Sắc thái việt nam qua một số bài thơ nôm đường luật

  • 74 trang
  • file .pdf
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC VÀ XÃ HỘI NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ THẾ BẰNG
SẮC THÁI VIỆT NAM
QUA MỘT SỐ BÀI THƠ NÔM ĐƯỜNG
LUẬT
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: Th.S. GV BÙI THỊ THÚY MINH
Cần Thơ, năm 2011
1
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT TRONG NỀN VĂN
CHƯƠNG TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1. Sự ra đời của chữ Nôm
1.2. Thơ Nôm Đường luật trong nền văn chương trung đại Việt Nam
1.2.1. Đôi nét về thơ Đường luật
1.2.1.1. Khái niệm về thơ Đường luật
1.2.1.2. Những quy định trong thơ Đường luật
1.2.2. Cở sở hình thành và phát triển thơ Nôm Đường luật
CHƯƠNG 2: NGUYỄN TRÃI, NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ HỒ XUÂN
HƯƠNG VỚI THỂ LOẠI THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
2.1. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ Xuân Hương, những cây bút tiêu
biểu cho thể loại thơ Nôm Đường luật từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX
2.1.1. Nguyễn Trãi, nhà thơ mở đầu văn học cổ điển Việt Nam
2.1.2. Nguyễn Bỉnh Khiêm, người kế thừa và phát triển thơ quốc âm
2.1.3. “Bà chúa thơ Nôm” – Hồ Xuân Hương
2
2.2. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ Xuân Hương với thể loại thơ Nôm
Đường luật
2.2.1. Thơ Nôm thể hiện nỗi ưu đời, thế sự
2.2.1.1. Cảm hứng sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ
Xuân Hương
2.2.1.2. Thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ
Xuân Hương thể hiện cảm xúc đa dạng
2.2.2. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Hồ Xuân Hương – những người
bình dân hóa thơ Nôm Đường luật
CHƯƠNG 3: SẮC THÁI VIỆT NAM QUA MỘT SỐ BÀI THƠ NÔM
ĐƯỜNG LUẬT
3.1. Thơ Nôm Đường luật, nơi hội tựu những nét đặc trưng của đất nước Việt
Nam
3.1.1. Sản vật của làng quê Việt Nam
3.1.2. Đời sống của người Việt
3.1.3. Biểu tượng làng quê và văn hóa truyền thống Việt Nam
3.1.3.1. Biểu tượng của làng quê Việt Nam
3.1.3.2. Văn hóa truyền thống Việt Nam
3.1.3.2.1. Trò chơi dân gian - nét văn hóa dân tộc giàu bản sắc
3.1.3.2.2. Phong tục giao tiếp của người Việt xưa
3.1.4. Địa danh Việt Nam
3.2. Tính cách người Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật
3.2.1. Cười, một nét đặc trưng điển hình của tính cách Việt Nam
3.2.2. Triết lí sống tuân theo tự nhiên và thiên về nhìn đời ở mặt tích cực
3.3. Về phương diện hình thức của thơ Nôm Đường luật
3.3.1. Thơ Hàn luật chen lục ngôn
3.3.2. Cách ngắt nhịp không theo quy tắc thơ Đường
3
3.4. Ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật
3.4.1. Ngôn ngữ thuần Nôm
3.4.2. Khẩu ngữ Việt Nam trong thơ Nôm Đường luật
3.4.3. Ngôn ngữ văn học dân gian trong thơ Nôm Đường luật
3.4.3.1. Ca dao Việt Nam
3.4.3.2. Tục ngữ, thành ngữ Việt Nam
3.4.3.3. Câu đố dân gian
3.4.4. Từ láy, một đặc sắc riêng của ngôn ngữ Việt
3.5. Điển trong thơ Nôm Đường luật
3.5.1. Điển âm thuần Việt
3.5.2. Điển, một bộ phận Hán Việt và một bộ phận tiếng Việt
KẾT LUẬN
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam thơ Đường luật rất phổ biến qua nhiều thế kỷ, ngoài những
sáng tác bằng chữ Hán người xưa còn sử dụng chữ Nôm để làm thơ luật Đường.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: “Từ khi ông Nguyễn Thuyên khởi xướng việc dùng
thơ Nôm, thì trong văn học Việt Nam đã có được một lối thơ riêng gọi là thơ Hàn
luật phỏng theo luật thơ đời nhà Đường, Trung Quốc” [17; tr.5]. Nhiều tác giả tên
tuổi như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến,
Trần Tế Xương… làm thơ Hàn luật rất hay, thơ của họ có màu sắc riêng so với thơ
Đường, đó là sắc thái Việt Nam. Một nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng: “Thơ Hồ
Xuân Hương vừa rất Đường vừa rất Việt, mà Việt dân gian chứ không phải Việt bác
học” [30; tr.105].
Các thi nhân Việt đã làm cho những thứ vay mượn từ văn học nước ngoài
ngày càng thích hợp với đất nước, con người Việt bằng những phương thức,
phương tiện, chất liệu... tiếp thu và đồng hóa từ các thể loại dân gian. Ví như
Truyện Kiều của Nguyễn Du, tác giả dựa vào nội dung Đoạn trường tân thanh của
Thanh Tâm Tài Nhân (người Trung Quốc), dùng thể thơ lục bát, một thể thơ của
dân tộc, với cái tài của Nguyễn Du đã tạo dựng một kiệt tác văn chương Truyện
Kiều, một tài sản tinh thần của người Việt, mang hồn Việt, giọng điệu Việt và Phạm
Quỳnh từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”.
Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy rất nhiều bài thơ Nôm Đường luật được
tuyển chọn giảng dạy trong sách giáo khoa ngữ văn ở nhiều cấp học từ phổ thông cơ
sở đến đại học. Với tầm ảnh hưởng sâu rộng của thơ Nôm Đường luật và xuất phát
từ sự yêu thích những trang thơ của cổ nhân, lòng tự hào dân tộc đã tạo động lực
thúc đẩy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Sắc thái Việt Nam qua một số bài
thơ Nôm Đường luật. Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, người viết rất mong
có thể góp chút hiểu biết, suy nghĩ, nhìn nhận vấn đề thuộc về thơ Nôm Đường luật.
5
2. Lịch sử vấn đề
Đề tài Sắc thái Việt Nam qua một số bài thơ Nôm Đường luật không phải
là đề tài mới lạ chưa ai bàn đến. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến
đề tài này ở nhiều khía cạnh khác nhau, rất công phu và sâu sắc. Cũng có không ít
những công trình chỉ giới thiệu một cách sơ lượt khái quát, chứ không đi sâu vào
phân tích, trình bày cụ thể.
Trong Thơ Việt Nam – Thơ Nôm Đường luật từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX,
nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997, do Hà Xuân Liêm sưu tầm và biên soạn, đã có
những đóng góp ý nghĩa khi bàn về thơ Nôm Đường luật. Tuy chỉ với mục đích sưu
tầm thơ và khảo cứu một số thơ cổ làm theo luật Đường, nhưng trong phần Lược
khảo lịch sử Hà Xuân Liêm đã trình bày về sự ra đời và quá trình phát triển của thơ
Nôm Đường luật. Trải qua một thời gian dài, thơ Nôm Đường luật vẫn được nhiều
nhà nho yêu thích và sử dụng nhưng họ vẫn không thoát khỏi những ảnh hưởng thơ
ca Trung Hoa một cách sâu đậm về đề tài, hình thức, ngôn ngữ, sử dụng nhiều
điển... Sang thế kỷ XIX, một thời kì vàng son của thơ Nôm Đường luật cả về số
lượng và chất lượng, với một lực lượng sáng tác đông đảo, tiêu biểu: Bà Huyện
Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương… Và không chỉ
có đội ngũ tác giả kể trên, “chúng ta có hàng trăm thi gia khác, người nào ý tưởng
cũng phong phú. Các thi nhân thời này không còn dùng nhiều Hán văn hoặc phỏng
dịch một cách vụng về nữa. Đa số đã vận dụng hết năng lực để làm cho thơ Việt trở
nên có tính cách đặc biệt. Ý thơ đã thoát ly hẳn thơ Trung Quốc. Thi nhân quay về
khai thác những phong cảnh, tình tứ cùng tư duy của người Việt Nam” [17; tr.13].
Tác giả kết luận: “Tóm lại thơ quốc âm phôi thai từ thời Trần, chịu ảnh
hưởng nhiều của Trung Quốc, qua đến thế kỷ XV và thế XVI, thơ mới thành lập và
thể lục ngôn ra đời, tạo ra lối thơ đặc biệt của ta; đến thế kỉ XVII và thế kỷ XVIII,
thơ dần dần thoát ly ảnh hưởng Trung Quốc để tiến đến chỗ thịnh đạt hoàn toàn ở
thế kỉ XIX, với nhiều án thơ rất có giá trị” [17; tr.14].
Trong bài nghiên cứu Cha ông ta đã vận dụng các thể loại văn học Trung
Quốc như thế nào vào thơ Nôm của Trương Chính (Tạp chí văn học, số 2- 1973)
trong Tuyển tập 40 năm tạp chí văn học 1960 – 1999, tập 2, văn học cổ – cận đại
6
Việt Nam, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1999, nhận định: “Thơ là lời nói
có vần điệu. Tiếng Việt và tiếng Hán có nhiều đặc điểm giống nhau. Tiếng Hán lại
chi phối tiếng Việt rất mạnh, và trong một thời gian dài, nhiều từ Hán đã trở thành
từ Việt” [24; tr.157]. Khi người Việt làm thơ bằng chữ Hán thường chọn thơ luật
Đường do ảnh hưởng bởi chế độ khoa cử. Phải công nhận rằng thơ luật Đường có
rất nhiều phép tắc nào là niêm, luật, đối, vần nhất nhất điều qui định rạch ròi, không
xê xích được. Nó như xiềng xích buộc chặt thi nhân, gò bó tư tưởng người sáng tác.
Nhưng cha ông chúng ta đã nhanh chóng chuyển sang sáng tác thơ luật
Đường bằng chữ Nôm thay cho chữ Hán, bước đầu còn chịu ảnh hưởng từ Trung
Quốc về hình thức lẫn nội dung. Đến thế kỷ XV, từ Nguyễn Trãi cho đến đời Hồng
Đức thì thơ luật Đường không phải hoàn toàn là thơ luật Đường, mà thường xen
những câu lục ngôn vào trong bài thơ nhưng không có bài nào toàn câu lục ngôn cả.
Tác giả nhận định: “Trung Quốc không hề có thể nào như thế. Cũng có những câu
sáu từ trong thể trường đoản cú (câu dài câu ngắn), hoặc toàn bài đều câu sáu từ
như một số thơ thời Tống. Không có thể câu bảy từ xen câu sáu từ, hoặc câu sáu từ
xen câu bảy từ. Chắc đó là một thể mới do cha ông chúng ta tạo ra trên cơ sở câu
thất ngôn, trong lúc niêm, luật, đối, gieo vần vẫn theo luật Đường” [26; tr.160].
Kết thúc bài viết, Trương Chính đưa ra kết luận: “Trải qua hàng năm quan
hệ với văn học Trung Quốc, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều của văn học
Trung Quốc, điều đó không có gì lạ. Nhưng, cha ông chúng ta luôn luôn có xu
hướng giữ được tính chất dân tộc của mình, ngay cả về hình thức, không bắt chước
một cách máy móc, tiếp thu có sáng tạo các hình thức du nhập của Trung Quốc, đặc
biệt coi trọng và đề cao các hình thức cổ truyền; kết hợp những hình thức của
Trung Quốc và hình thức Việt Nam đặt ra những hình thức mới, hợp với cách thẩm
mỹ của người Việt Nam, đồng thời bảo vệ các hình thức dân tộc” [26; tr.165].
Nhà nghiên cứu Ngô Văn Phú trong Thơ Đường ở Việt Nam, nhà xuất bản
Hội nhà văn, Hà Nội, 2001 có nhận định khi bàn về thơ Nôm Đường luật như sau:
“Từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương, các nhà thơ Việt Nam, chỉ mượn luật thơ
Đường, làm hình thức để thể hiện, nhưng họ luôn muốn thoát khỏi thơ Đường cả về
7
nội dung lẫn hình thức… Nguyễn Trãi, Hội Tao Đàn, Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong
thơ Nôm, dùng nhiều lục ngôn thể hơn là Đường luật.
Đến thế kỷ XVIII, thế kỷ XIX, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan thì
hồn Việt, lối nói Việt, tâm trạng Việt đã làm cho thơ luật Đường đến độ hoàn hảo…
Sau hai bà, các tài thơ Nôm như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, thêm một lần vừa
giữ được cái trang nhã của thơ luật Đường, nhưng lại dùng ngôn ngữ và cách nghĩ
giàu tính nhân văn, với đời thường. Thơ Nôm Đường luật hoàn toàn tung hoành
ngang dọc với tình cảm và tư tưởng của mình, không hề bị gò bó” [28; tr.88]. Tác
giả còn bàn luận về thơ Nôm Đường luật pha xen lục ngôn, “là một sáng tạo của
thơ Việt Nam, nhân từ thơ Đường luật mà làm ra” [23; tr.99].
Trong quyển Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm luật Đường, nhà xuất bản
Văn học, Hà Nội, 2001, Lê Chí Dũng đưa ra nhận xét thiên về tính cách con người
Việt trong thơ, ở nước Đại Việt, những thi nhân bậc thầy có thể tìm thấy “những kẻ
hở để qua đó tâm thức Việt, sự tình tứ, tinh nghịch khỏe khoắn” [4; tr.15] của dân
gian được bộc lộ. Đó là ý tưởng mới, cảm xúc mới, ở đấy hình hài của tính cách dân
tộc, của nếp tâm lý dân tộc hiện ra cụ thể.
Ngoài ra, “Các nhà nho – thi nhân ấy cũng có thể khai thác những từ hình
tượng, tượng thanh, lối nói láy trong tiếng Việt, tục ngữ, ca dao, lời ăn tiếng nói
của nhân dân, khiến cho thơ luật Đường trở nên giàu có và sinh động, gần gũi hơn
với cuộc sống bình dị, thậm chí kéo thơ luật Đường xuống với trần tục, với quan
niệm phồn thực bàn bạc trong sinh hoạt dân gian” [4; tr.18].
Qua bài nghiên cứu, tác giả nhận xét, tuy ông cha ta vận dụng đề tài, thi
liệu, tứ thơ, điển và ngôn ngữ trong thơ Đường, nhưng thơ Nôm Đường luật đã thể
hiện những nét tính cách của người Việt ở mức độ này hay mức độ khác. Điều đó
góp phần tạo màu sắc riêng cho thơ Nôm Đường luật Việt Nam.
Thông qua quá trình tìm hiểu, tham khảo các ý kiến của các nhà nghiên cứu
trong các tiểu luận, chuyên luận, các công trình nghiên cứu, các sách phê bình văn
học bàn về thơ Nôm Đường luật, chúng tôi nhận thấy đề tài Sắc thái Việt Nam qua
một số bài thơ Nôm Đường luật được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu và
bàn luận. Có những công trình nghiên cứu đã chạm đến những vấn đề liên quan đến
8
đề tài rất có giá trị cao. Đó chưa phải là đủ, và chưa phải là sâu vì mỗi bài viết chỉ
thiên về một phần nào đó, chưa nghiên cứu một cách triệt để nhiều phương diện.
Một số bài viết chỉ dừng lại những nhận xét chung chung về một hoặc một vài khía
cạnh nào đó của đề tài. Một số bài viết vẫn còn hạn chế chỉ đưa ra kết luận mà
không đi sâu vào phân tích, chứng minh cho thỏa đáng nhận định đưa ra.
Vì thế trong bài nghiên cứu này, trên cơ sở tiếp thu những ý kiến, những
hướng nghiên cứu cũng như những gợi ý quý báu của các nhà nghiên cứu, người
viết sẽ cố gắng tổng hợp những khía cạnh, những điểm cơ bản, những vấn đề quan
trọng nhất có liên quan đến đề tài, qua đó phân tích, lí giải làm rõ nội dung vấn đề,
để giúp độc giả có cái nhìn thấu đáo và sâu sắc về thơ Nôm Đường luật.
3. Mục đích yêu cầu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài này, người viết mong muốn đưa đến
người đọc những hiểu biết về thơ Nôm Đường luật, một thể thơ có nguồn gốc từ
Trung Quốc nhưng trong quá trình phát triển, dần dần trở thành tài sản tinh thần của
dân tộc, đất nước Việt Nam. Đó không phải là kết quả ngẫu nhiên mà là xuất phát từ
ý thức luôn muốn đổi mới, sáng tạo trên nền tảng những cái có sẵn, luôn ý thức
được dân tộc Việt Nam là dân tộc độc lập, tự chủ và không bao giờ bị đồng hóa. Và
chúng ta, những con người Việt Nam càng thêm yêu mến thơ Nôm Đường luật, một
tài sản tinh thần vô cùng giá trị.
4. Phạm vi nghiên cứu
Thơ Nôm Đường luật trải qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển, với số
lượng tác giả cũng như số lượng tác phẩm đáng kể. Tiêu biểu như Quốc âm thi tập
của Nguyễn Trãi gồm 254 bài thơ, Hồng Đức quốc âm thi tập của vua Lê Thánh
Tông và Hội Tao Đàn có độ 300 bài thơ, Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh
Khiêm khoảng 161 bài thơ và một số bài thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Bà Huyện
Thanh Quan, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương... Xét thấy, nếu
khảo sát toàn bộ thơ Nôm Đường luật trong kho tàng thơ ca trung đại thì không phải
là việc dễ dàng, cần rất nhiều thời gian và công sức. Do thời gian nghiên cứu hạn
chế và tầm hiểu biết có hạn, người viết chỉ giới hạn nghiên cứu một số bài thơ Nôm
của những tác giả tiêu biểu trong giai đoạn từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII –
9
đầu thế kỷ XIX: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (bao gồm 254 bài thơ quốc âm
trong quyển Quốc âm thi tập do Nguyễn Thạch Giang phiên khảo và chú giải, nhà
xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2000), Bạch vân quốc ngữ thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm
(gồm 161 bài thơ Nôm trong quyển Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do Đinh Gia
Khánh chủ biên, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1997) và 48 bài thơ Nôm của Hồ
Xuân Hương (trong quyển Hồ Xuân Hương, thơ và đời do Lữ Huy Nguyên chủ
biên, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1998).
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương
pháp sưu tầm, thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh và ghi nhận những nhận xét,
những ý kiến, những đánh giá của các nhà nghiên cứu có liên quan đến Sắc thái
Việt Nam qua một số bài thơ Nôm Đường luật, làm nổi bật đề tài.
10
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT
TRONG NỀN VĂN CHƯƠNG TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1. Sự ra đời của chữ Nôm
Đã từ lâu ông cha ta sử dụng chữ Hán như một thứ văn tự chính thức và có
tác dụng nhất định trong việc xây dựng nền văn hóa dân tộc. Nguyên nhân của tình
trạng trên, theo một số công trình nghiên cứu dự đoán: trước khi chữ Hán xuất hiện,
người Việt chưa có chữ viết, hoặc đã có chữ viết nhưng còn thô sơ, chưa đủ kí hiệu
cần thiết để ghi chép văn bản. Và sự chiếm lĩnh của chữ Hán trên lĩnh vực chữ viết
ở đất nước Việt không gặp mấy khó khăn do có sự hổ trợ của chính quyền thống trị.
Chữ Hán trở thành văn tự chung, chính thức và giữ vị trí độc tôn được sử dụng trên
đất nước Việt. Chính vì vậy sự xuất hiện của chữ Nôm rất có ý nghĩa thời đại.
Nguyên nhân ra đời của chữ Nôm là bắt nguồn từ tư tưởng chống Hán hóa của dân
tộc trước những gì có tính ngoại lai. Và chữ Hán ở nước ta vẫn không thể ghi được
tất cả những nhu cầu trong thực tế, thí dụ như tên người, tên đất, tên cây cỏ, chim
muông, địa phương... Do đó, chữ viết riêng của người Việt xuất hiện để ghi âm
tiếng nói dân tộc mình.
Theo Dương Quảng Hàm: “Chữ Nôm là thứ chữ dùng nguyên hình chữ
nho, hoặc lấy hai ba chữ nho ghép lại, để viết chữ Nam” [8; tr.100]. Theo cách hiểu
đầy đủ thì: “Chữ Nôm là thứ chữ viết thời cổ, do người Việt Nam sáng tạo. Đó là
loại chữ vuông biểu ý, được tạo ra theo nguyên tắc và trên cở sở của chữ Hán, có
bổ sung thêm dựa theo cách đọc Hán Việt” [30; tr.61].
Cho đến nay, giới nghiên cứu cho rằng từ Nôm là do từ Nam mà ra. Gió từ
biển đông nam thổi về, gọi là gió nồm. Vào khoảng thời gian chữ Nôm xuất hiện, từ
nồm có khi bỏ dấu (`), đọc thành nôm. Như vậy, “từ nôm là đọc chệnh của từ nam
theo kiểu dân dã, Nam – Nôm vừa chỉ phương hướng, vừa chỉ tên nước” [30; tr.61].
11
Mặc dù là chữ viết do tự phát mà có và chưa được chính quyền công nhận
nhưng chữ Nôm vẫn được sử dụng rộng rãi qua nhiều triều đại, vì những lợi ích chữ
Nôm đem lại hết sức to lớn. Nó thoả mãn các nhu cầu ghi chép ngày càng đa dạng
và phức tạp mà nhiều khi chữ Hán chưa thể đảm nhiệm một cách triệt để. Cùng với
chữ Hán, chữ Nôm thường được dùng để ghi chép các loại sổ sách, văn tự, khế ước,
hương ước, gia phả... có khi còn được dùng cả trong lĩnh vực hành chính. Và chữ
Nôm được dùng để phiên dịch, giải nghĩa và diễn ca kinh truyện. Ví dụ: Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ đã được Nguyễn Thế Nghi dịch ra văn Nôm. Một số sách
kinh điển của Phật giáo, Nho giáo cũng được chuyển dịch như: Cổ Châu phật bản
hạnh ngữ lục, Thi kinh giải âm... Chữ Nôm còn được dùng để sưu tập và chỉnh lý
văn học dân gian như: Lý hạng ca dao, Nam ca tân truyện... Ngoài ra, các nhà nho
đã sử dụng chữ Nôm để sáng tác thơ văn, để lại cho thế hệ mai sau những tác phẩm
bất hữu như: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, Bạch Vân quốc ngữ thi của Nguyễn
Bỉnh Khiêm, Truyện Kiều của Nguyễn Du...
Về nguồn gốc chữ Nôm, chữ Nôm xuất hiện trong khoảng thời gian nào, do
ai đặt ra cho đến nay vẫn là một vấn đề không thể trả lời một cách rõ ràng và dứt
khoát. Nhiều nhà nghiên cứu dự đoán chữ Nôm xuất hiện từ thời Bắc thuộc. Theo
Văn Đa Cư Sĩ Nguyễn Văn San cho rằng chữ Nôm có từ đời Sĩ Nhiếp (thế kỷ II),
“Sĩ Vương bắt đầu lấy chữ Hán dịch ra tiếng ta, đến chữ thư cưu thì không biết
tiếng ta gọi là chim gì, chữ dương đào thì không biết tiếng ta gọi là quả gì”. Cho
nên, không phải bao giờ cũng có thể dịch từ chữ Hán sang tiếng nước ta hoặc ngược
lại. Vì vậy khi gặp những tiếng mà không thể dịch ra chữ Hán được thì dùng chữ
Hán mà phiên âm. Và từ đấy, những chữ Hán dùng để phiên âm tiếng nước ta dần
dần hình thành hệ thống văn tự Nôm. Thuyết này được nhiều người sau nhắc đến và
có ý kiến tán thành.
Xét thấy, thuyết trên không có căn cứ cụ thể, có thể suy đoán mà nên, chưa
thỏa đáng, rõ ràng. Cho nên việc nghiên cứu tìm nguồn gốc chữ Nôm vẫn đang
được các nhà nghiên cứu tìm tòi để đưa ra kết quả thuyết phục nhất.
Nhiều người thấy sử chép: Nguyễn Thuyên là người bắt đầu “dùng nhiều
thơ phú bằng quốc âm” (ngã quốc phú thi, đa dụng quốc ngữ, thực tự thử thỉ), vội
12
cho rằng chữ Nôm được phát minh từ thế kỷ XIII, do Nguyễn Thuyên khởi xướng.
Suy luận như vậy chưa thật hợp lý vì sử chỉ ghi việc ông làm thơ phú bằng chữ
Nôm, chứ không hề nói ông là người đặt ra chữ Nôm.
Còn nhiều giả thuyết dự đoán sự ra đời của chữ Nôm. Đến nay, nhiều nhà
nghiên cứu đã vận dụng tất cả các cứ liệu cần thiết đưa ra giả thuyết: “Về chữ Nôm
có thể trong thời Bắc thuộc do nhu cầu ghi chép công việc hành chánh, yêu cầu dạy
chữ Hán cho người Việt, gặp khi phải ghi âm tiếng Việt, tên người, tên đất, tên vật
của người Việt, khi dịch chữ Hán sang tiếng Việt... không có âm trong chữ Hán thì
bọn người Trung Quốc lúc bấy giờ đã mượn chữ Hán mà đặt ra những chữ mới để
ghi. Và không phải chỉ người Trung Quốc mà tầng lớp người Việt trí thức đương
thời cũng tham gia vào việc đó. Như vậy, chữ Nôm có thể đã ra đời trong thời Bắc
thuộc khi chữ Hán đã tương đối phát triển, nhưng ở thời kì ấy chữ Nôm còn lẻ tẻ
chưa thành hệ thống, việc sử dụng còn hạn chế. Phải đến thời kì nhà nước độc lập
thì chữ Nôm mới có điều kiện phát triển trở thành một hệ thống văn tự riêng. Và với
tư cách là một văn tự thực thụ, chữ Nôm đã manh nha cuối thế kỷ VIII và dần dần
hình thành từ thế kỷ X trở đi. Đến thế kỷ XI, thế kỷ XII, chữ Nôm tiếp tục phát triển,
tự hoàn chỉnh thêm. Để rồi đến thế kỷ XIII thì chữ Nôm đã được khẳng định thực
sự, đã đầy đủ khả năng để ghi âm ngôn ngữ dân tộc” [14; tr.142, 143]. Từ sự hình
thành và phát triển của chữ Nôm, phong trào thơ Nôm khi đó có điều kiện bắt đầu
phát triển với những tác giả mở đầu: Nguyễn Thuyên, Trần Nhân Tông, Nguyễn Sĩ
Cố, Chu An... Sự ra đời của chữ Nôm quả đã có những đóng góp tích cực vào việc
nâng cao địa vị của tiếng Việt, thúc đẩy sự phát triển đời sống tinh thần của xã hội
Việt Nam thời trung đại. Đặc biệt, nó có một tác dụng rất lớn đối với việc sáng tác
và truyền bá những tác phẩm bằng ngôn ngữ dân tộc.
1.2. Thơ Nôm Đường luật trong nền văn chương trung đại Việt Nam
1.2.1. Đôi nét về thơ Đường luật
1.2.1.1. Khái niệm về thơ Đường luật
Thơ Đường luật là thể thơ đặt ra từ đời nhà Đường, phải theo niêm luật nhất
định.
13
1.2.1.2. Những quy định trong thơ Đường luật
Trong lối thơ Đường luật có những điều cần phải xét:
 Về vần thơ: Vần (chữ nho là vận) là những thanh âm hòa hiệp đặt vào
hai hay nhiều câu văn để hưởng ứng nhau. Thơ Đường luật thường dùng vần bằng,
đôi khi mới dùng vần trắc. Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi. Trong bài
thơ có 5 vần được gieo ở cuối câu đầu (tức câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (tức câu
2, 4, 6 và 8). Mỗi bài thơ chỉ dùng một vận (độc vận), nếu gieo vần “mưa” với
“mây” thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận
hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên.
Ví dụ: Thu điếu của Nguyễn Khuyến, bài thơ gieo vần eo ở câu 1, 2, 4, 6, 8:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối buông cầu lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.”
 Về đối: là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ của hai câu ấy cân
xứng với nhau. Buộc phải đối giữa câu 3 và câu 4, câu 5 và câu 6. Đối thì phải đối
nghiêm chỉnh về thanh và ý.
+ Đối thanh: thanh trắc (T) đối với thanh bằng (B). Thanh bằng (B) là
những tiếng hay chữ không có dấu như: hoa, âm, thanh... và những tiếng hay chữ có
dấu huyền ( ` ) như: hòa, người, trời... Thanh trắc (T) là những tiếng hay chữ có dấu
sắc ( ' ), dấu hỏi ( ? ), dấu ngã ( ~ ), và dấu nặng ( . ). Ví dụ: lá, đáo, tưởng, đỉnh,
cũ, vĩ, tự, lộ...
Ví dụ: Câu 3 và 4 trong bài thơ Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan:
“Lom (B) khom (B) dưới (T) núi (T) tiều (B) vài (B) chú (T)
Lác (T) đác (T) bên (B) sông (B) chợ (T) mấy (T) nhà (B).”
14
+ Đối ý: ý của hai từ phải ngang nhau mới đối với nhau được, có khi ý
của hai từ có tính chất phản thán, ví dụ:
“Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.”
(Bạch vân quốc ngữ thi, bài 73 – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Cũng có khi ý của hai từ lại có tính chất bồi thán, ví dụ:
“Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Đường cũ lâu đài bóng tịch dương.”
(Hoài cổ – Bà Huyện Thanh Quan)
 Về luật thơ: đó là sự quy định thanh bằng, thanh trắc trong từng câu
theo hệ thống ngang toàn bài. Nếu chữ thứ 2 trong câu đầu là thanh bằng (B) thì bài
thơ đó theo luật bằng, nếu chữ thứ hai trong câu đầu là thanh trắc (T) thì bài thơ đó
theo luật trắc. Trong bài thơ có quy định chặt chẽ về vị trí của thanh bằng, thanh
trắc và sự phối hợp các thanh với nhau gọi là niêm luật. Theo hệ thống ngang, các
chữ thứ 2, 4, 6 phải theo đúng luật (nhị, tứ, lục phân minh), làm sai thì gọi là thất
luận. Các chữ thứ 1, 3, 5 có thể thay đổi (nhất, tam, ngũ bất luận). Luật bằng trắc
trong thể thất ngôn tứ tuyệt và thất ngôn bát cú có thể nôm na liệt kê như sau, nếu
chỉ vần bằng bằng chữ “B”, vần trắc bằng chứ “T”, những vần không có luật để
trống, thì luật trong các chữ thứ 2, 4, 6, 7 có thể viết là:
Luật vần bằng
 Thất ngôn tứ tuyệt
Câu số Vần Ví dụ: Mời trầu – Hồ Xuân Hương
1 B T B B Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
2 T B T B Này của Xuân Hương mới quệt rồi
3 T B T T Có phải duyên nhau thì thắm lại
4 B T B B Đừng xanh như lá, bạc như vôi
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7


15
 Thất ngôn bát cú
Câu số Vần Ví dụ: Thương vợ – Trần Tế Xương
1 B T B B Quanh năm buôn bán ở mom sông
2 T B T B Nuôi đủ năm con với một chồng
3 T B T T Lặn lội thân cò khi quãng vắng
4 B T B B Eo sèo mặt nước buổi đò đông
5 B T B T Một duyên hai nợ âu đành phận
6 T B T B Năm nắng mười mưa dám quảng công
7 T B T T Cha mẹ thoái đời ăn ở bạc
8 B T B B Có chồng hờ hửng cũng như không
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7
Luật vần trắc
 Thất ngôn bát cú
Câu số Vần Ví dụ: Vịnh cái quạt (I) – Hồ Xuân Hương
1 T B T B Một lỗ sâu sâu mấy cũng vừa,
2 B T B B Duyên em dính dáng tự ngàn xưa.
3 B T B T Vành ra ba góc da còn thiếu,
4 T B T B Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.
5 T B T T Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
6 B T B B Che đầu quân tử lúc sa mưa.
7 B T B T Nâng niu ướm hỏi người trong trướng,
8 T B T B Phì phạch trong lòng đã sướng chưa ?
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7
16
 Thất ngôn tứ tuyệt
Câu số Vần Ví dụ: Mai, bài 1 – Nguyễn Trãi
1 T B T B Xuân đến hoa nào chẳng tốt tươi,
2 B T B B Ưa mi vì tiết sạch hơn người.
3 B T B T Gác Đông ắt đã từng làm khách,
4 T B T B Há những Bô tiên kết bạn chơi.
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7
- Về niêm: xét theo hệ thống dọc, các câu thơ trong bài phải dính với
nhau từng đôi một (câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu
5, câu 6 niêm với câu 7), làm sai thì gọi là thất niêm.
Chẳng hạn với luật vần bằng:
1. -B-T-BB
2. -T-B-TB
3. -T-B-TT
4. -B-T-BB
5. -B-T-BT
6. -T-B-TB
7. -T-B-TT
8. -B-T-BB
Ví dụ:Trong bài Thương vợ – Trần Tế Xương, câu thứ 2 và thứ 3:
“Nuôi đủ năm con với một chồng
lặn lội thân cò khi quãng vắng.”
 Về bố cục: một bài thơ bát cú có 4 phần:
+ Đề: gồm có phá đề (câu 1 mở đầu hoặc giới thiệu câu chuyện) và
thừa đề (câu 2 nối tiếp ý của phá đề chuyển vào thân bài).
+ Thực: thực hoặc trạng gồm câu 3 và câu 4 nói lên ý định, nội dung
bài thơ.
17
+ Luận: gồm câu 5 và câu 6 bàn luận rộng thêm về nội dung, tả cảnh
hoặc tình cảm.
+ Kết: gồm câu 7 và câu 8 chuyển ý và tóm tắt, hoặc có ý mới gây xúc
cảm hay tạo suy nghĩ thêm.
Ví dụ: Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh Quan:
Hai câu đề: “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa
Hai câu thực: Lom khom dưới nuí tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mâý nhà
Hai câu luận: Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Hai câu kết: Dừng chân đứng lại: trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.”
Tuy nhiên, một số nhà thơ nhiều khi không để cho bố cục trên gò bó. Ví dụ
như Bảo kính cảnh giới, bài 43 – Nguyễn Trãi:
“Rồi hóng mát thuở ngày trường
Hoè lục đùn đùn tán rợp gương
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ
Hồng liên trì đã tiễn mùi hương
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương.”
Dựa vào nội dung bài thơ, nhiều nhà nghiên cứu chia bài thơ thành hai
phần, phần thứ nhất: bức tranh thiên nhiên, cuộc sống và phần thứ hai: vẻ đẹp tâm
hồn của Nguyễn Trãi. Và cũng có thể chia theo nhiều cách khác nhau, nhưng theo
bố cục: đề, thực, luận, kết thì không hợp lí ở bài thơ này.
Khi bàn về nhịp thơ: câu thơ thường ngắt theo nhịp 4/3 hay 2/2/3, nói chung
theo thi luật Trung Hoa đều ngắt nhịp “chẵn trước, lẻ sau”.
18
1.2.2. Cở sở hình thành và phát triển thơ Nôm Đường luật
Văn học viết bằng chữ Hán, một thứ chữ cách biệt với ngôn ngữ hằng ngày
của dân tộc Việt, cho nên nó ít được phổ biến trong nhân dân. Khi cần phản ánh
hiện thực sinh động và cụ thể của đất nước, hay muốn phát biểu tâm tư tình cảm
thầm kín của con người Việt thì tác phẩm chữ Hán không đáp ứng được. Và người
Việt nếu làm thơ chữ Hán là chọn thơ luật Đường. Sáng tác thơ luật Đường phải
tuân theo những phép tắc nghiêm ngặt cho nên, “những người làm thơ chữ Hán
không giãy giụa gì cả” [26; tr.159].
Nhằm khắc phục những khuyết điểm trong việc làm thơ luật Đường bằng
chữ Hán, cha ông chúng ta đã chuyển sang sáng tác thơ quốc âm. Tác phẩm viết
bằng ngôn ngữ dân tộc so với tác phẩm viết bằng chữ Hán thì nó có thể phản ánh
hiện thực cuộc sống bình thường của nhân dân một cách linh hoạt và cụ thể hơn, có
thể xây dựng những hình tượng văn học đậm đà màu sắc dân tộc hơn và dễ thấm
sâu hơn vào cảm quan của công chúng.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, việc sử dụng chữ Nôm làm thơ Đường luật
phôi thai từ thời Trần do Nguyễn Thuyên khởi xướng. Theo sử chép, năm Nhâm
Ngọ (năm 1282) niên hiệu Thiên Bảo, thứ 4 đời Trần Nhân Tông, tháng 8 mùa thu
có con cá sấu đến sông Phú Lương, nhà vua sai quan hình bộ thượng thư là Nguyễn
Thuyên làm bài văn thả xuống sông, cá sấu tự nhiên bỏ đi, nhà vua thấy việc đó
giống như việc Hàn Dũ (người Trung Quốc) đã làm, bèn cho Nguyễn Thuyên đổi
họ Hàn, gọi là Hàn Thuyên. Sử còn chép thêm, Nguyễn Thuyên là người có tài làm
thơ phú bằng quốc ngữ, nhiều người bắt chước. Vì thế sau này làm thơ quốc âm còn
gọi là Hàn luật. Có người cho rằng bài văn tế cá sấu đó viết bằng chữ Nôm, và
Nguyễn Thuyên là người đặt ra Hàn luật. Nhưng điều đó không lấy gì là chắc chắn,
vì nguyên văn trong Toàn thư chép là: “Vi văn đầu chi giang trung” nghĩa là làm
bài văn nén xuống sông chứ không nói bài văn đó thuộc loại văn gì, thể văn nào và
viết bằng chữ gì... Trong Văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm cho rằng: thực ra Hàn
luật không do Hàn Thuyên đặt ra, đó là luật thơ đời Đường. Nhưng mà, Hàn
Thuyên là người đầu tiên áp dụng thể thơ Đường luật để làm thơ quốc âm trước
nhất, gây một tiếng vang trong văn đàn lúc bấy giờ, cho nên người ta mới gọi luật
19
thơ Nôm là Hàn luật. Và ông có thể được xem là vị tổ lối thơ phú quốc âm. Tác
phẩm chính của ông là Phi sa tập, trong đó có thơ phú chữ Hán và cả chữ Nôm.
Nhưng tất cả đều thất truyền không thể nào biết được giá trị của nó.
Không chỉ có một mình Hàn Thuyên là người duy nhất làm thơ quốc âm,
cùng thời đó, một tập thơ Nôm đề vịnh Chiêu Quân cống Hồ để chỉ chích việc gả
Huyền Trân công chúa cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân (năm 1306), theo
Đại Việt sử kí toàn thư có chép: “Các văn sĩ trong triều ngoài nội nhiều người
mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu Quân gã cho Hung Nô làm lời thơ bằng quốc
ngữ để chê cười” [18; tr.567]. Nhưng đó chỉ là tác phẩm vô danh không thể xác
định được. Xem thế đủ biết việc sáng tác thơ Nôm đã là một việc khá phổ biến
trong văn nhân cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV.
Sau Nguyễn Thuyên, có Nguyễn Sĩ Cố. Ông nổi tiếng đương thời về tài làm
thơ Nôm, nhưng những tác phẩm của ông cũng đều thất truyền.
Trong thế kỷ XIV có Chu An cũng sáng tác thơ Nôm. Theo sử chép thì Chu
An có viết Quốc ngữ thi tập, nhưng không cho biết thêm gì về nội dung sách đó.
Căn cứ vào tên sách Quốc ngữ thi tập thì chưa đủ chứng minh rằng đó là một tập
thơ Nôm. Tuy vậy, rất có thể Chu An đã sáng tác thơ Nôm, vì ông là một nhà nho
ẩn dật sống gần gũi với nhân dân trong phần lớn cuộc đời mình. Đồng thời với Chu
An lại có Trần Ngạc (con của Trần Nghệ Tông) cũng hay làm thơ Nôm.
Tác giả thơ Nôm có tiếng vào cuối thế kỷ XIV là Hồ Quý Ly, ông vua đầu
tiên nêu chủ trương dùng chữ Nôm thay chữ Hán trong công văn, chiếu chỉ và cho
dịch kinh sách chữ Hán sang chữ Nôm. Bản thân Hồ Quý Ly cũng có sáng tác thơ
văn bằng chữ Nôm. Và sử có chép vua Nghệ Tông cho Quý Ly một thanh gươm có
khắc dòng chữ đề tặng, sau đó ông có làm thơ quốc ngữ để tạ ơn. Nhưng tất cả đều
bị nhà Minh tiêu hủy. Sau này, khi thoát khỏi ách thống trị của nhà Minh, Nguyễn
Trãi đã thu thập lại được 30 bài thơ chữ Nôm của ông nhưng rồi đến lượt Nguyễn
Trãi bị nạn thì tất cả đều đã thất lạc.
Từ khi ra đời, đến cuối thế kỷ XIV, thơ Nôm Đường luật xét về số lượng
tuy không nhiều và hầu như không giữ được bài thơ nào. Nhưng trong nhân gian
tương truyền một bài thơ của nàng Điển Bích xuất hiện ở đời Trần:
20