 1
= -> R2 =
S2 R1 S2
(Chú ý: các em cũng có thể lấy số liệu thô của năm sau chia cho năm trước để biết
được nó gấp bao nhiêu lần rồi sau đó ta chọn bán kính đường tròn tùy thích, dựa vào đó
mà vẽ bán kính đường tròn thứ hai)
3
R1 tự cho bao nhiêu cm cũng được( thong thường 20 cm)
S1 là số liệu tuyệt đối của năm đầu tiên
S2 là số liệu của năm sau.
Hoặc có thể dùng công thức: Công thức tính tỉ lệ bán kính: r2= r 1.
n = tổng giá trị năm sau: tổng giá trị năm đầu
Nhận xét:
Khi chỉ có 1 đường tròn: ta nhận xét về thứ tự lớn nhỏ. Sau đó so sánh.
Khi có 2 đường tròn trở lên :
Ta nhận xét tăng hay giảm trước, nếu đường tròn thì thêm liên tục hay không liên
tục, tăng (giảm) bao nhiêu.
Sau đó nhận xét về nhất, nhì, ba… của các yếu tố trong từng năm. Nếu giống nhau
thì ta gom chung lại cho các năm một lần thôi.
Cuối cùng cho kết luận về mối tương quan giữa các yếu tố.
Chọn trục gốc: để thống nhất và dễ so sánh, ta chọn trục gốc là một đường thẳng nối
từ tâm đường tròn đến điểm số 12 trên mặt đồng hồ.
Khi vẽ cần phải có kĩ năng vẽ theo chiều kim đồng hồ, điểm xuất phát 12 giờ. Mỗi
% là 3,6 0, Sau đó vễ lần lượt các yếu tố mà đề bài cho.
Cuối cùng là chú thích và ghi tên biểu đồ.
Tên biểu đồ: ghi phía trên biểu đồ hay phía dưới biểu đồ cũng được.
Chú thích: ghi bên phải hoặc phía dưới biểu đồ.
Lưu ý: chú thích không nên ghi chữ, đánh ca-rô, vẽ trái tim, mũi tên, ngoáy giun,…
sẽ làm rối biểu đồ. Mà nên dùng các đường thẳng, nghiêng, bỏ trắng…
3. 2. Vẽ biểu đồ cột :
Khi nào vẽ biểu đồ cột ?
Khi đề bài yêu cầu cụ thể là hãy vẽ biểu đồ cột … thì không được vẽ biểu đồ dạng
khác mà phải vẽ biểu đồ cột.
Đối với dạng biểu đồ cột thông thường ta gặp đề bài yêu cầu là vẽ biểu đồ thể hiện
tình hình phát triển của dân số, thể hiện sản lượng thủy sản (tỉ trọng sản lượng thủy
sản(%), so sánh mật độ dân số của các vùng, so sánh sản lượng khai thác than, dầu khí
….so sánh về các loại sản phẩm của các vùng (hay giữa các quốc gia) với nhau.
Tuy nhiên, chúng ta phải xử lí số liệu (về % theo nguyên tắc tam suất tỉ lệ thuận) khi
đề yêu cầu thể hiện tỉ trọng sản lượng…
Ngoài ra, biểu đồ cột còn có nhiều dạng như: Cột rời(cột đơn), cột cặp(cột nhóm), hay
cột chồng. Vì vậy đòi hỏi học sinh phải làm nhiều dạng bài tập này thì các em sẻ có kinh
nghiệm và sự hiểu biết để nhận dạng nó và vẽ loại biểu đồ cột nào cho thích hợp.
Lưu ý: Đối với biểu đồ cột chồng thì thông thường bảng số liệu cho có cột tổng số
(nhưng phải xử lí số liệu về % nếu đề bài không cho %)
Cách tiến hành vẽ biểu đồ cột:
Dựng trục tung và trục hoành:
Trục tung thể hiện đại lượng(có thể là %, hay nghìn tấn, mật độ dân số, triệu
người….). Đánh số đơn vị trên trục tung phải cách đều nhau và đầy đủ (tránh ghi lung
tung không cách đều)
Trục hoành thể hiện năm hoặc các nhân tố khác (có thể là tên nước, tên các vùng hoặc
tên các loại sản phấm.
4
Vẽ đúng trình tự đề bài cho, không được tự ý từ thấp lên cao hay ngược lại, trừ khi đề
bài yêu cầu.
Không nên gạch ---- hay gạch ngang , từ trục tung vào đầu cột vì sẻ làm biểu đồ
rườm rà, thiếu tính thẩm mĩ. Hoặc nếu có gạch thì sau khi vẽ xong ta phải dung tẩy viết
chì xóa nó đi.
Độ rộng (bề ngang) các cột phải bằng nhau.
Lưu ý sau khi vẽ xong rồi nên ghi số lên đầu mỗi cột để dễ so sánh các đối tượng.
Cuối cùng là chú thích và ghi tên biểu đồ.
Tên biểu đồ: ghi phía trên biểu đồ hay phía dưới biểu đồ cũng được.
Chú thích: ghi bên phải hoặc phía dưới biểu đồ.
Lưu ý: Đối với dạng biểu đồ thể hiện nhiều đối tượng khác nhau thì ta phải chú thích
cho rõ ràng.
Nhận xét :
Trường hợp cột rời (cột đơn):
Bước 1: Xem xét năm đầu và năm cuối của bảng số liệu hoặc biểu đồ đã vẽ để trả lời
câu hỏi tăng hay giảm? và tăng bao nhiêu? ( lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu ăm đầu
hay chia cũng được)
Bước 2: xem xét số liệu cụ thể ở trong (hay trong các năm cụ thể) để trả lời tiếp là
tăng hay giảm liên tục hay không liên tục ? (lưu ý năm nào không liên tục)
Bước 3: Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào nhanh, giai đoạn nào chậm , nếu không
liên tục thì năm nào không liên tục.
Trường hợp cột đôi , ba…(có từ hai yếu tố trở lên): Nhận xét từng yếu tố một,
giống như trường hợp 1 yếu tố (cột đơn). Sau đó kết luận (có thể so sánh hay tìm yếu tố
liên quan gữa các cột)
Trường hợp cột là các vùng, các nước: Ta nhận xét cao nhất, nhì…thấp nhất,
nhì.. (nhớ ghi dầy đủ các nước, vùng). Rồi so sánh giữa cái cao nhất với cái thấp nhất,
giữa đồng bằng với đòng bằng, giữa miền núi với miền núi...
3.3. Vẽ biểu đồ đường (đồ thị):
Khi nào vẽ biểu đồ đường?
Khi đề bài yêu cầu: hãy vẽ biểu đồ đồ thị tả…”, “hãy vẽ ba đường biểu diễn…”
ta bắt buộc phải vẽ biểu đồ đường.
Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thể hiện tốc độ phát triển kinh tế hay tốc độ gia
tăng dân số, chỉ số tăng trưởng, tỉ lệ gia tăng tự nhiên của dân số…. thể hiện rõ qua nhiều
năm từ…1991, 1992, 1993….2002…. Mặc dù, nó cũng có tỷ lệ 100% nhưng không thể
vẽ biểu đồ hình tròn được. Lí do phải vẽ nhiều hình tròn, thì không có tính khả thi với yêu
cầu của đề bài.
Cho nên chúng ta vẽ dạng biểu đồ đường để dễ nhận xét về sự thay đổi của các
yếu tố trên một đường cụ thể đó và dễ nhận xét về thay đổi của các yếu tố nói trên hay
các dạng yêu cầu khác của đề bài.
Cách vẽ biểu đồ đường:
Dựng trục tung và trục hoành:
Trục tung: Thể hiện trị số của các đối tượng (trị số là %), góc tọa độ có thể là 0, có
thể là một trị số ≤ 100. Hoặc đôi khi trục tung không phải là trị số % mà là các giá trị khác
tùy theo yêu cầu của đề bài.
5
Trục hoành: Thể hiện thời gian (năm), góc tọa độ trùng với năm đầu tiên trong
bảng số liệu.
Xác định toạ độ các điểm từng năm của từng tiêu chí theo bảng số liệu, rồi nối các
điểm đó lại và ghi trên các điểm giá trị của năm tương ứng.
Nếu có hai đường trở lên, phải vẽ hai đường phân biệt và chú thích theo thứ tự đề
bài đã cho.
Ghi tên biểu đồ bên dưới.
Nhận xét:
Trường hợp chỉ có một đường:
Bước 1: So sánh số liệu năm đầu và năm cuối có trong bảng số liệu để trả lời câu
hỏi:
Đối tượng cần nghiên cứu tăng hay giảm ? nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) bao
nhiêu? (lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay chia gấp bao nhiêu lần cũng
được)
Bước 2: xem đường iểu diễn đi lên (tăng) có liên tục hay không? ( lưu ý năm nào
không liên tục )
Bước 3:
Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào tăng nhanh,giai đoạn nào tăng chậm
Nếu không liên tục thì năm nào không liên tục
Trường hợp có hai đường trở lên:
Ta nhận xét từng đường một giống như theo đúng thứ tự bảng số liệu đã cho:
đường A trước rồi đến đường B, đường C…
Sau đó ta tiến hành so sánh tìm mối quan hệ giữa các đường biểu diễn.
3.4. Vẽ biểu đồ miền:
Khi nào vẽ biểu đồ miền?
Khi đề bài yêu cầu cụ thể : “Hãy vẽ biểu đồ miền…”
Khi đề bài xuất hiện một số các cụm từ: “thay đổi cơ cấu”, “chuyển dịch cơ
cấu”, “thích hợp nhất về sự chuyển dịch cơ cấu”….
Đọc yêu cầu, nhận biết các số liệu trong bài.
Trong trường hợp số liệu ít năm(1,2 năm hoặc 3 năm) thì vẽ biểu đồ tròn.
Trong trường hợp bảng số liệu là nhiều năm, dùng biểu đồ miền. Không vẽ biểu
đồ miền khi bảng số liệu không phải là theo các năm. Vì trục hoành trong biểu đồ miền
luôn biểu diễn năm.
Cách tiến hành vẽ biểu đồ miền:
Cách vẽ biểu đồ miền tạo hình chữ nhật trước khi vẽ. Có 2 trục tung: trục tung
bên phải và trục tung bên trái.
Vẽ hình chữ nhật (có 2 trục hoành luôn dài hơn 2 trục tung) để vẽ biểu đồ miền,
biểu đồ này là từ biến thể của dạng biểu đồ cột chồng theo tỷ lệ (%)
Để vẽ biểu đồ theo số liệu cho chính xác thì phải có kĩ năng là tạo thêm số liệu
theo tỷ lệ % ở trục tung bên phải để đối chiếu số liệu vẽ cho chính xác. Khi vẽ đã hoàn
thành thì chúng ta dùng tẩy xóa phần số ảo đó mà mình đã tạo ra .
Biểu đồ là hình chữ nhật, trục tung có trị số 100% (Tổng số).
Trục hoành luôn thể hiện năm, lưu ý khoảng cách giữa các năm phải đều nhau.
Năm đầu tiên trùng với góc tọa độ (hay trục tung)
6
Vẽ các điểm của tiêu chí thứ nhất theo các năm, rồi sau đó nối các điểm đó lại
với nhau.
Tiêu chí thứ hai thì khác, ta vẽ tiếp lên bằng cách cộng số liệu của yếu tố thứ
hai với yếu tố thứ nhất rồi dựa vào kết quả đó ta lấy mức số lượng ở trục tung. Cuối cùng
ta nối các điểm của tiêu chí
Chú thích và ghi tên biểu đồ:
Chú thích: chú thích vào các miền khác nhau để dễ dàng phân biệt. Dùng các kí
hiệu tương tự như biểu đồ tròn hay tô màu khác nhau cũng được.
Ghi tên biểu đồ ở phía trên hay phía dưới cũng được.
Nhận xét:
Bước 1: So sánh số liệu năm đầu và năm cuối có trong bảng số liệu để trả lời câu hỏi:
Đối tượng cần nghiên cứu tăng hay giảm ? nếu tăng (giảm) thì tăng (giảm) bao nhiêu?
(lấy số liệu năm cuối trừ cho số liệu năm đầu hay chia gấp bao nhiêu lần cũng được)
Bước 2: xem đường iểu diễn đi lên (tăng) có liên tục hay không? ( lưu ý năm nào
không liên tục )
Bước 3:
Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào tăng nhanh,giai đoạn nào tăng chậm
Nếu không liên tục thì năm nào không liên tục
Trường hợp có hai đường trở lên:
Ta nhận xét từng đường một giống như theo đúng thứ tự bảng số liệu đã cho: đường A
trước rồi đến đường B, đường C…
Sau đó ta tiến hành so sánh tìm mối quan hệ giữa các đường biểu diễn.
3.5. Vẽ biểu đồ thanh ngang:
Khi nào vẽ biểu đồ thanh ngang?
Khi đề bài yêu cầu cụ thể: “Hãy vẽ biểu đồ thanh ngang…”
Khi đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ cột , nếu có các vùng kinh tế , chúng ta nên chuyển
sang qua thanh ngang để tiện việc ghi tên các vùng đễ dàng và đẹp hơn.
Ta thấy biểu đồ cột , tên các vùng phải viết nhiều dòng khoảng cách rộng sẻ không
đủ vẽ. Trong
Khi biểu đồ thanh ngang, tên các vùng ghi đủ một dòng không dính tên vào các
vùng khác trông đẹp hơn.Tuy nhiên, khi vẽ biểu đồ thanh ngang, cần lưu ý sắp xếp theo
thứ tự vùng kinh tế.
Cách vẽ biểu đồ thanh ngang:
Cũng giống như biểu đồ cột. Tuy nhiên trong trường hợp này trục tung của biểu đồ
thanh ngang lại thể hiện các vùng kinh tế, còn trục hoành thì thể đại lượng ( đơn vị)
Nhận xét:
Nhận xét tương tự như biểu đồ cột đơn.
Một số dạng bài tập minh họa:
Bài tập 1. Cho bảng số liệu sau(Trang 38 SGK 9)
(Số liệu: nghìn ha)
Năm
1990 2002
Các nhóm cây
Tổng số 9.040,0 12.831,4
Cây lương thực 6.474,6 8.320,3
7
Cây công nghiệp 1.199,3 2.337,3
Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác 1.366,1 2.173,8
a, Từ bảng số liệu hãy vẽ biểu đồ thích hợp thể cơ cấu các nhóm cây trồng qua 2
năm
b, Qua bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ hãy rút ra nhận xét về sự thay đổi diện tích
các nhóm cây
Bài làm
a, Xử lý số liệu ta được bảng sau
(Đơn vị: % )
Năm
1990 2002
Các nhóm cây
Tổng số 100 100
Cây lương thực 71.6 64.9
Cây công nghiệp 13.3 18.2
Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác 15.1 16.9
- Góc ở tâm (Đơn vị: độ)
Năm
1990 2002
Các nhóm cây
Tổng số 360 360
Cây lương thực 258 234
Cây công nghiệp 48 65
Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác 54 61
- Bán kính đường tròn
Quy ước R1 = 2cm R2 = 2 =2x1,4= 2,8cm
Từ bảng số liệu ta có biểu đồ sau
b, Nhận xét
* Về diện tích
Từ bảng số liệu ta thấy diện tích gieo trồng năm 2002 tăng so với năm 1990 là 1,4
lần
8
Diện tích các nhóm cây đều tăng, nhanh nhất thuộc nhóm cây công nghiệp(gần 2
lần) tiếp theo là nhóm cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác(1,6 lần) cuối cùng là nhóm
cây lương thực ( 1,3 lần)
* Về tỷ trọng
Nhóm cây công nghiệp tăng nhanh nhất, sau đó đến nhóm cây thực phẩm, cây ăn
quả, cây khác. Trong khi đó nhóm cây lương thực đang giảm nhanh về tỷ trọng
* nguyên nhân
- Trong giai đoạn hiện nay cây công nghiệp đang là mặt hàng đem lại giá trị xuất
khẩu cao, thị trường rộng và rất cần nên nước ta đang tập trung vào trồng các loại cây
như: Cà phê, hồ tiêu, cao su…
- Nhóm cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác cũng tăng là do nhu cầu về rau quả ở
các đô thị(đặc biệt là thực phẩm sạch) ngày càng tăng…
Bài tập 2. Cho bảng số liệu: Giá trị sản xuất công nghiệp của vùng Duyên hải
Nam Trung Bộ và của cả nước, thời kỳ 1995-2002 (nghìn tỷ đồng)
1995 2000 2002
Duyên hải Nam Trung Bộ 5,6 10,8 14,7
Cả nước 103,4 198,3 261,1
a, Dựa vào bảng số liệu hãy vẽ biểu đồ hình cột thể hiện cơ cấu giá trị sản xuất
công nghiệp của duyên hải Nam Trung Bộ so với cả nước
b, Từ bảng số liêu và biểu đồ đã vẽ hãy rút ra nhận xét
Bài làm
a, vẽ biểu đồ
- xử lý số liêu ta được bảng (Số liệu %)
Năm 1995 2000 2002
Duyên hải Nam Trung Bộ 5.4 5.5 5.6
Các vùng khác 94.6 94.5 94.4
Cả nước 100 100 100
Từ bảng số liệu đã xử lý ta vẽ được biểu đồ sau
Biểu đồ cơ câu giá trị sản xuất công nghiệp
của duyên hải Nam Trung Bộ so với cả nước
giai đoạn 1995-2002
Chú giải
Các vùng khác
Vùng đồng bằng sông Cửu Long
9
b, Nhận xét
* Từ bảng số liệu ta thấy
- Giá trị sản xuất công nghiệp của vùng duyên hải Nam Trung Bộ chiếm một phần
rất nhỏ trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước
- Giá trị sản xuất công nghiệp của vùng qua các năm đều tăng ( năm 2000 gấp 1,9
lần so với năm 1995, năm 2002 gấp 1,4 lần)
* Từ biểu đồ đã vẽ ta thấy
- Tỷ trọng công nghiệp của vùng duyên hải Nam Trung Bộ rất nhỏ so với cả nước
(năm 1995 cả nước gấp 18,5 lần, năm 2000 gấp 18,2 lần, năm 2002 gấp 17,9 lần)
- Tỷ trọng công nghiệp của vùng không ngừng tăng trong tổng tỷ trọng của cả
nước
* Giải thích
Vùng duyên hải Nam Trung Bộ là vùng có nhiều khó khăn trong chiến tranh, hiện
nay vùng đang được nhà nước đầu tư phát triển kinh tế ( Đặc biệt là ngành công nghiệp và
dịch vụ) với một số trung tâm công nghiệp như Nha Trang, Đà Nẵng…với những ngành
như khai thác khoáng sản(Titan), đóng tàu, chế biến lương thực, thực phẩm ….
Bài tập 3. Cho bảng số liệu sau: Sản lượng thuỷ sản nước ta qua các năm
Năm Thuỷ sản khai thác(Nghìn tấn)
1990 728.5
1994 1120.9
1998 1357
2002 1806
a, Vẽ biểu đồ thể hiện sản lượng thuỷ sản nước ta qua các năm theo bảng số liệu
b, từ bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ em hãy rút ra nhận xét tình hình khai thác thuỷ
sản ở nước ta
Bài làm
a, Vẽ biều đồ
Biểu đồ sản lượng thuỷ sản khai thác
nước ta giai đoạn: 1990-2003
10