Rui ro doi voi nganh ban le vn trong boi canh hoi nhap tpp va cac fta

  • 136 trang
  • file .pdf
NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH
RỦI RO ĐỐI VỚI NGÀNH BÁN LẺ VIỆT NAM
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP TPP VÀ CÁC FTA
Hiện trạng và các Đề xuất chính sách
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
MỤC LỤC
Lời nói đầu .................................................................................................... 1
Phần thứ nhất
RỦI RO ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VÀ NGÀNH BÁN LẺ VIỆT NAM .. 3
I. Thị trường bán lẻ Việt Nam ............................................................... 3
1. Diễn tiến thị trường bán lẻ Việt Nam ................................................. 3
2. Hiện trạng và triển vọng thị trường bán lẻ Việt Nam .......................... 6
II. Ngành bán lẻ Việt Nam ..................................................................... 14
1. Tình hình chung của ngành bán lẻ .................................................... 14
2. Thực trạng ngành bán lẻ thông qua nhóm mẫu điều tra .................... 16
Phần thứ hai CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT NỘI ĐỊA VÀ CÁC CAM
KẾT QUỐC TẾ ẢNH HƯỞNG TỚI NGÀNH BÁN LẺ VIỆT NAM .... 45
I. Chính sách pháp luật nội địa đối với ngành bán lẻ ......................... 45
1. Khung khổ pháp luật cho hoạt động của ngành bán lẻ ...................... 45
2. Các chính sách thúc đẩy sự phát triển của ngành bán lẻ ................... 57
II. Cam kết quốc tế liên quan tới ngành bán lẻ .................................... 63
1. Các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bán lẻ ............................. 66
2. Cam kết quốc tế trong các lĩnh vực khác có ảnh hưởng tới ngành bán
lẻ ......................................................................................................... 73
3. Hiểu biết của doanh nghiệp về các cam kết quốc tế trong lĩnh vực bán
lẻ ......................................................................................................... 83
4. Đánh giá của doanh nghiệp về tác động của TPP và EVFTA trong
lĩnh vực bán lẻ ........................................................................................ 85
Phần thứ ba CÁC ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH NHẰM HỖ TRỢ NGÀNH
BÁN LẺ VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ................................... 88
I. Cơ sở pháp lý và thực tiễn cho các để xuất giải pháp chính sách hỗ
trợ ngành bán lẻ ...................................................................................... 88
1. Cơ sở pháp lý ................................................................................... 88
2. Đặc điểm thực tiễn đối với các biện pháp hỗ trợ ngành bán lẻ .......... 90
II. Đề xuất các biện pháp hỗ trợ cụ thể cho ngành bán lẻ .................... 91
1. Đề xuất chính sách cải thiện nguồn hàng cho ngành bán lẻ .............. 91
2. Đề xuất chính sách hỗ trợ về tài chính .............................................. 99
3. Đề xuất chính sách hỗ trợ về lao động, năng lực chuyên môn bán lẻ
105
4. Đề xuất chính sách hỗ trợ trong cạnh tranh bình đẳng với các doanh
nghiệp FDI ........................................................................................... 108
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
Lời nói đầu
Bán lẻ nói chung và bán lẻ hàng hóa nói riêng là một trong những ngành có
tốc độ tăng trưởng liên tục và ấn tượng trong nhiều năm qua ở Việt Nam.
Trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài, thị trường bán lẻ Việt Nam cũng nằm
trong nhóm những thị trường mới nổi hấp dẫn nhất. Điều này cho thấy đây
thực sự là một ngành dịch vụ nhiều tiềm năng phát triển, mang lại lợi ích đáng
kể cho nền kinh tế.
Trên thực tế, đóng góp của ngành bán lẻ trong nền kinh tế không chỉ dừng lại
ở lợi nhuận và số lượng công ăn việc làm mà ngành này tạo ra. Với vai trò là
khâu kết nối không thể thiếu giữa sản xuất với tiêu dùng, sự vận hành của
hoạt động bán lẻ có ý nghĩa quan trọng đối với các ngành sản xuất hàng hóa
phục vụ tiêu dùng cả ở góc độ sản phẩm đầu ra, các yếu tố đầu vào và tỷ suất
lợi nhuận. Nói cách khác, sự phát triển của ngành bán lẻ không chỉ có ý nghĩa
với riêng ngành này mà còn kéo theo sự phát triển của hầu hết các ngành sản
xuất trong nền kinh tế.
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, đặc biệt với việc Việt Nam tham gia Hiệp
định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do
với EU (EVFTA) – hai Hiệp định có cam kết mạnh trong mở cửa thị trường
bán lẻ cũng như xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hóa,
ngành bán lẻ Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức lớn. Sự có mặt và
liên tục mở rộng quy mô của các nhà bán lẻ lớn trên thế giới đang khiến cạnh
tranh trong lĩnh vực này của các nhà bán lẻ Việt Nam ngày càng khó khăn.
Cạnh tranh cũng khiến các nhà bán lẻ Việt Nam bộc lộ những điểm yếu về lao
động, tính chuyên nghiệp, năng lực quản lý, công nghệ kiểm soát quy
trình…Những hệ quả đầu tiên đã được nhận diện, với một số lượng đáng kể
các doanh nghiệp bán lẻ rời khỏi thị trường cũng như những khó khăn của các
nhà sản xuất nội trong việc đưa hàng hóa vào các hệ thống bán lẻ nước ngoài.
Để vượt qua tình trạng này, một mặt, các nhà bán lẻ Việt Nam cần có hành
động cụ thể để cải thiện cơ bản năng lực cạnh tranh của mình, mặt khác cần
1
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
có các chính sách hỗ trợ hợp lý từ phía Nhà nước nhằmgiúp ngành này khắc
phục những tồn tại mang tính hệ thống mà từng doanh nghiệp không thể giải
quyết được hoặc khó có thể giải quyết hiệu quả.
Nghiên cứu “Rủi ro của Ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập –
Hiện trạng và Đề xuất chính sách”này được thực hiện nhằm đánh giá hiện
trạng các vấn đề tồn tại, cản trở sự phát triển của ngành bán lẻ Việt Nam, đặc
biệt là trong bối cảnh hội nhập TPP, EVFTA và các Hiệp định thương mại tự
do, từ đó đề xuất các chính sách cụ thể nhằm hỗ trợ, thúc đẩy ngành bán lẻ
phát triển bền vững, qua đó đóng góp vào sự phát triển của các ngành sản xuất
cũng như gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng.
Nghiên cứu được Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam
(AVR) thực hiện trong khuôn khổ Dự án “Tăng cường vai trò của các Hiệp hội
doanh nghiệp Việt Nam trong tham vấn xây dựng chính sách phát triển ngành” do
Đại sứ quán Úc tài trợ, Quỹ Châu Á quản lý.
Hy vọng rằng các nội dung trong Nghiên cứu sẽ có ý nghĩa trong việc xây
dựng Chiến lược tổng thể phát triển thị trường trong nước giai đoạn đến 2025,
tầm nhìn 2035 theo yêu cầu của Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của
Chính phủ cũng như trong hoạch định các chính sách, pháp luật cụ thể nhằm
triển khai các nội dung trong Chiến lược nói trên.
Trung tâm WTO và Hội nhập
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
2
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
Phần thứ nhất
RỦI RO ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VÀ NGÀNH BÁN
LẺ VIỆT NAM
Phần này sẽ tập trung phân tích hiện trạng của thị trường bán lẻ cũng
như ngành bán lẻ Việt Nam, xác định các điểm tồn tại, bất cập của ngành
cũng như các nguyên nhân dẫn tới các tồn tại đó. Đây sẽ là cơ sở để xây dựng
các đề xuất chính sách thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành bán lẻ trong
Phần sau của Nghiên cứu này.
Ngành bán lẻ trong Nghiên cứu này bao gồm tất cả các chủ thể kinh
doanh (doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các cơ sở kinh doanh cá thể…) có hoạt
động cung cấp/bán trực tiếp hàng hóa tới người tiêu dùng, không phụ thuộc
vào hình thức kinh doanh (siêu thị, chợ, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện
lợi, cửa hàng chuyên doanh…), cũng không căn cứ vào nguồn hàng (hàng hóa
do chủ thể bán lẻ tự sản xuất hay do chủ thể bán lẻ mua từ các nguồn khác).
I. Thị trường bán lẻ Việt Nam
1. Diễn tiến thị trường bán lẻ Việt Nam
Thị trường bán lẻ Việt Nam được cho là đã hình thành từ rất lâu, gắn
với sản xuất nông nghiệp và văn hóa trao đổi, mua bán nhỏ lẻ. Mô hình bán lẻ
truyền thốngphổ biến nhất là các chợ1, các gánh hàng xén di động ở các khu
vực nông thôn. Từ thế kỷ thứ XVI-XVII, khi giao thương bắt đầu được mở
rộng với bên ngoài (Nhật, Trung Quốc, Hà Lan…), đặc biệt ở các đô thị ven
sông2, xuất hiện những mô hình bán lẻ mới (các cửa hàng, các khu vực bao
gồm các cửa hàng cùng bán một loại hàng hóa). Mặc dù vậy, trong suốt thời
11
Lịch sử văn hóa chợ Việt Nam cho thấy chợ là hình thức bán lẻ phổ biến và lâu đời nhất ở Việt Nam. Chợ
Việt Nam có nhiều dạng khác nhau, phân biệt theo thời điểm họp chợ (chợ phiên họp theo ngày nhất định
trong tháng; chợ họp theo buổi – ví dụ chợ họp buổi sớm mai, chiều hôm…); theo loại hàng hóa được mua
bán tại chơ (chợ tổng hợp – bán nhiều loại hàng hóa, chợ chuyên một số loại sản phẩm nhất định, đặc biệt là
các sản phẩm nông nghiệp – chợ Xanh bán rau, chợ Rồng bán tôm cá), theo địa bàn nơi họp chợ (chợ chùa,
chợ nổi), theo tính chất mua bán (chợ đầu mối, chợ thông thường…)
2
Điển hình là Kinh Kỳ (Hà Nội), Phố Hiến (Hưng Yên), Phố Hội (Hội An)…
3
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
kỳ phong kiến, với tư tưởng trọng nông khinh thương, các hoạt động thương
mại phân phối nói chung và bán lẻ nói riêng không được chú ý phát triển, chỉ
tồn tại phục vụ cho nhu cầu mua bán nhỏ lẻ là chủ yếu.
Trong giai đoạn Pháp thuộc, thương mại nói chung và bán lẻ nói riêng
đã có bước phát triển mới với xuất hiện một đội ngũ tư sản dân tộc, trong đó
có một tỷ lệ đáng kể các thương nhân hoạt động thương mại thuần túy (không
sản xuất, chỉ thực hiện hoạt động mua bán). Sau cách mạng tháng 8/1945, đội
ngũ này tiếp tục duy trì cho tới năm 1954.
Từ sau 1954 đến 1986, trong nền kinh tế kế hoạch hóa - bao cấp, thị
trường phân phối nói chung và bán lẻ nói riêng được kiểm soát bởi các cơ sở
quốc doanh thuộc sở hữu Nhà nước, thông qua các cửa hàng mậu dịch. Hàng
hóa được phân phối qua hệ thống này ban đầu là lương thực, sau là tất cả các
loại nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày cho người tiêu dùng (vải,
hàng quần áo giầy dép, chất đốt, xe đạp…). Việc phân phối được thực hiện
thông qua hệ thống tem phiếu, được phân bổ cho các chủ thể căn cứ vào vị trí,
cấp bậc, số năm làm việc (cán bộ, bộ đội, công nhân lao động cực nhọc, công
nhân thông thường, trẻ em, nông dân…).Người mua phải có tem phiếu mới
được phép mua hàng,chỉ được mua đúng loại hàng, đúng số lượng tương ứng
với loại tem phiếu mình có và phải trả tiền cho hàng hóa mua (tem phiếu
không thay tiền, không dùng để đổi lấy hàng hóa). Người mua không được
lựa chọn hàng hóa (dù chất lượng như thế nào) và phải trả đúng giá quy định.
Chính sách phân phối qua tem phiếu khiến cho thị trường bán lẻ chính thức
đúng nghĩa gần như không tồn tại, không có cạnh tranh giữa các chủ thể kinh
doanh đồng thời cũng không có giao dịch mua bán tự do giữa người bán lẻ và
người tiêu dùng. Hoạt động bán lẻ vẫn tồn tại nhưng chủ yếu dưới hình thức
ngầm (“chợ đen”). Hàng hóa lưu thông ngoài hệ thống tem phiếu rất hạn chế,
giá cao, thường bị đầu cơ.
Từ năm 1986, với chính sách Đổi mới, thừa nhận từng bước kinh tế tư
nhân, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, thị trường bán lẻ xuất hiện
4
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
trở lại và dần trở nên sôi động với sự xuất hiện của các chủ thể kinh doanh tư
nhân (đặc biệt là các cơ sở kinh doanh cá thể) và sự gia tăng dần số lượng
cũng như chất lượng hàng hóa.
Trong những năm tiếp theo, một loạt những thay đổi về thể chế theo
hướng kinh tế thị trường, đặc biệt với sự ra đời của các Luật khuyến khích
đầu tư nước ngoài 1989, Luật Công ty 1992, Luật Doanh nghiệp 1999, Luật
Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2005, Luật Thương mại 2005, Bộ Luật Dân
sự 2005… đã giải phóng khối dân doanh trong các hoạt động kinh tế, thu hút
đầu tư nước ngoài, và tạo khung khổ pháp luật cho các giao dịch mua bán.
Sản xuất mở rộng, nền kinh tế hàng hóa phát triển, hoạt động xuất nhập khẩu
thuận lợi, quyền tự do kinh doanh được ghi nhận, thu nhập của người dân
tăng dần… đã mang đến những điều kiện nền tảng cơ bản cho sự phát triển
của thị trường bán lẻ Việt Nam.
Về số lượng các chủ thể tham gia vào ngành bán lẻ, mặc dù không có
số liệu thống kê đầy đủ về số lượng các chủ thể bán lẻ (cơ sở bán lẻ) trong
thời kỳ này nhưng có thể nhận định được sự gia tăng nhanh chóng của lực
lượng này trong tương quan với sự gia tăng của tổng mức bán lẻ hàng hóa và
sự sôi động của các hoạt động mua bán trên thị trường. Theo số liệu thống kê
thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và tiêu dùng xã hội năm 2002 là 269.000 tỷ
đồng, năm 2005 đạt hơn 450.000 tỷ đồng (tăng gấp rưỡi chỉ sau 3 năm)3.
Về mô hình bán lẻ, trong giai đoạn đầu sau Đổi mới 1986, các mô hình
bán lẻ ở Việt Nam vẫn chủ yếu là các hình thái truyền thống (các chợ, các cửa
hàng bán lẻ truyền thống). Năm 1993, siêu thị (mô hình bán lẻ hiện tại) lần
đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam. Trong những năm sau đó, số lượng các siêu
thị, trung tâm thương mại đã tăng dần nhưng với mức tăng khiêm tốn. Cho
đến năm 2007, khi Việt Nam gia nhập WTO, cả nước mới có khoảng 200-250
siêu thị, trung tâm thương mại4.
3
Báo cáo tình hình kinh tế xã hội 2002, 2005 của Chính phủ
4
Chú ý là việc phát triên các mô hình bán lẻ không chỉ phụ thuộc vào việc các nhà kinh doanh bán lẻ có bắt
kịp được xu hướng thế giới hay không mà còn phụ thuộc lớn vào văn hóa thương mại – bán lẻ và trình độ
5
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
Sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, cùng với việc mở cửa thị
trường cho hàng hóa nước ngoài cũng như các nhà bán lẻ nước ngoài vào Việt
Nam theo các cam kết WTO và các Hiệp định thương mại tự do trong khuôn
khổ ASEAN và ASEAN+,và sự phát triển của nền kinh tế, thị trường bán lẻ
Việt Nam đã có sự bật lên nhanh chóng cả về tổng lượng bán lẻ, số lượng và
quy mô của các chủ thể gia nhập thị trường bán lẻ,cũng như sự bùng nổ của
các mô hình bán lẻ hiện đại.
2. Hiện trạng và triển vọng thị trường bán lẻ Việt Nam
Thị trường bán lẻ Việt Nam được đánh giá là một trong những thị
trường có tốc độ phát triển ấn tượng và hấp dẫn trên thế giới.
Trong khoảng 2011-2015, tổng doanh thu bán lẻ và tiêu dùng cả nước
luôn tăng trưởng dương. Theo số liệu thống kê, tổng doanh thu bán lẻ hàng
hóa năm 2015 là 2.469.879 tỷ đồng, chiếm tới 76.2% tổng mức bán lẻ và
doanh thu tiêu dùng, bằng 163% so tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa năm 2011
(1.578.179 tỷ đồng).
Bảng 1 – Diễn tiến doanh thu bán lẻ hàng hóa Việt Nam
Năm Doanh thu bán Tỷ trọng trong Mức độ tăng
lẻ hàng hóa tổng bán lẻ tiêu trưởng so với
(tỷ đồng) dùng năm liền trước
(%) (%)
2011 1.578.179 78,7 24,1
2012 1.789.600 77,1 15,2
2013 2.009.179 76,7 12,2
2014 2.216.211 75,2 11,3
phát triển nhận thức và hành vi của người tiêu dùng từng thời kỳ. Trong giai đoạn trước, đặc biệt là những
năm liền sau thời kỳ bao cấp, tình trạng thiếu thốn hàng hóa vẫn ở mức tương đối, mức sống của người dân
vẫn ở mức rất thấp, tình trạng trộm cắp vặt vẫn là vấn đề nổi cộm, do đó, việc du nhập các mô hình bán lẻ
hiện đại, dựa trên lựa chọn tự do và sự tự giác của người tiêu dùng là chủ yếu, là chưa thích hợp. Điều này
giải thích tại sao các mô hình bán lẻ hiện đại của thế giới chỉ thực sự nở rộ ở Việt Nam ở giai đoạn sau này.
6
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
2015 2.469.879 76,2 10,6
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Chính phủ các năm 2011-2015
Có thể thấy mặc dù giai đoạn 2011-2015 chứng kiến sự giảm tốc trong
phát triển kinh tế nói chung, của các ngành kinh doanh khác nói riêng, dẫn tới
nhu cầu tiêu dùng bị ảnh hưởng không nhỏ, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn
tiếp tục tăng trưởng. Mặc dù so với chính mình, thị trường bán lẻ Việt Nam
ghi nhận sự giảm tốc dần qua các năm nhưng mức tăng luôn cao hơn gấp 2-3
lần so với mức tăng GDP cả nước, và tất nhiên cao hơn so với nhiều ngành
khác. Tỷ trọng của bán lẻ hàng hóa trong tổng doanh nghiệp bán lẻ và tiêu
dùng chỉ giảm rất nhẹ trong giai đoạn này và vẫn luôn ở mức trên 75%.
Về số lượng các cơ sở bán lẻ, hiện thống kê số liệu giữa các nguồn
không thống nhất. Tuy nhiên, tất cả đều thống nhất rằng con số này là rất lớn
và đang tăng trưởng rất nhanh trong thời gian qua, đặc biệt từ giữa năm 2015
với sự phát triển của hoạt động thương mại, quy mô tiêu dùng, dòng đầu tư
nước ngoài vào thị trường bán lẻ5 và việc gia nhập thị trường bán lẻ của một
số doanh nghiệp lớn trong nước6.
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương được dẫn bởi nhiều bài
báo7, khoảng cuối năm 2015, đầu 2016, cả nước có gần 9.000 chợ các loại,
khoảng 830 siêu thị và 150 trung tâm thương mại. Tỷ trọng hàng hóa bán qua
hệ thống thương mại hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại…chiếm 25-
30% tổng mức bán lẻ và có xu hướng tăng lên. Thị phần của chợ truyền thống
vẫn đang áp đảo, với khoảng 70-80% lượng hàng hóa.
Số liệu năm 2015-2016 nói trên có lẽ là tương đối phù hợp với số liệu
được trích dẫn trong Báo cáo “Thị trường bán lẻ Việt Nam – Cơ hội và thách
5
Ví dụ Lotte Mart (nhà đầu tư Hàn Quốc, hiện đã có 11 đại siêu thị và dự kiến mở thêm 60 siêu thị cho đến
năm 2020), Aeon (nhà đầu tư Nhật Bản, ba đại siêu thị, mua lại thị phần của nhiều doanh nghiệp bán lẻ nội
địa có sẵn chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện lợi…)
6
Ví dụ Vingroup đã và đang triển khai kế hoạch thực hiện kế hoạch mở 100 siêu thị Vinmart và 1000 cửa
hàng tiện ích Vinmart+
7
Hiện chỉ thấy các bài báo trích dẫn đồng loạt các số liệu này, nêu nguồn là Bộ Công thương, mà không xác
định được văn bản thống kê chính thức từ Bộ Công thương
7
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
thức”, Lê Huy Khôi, Viện Nghiên cứu Thương mại, nêu nguồn từ Tổng cục
Thống kê.
Bảng 2 – Số lượng các cơ sở bán lẻ theo mô hình thương mại
2010 2011 2012 2013 2014
1. Chợ các loại
Cả nước 8.528 8.550 8.547 8.546 8.568
Đồng bằng sông Hồng 1.771 1.782 1.798 1.815 1.823
Trung du và miền núi phía 1.404 1.423 1.407 1.429 1.442
Bắc
Bắc Trung Bộ và duyên hải 2.462 2.427 2.457 2.466 2.482
miền Trung
Tây Nguyên 356 370 368 362 369
Đông Nam Bộ 756 766 778 748 744
Đồng bằng sông Cửu Long 1.779 1.782 1.739 1.726 1.708
2. Siêu thị
Cả nước 571 638 659 724 762
Đồng bằng sông Hồng 148 165 171 171 201
Trung du và miền núi phía 60 63 66 76 89
Bắc
Bắc Trung Bộ và duyên hải 119 144 140 167 172
miền Trung
Tây Nguyên 24 24 25 24 23
Đông Nam Bộ 170 186 195 223 210
8
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
Đồng bằng sông Cửu Long 50 56 62 63 67
3. Trung tâm thương mại
Cả nước 101 116 115 132 139
Đồng bằng sông Hồng 33 38 36 33 40
Trung du và miền núi phía 9 7 10 10 13
Bắc
Bắc Trung Bộ và duyên hải 18 22 24 35 23
miền Trung
Tây Nguyên 1 1 1 1 5
Đông Nam Bộ 36 44 40 46 52
Đồng bằng sông Cửu Long 4 4 4 7 6
Nguồn: Tổng cục Thống kê – dẫn trong Báo cáo “Thị trường bán lẻ Việt Nam – Cơ hội và
thách thức” của Lê Huy Khôi – Viện Nghiên cứu Thương mại
Về bán lẻ thông qua phương thức thương mại điện tử, theo Báo cáo
Thương mại điện tử Việt Nam 2015 của Cục Thương mại điện tử và công
nghệ thông tin – Bộ Công Thương, “ứng dụng thương mại điện tử trong cộng
đồng đã trở thành một trào lưu rộng khắp. Năm 2015, giá trị mua hàng trực
tuyến của một người ước tính đạt 160 USD và doanh số thương mại điện tử
B2C đạt tỷ USD”. Không chỉ trị giá các giao dịch bán lẻ qua mạng tăng cao,
số lượng các websites phục vụ hoạt động bán lẻ/tiếp cận người tiêu dùng cũng
đang có sự gia tăng nhanh chóng. Có thể thấy bán lẻ qua phương thức thương
mại điện tử đang là một xu hướng phát triển quan trọng và đầy tiềm năng của
bán lẻ ở Việt Nam. Và cũng như trên thế giới, bán lẻ qua phương thức điện tử
ở Việt Nam có thể được thực hiện độc lập hoặc kết hợp với bán lẻ qua các mô
hình bán lẻ trực tiếp khác.
9
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
Bảng – Số lượng website thương mại điện tử (TMĐT) đã được xác nhận
thông báo, đăng ký8
Năm Sàn giao Website Website đấu Website TMĐT
dịch TMĐT khuyến mại giá trực tuyến bán hàng
trực tuyến
2013 90 13 13 647
2014 283 60 14 4653
2015 492 75 19 9429
Nguồn: Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2015 của Cục Thương mại điện tử và công
nghệ thông tin – Bộ Công Thương
Về triển vọng của thị trường bán lẻ Việt Nam, các nhận định của các
công ty nghiên cứu thị trường và các chuyên gia trong ngành đều thống nhất
cho rằng thị trường bán lẻ Việt Nam có rất nhiều triển vọng phát triển trong
thời gian tới.
Trên thực tế, trong khoảng gần một thập kỷ qua, quy mô dân số, tăng trưởng
thu nhập đầu người cùng với độ mở của nền kinh tế đã khiến cho Việt Nam
trở thành một trong những thị trường đang phát triển hấp dẫn nhà đầu tư nước
ngoài. Theo xếp hạng trongChỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu (GRDI) do Tập
đoàn Tư vấn thị trường AT Kearney (Hoa Kỳ)9 công bố hàng năm (từ năm
2001 đến nay), kể từ năm 2008 đến nay, trừ năm 2012, Việt Nam liên tục nằm
trong tốp 30 thị trường bán lẻ mới nổi hấp dẫn nhất thế giới cho đầu tư nước
ngoài.
Nhìn sâu hơn một chút thì có thể thấy vị trí của Việt Nam trong Chỉ số
GRDI đang giảm dần theo thời gian. Tuy nhiên, do Chỉ số GRDI chỉ đánh giá
8
Số lượng website TMĐT đã được xác nhận đăng ký, thông báo cộng dồn qua các năm
9
Xem các Báo cáo GRDI chi tiết tại https://www.atkearney.com/site-
search?q=Global+Retail+Development+Index&submit=Search
10
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
thị trường thông qua 04 yếu tố quan trọng trong mắt nhà đầu tư nước ngoài10,
có thể xảy ra tình huống thị trường bản chất vẫn phát triển nhưng do đã có
nhiều nhà đầu tư trong nước tham gia nên không còn hấp dẫn trong mắt nhà
đầu tư nước ngoài. Do đó, mặc dù vị trí trong Chỉ số GRDI có giảm, Việt
Nam vẫn là một trong những thị trường bán lẻ có động lực phát triển mạnh
mẽ, ít nhất là trong hiện tại cũng như trong tương lai gần.
Bảng 3 – Việt Nam trong các bảng xếp hạng Chỉ số GDRI 2008-201611
Năm Vị trí Điểm sô Điểm số Điểm số Điểm số
trong Mức độ rủi ro Độ hấp Độ bão Áp lực
bảng của quốc gia dẫn của hòa của thời gian
GDRI và trong kinh thị trường thị trường (/100)
(/30) doanh (/100) (/100)
(/100)
2008 1 57 34 67 99
2009 6 34 16 74 97
2010 14 49.4 12.3 50.2 89.1
2011 23 35.0 8.4 48.8 85.1
2012 - - - - -
2013 - - - - -
2014 28 21.9 3.8 75.0 55.7
2015 - - - - -
2016 11 24.5 22.7 68.7 87.4
Nguồn: Báo cáo Chỉ số GRDI các năm 2008-2016, AT Kearney
10
Bao gồm Mức độ rủi ro của quốc gia và trong kinh doanh (Country and business risk), Độ hấp dẫn của thị
trường (Market attractiveness), Độ bão hòa của thị trường (Market saturation) và Áp lực thời gian (Time
pressure)
11
Các trường hợp dữ liệu để trống là các năm mà Việt Nam không lọt vào Danh sách 30 thị trường bán lẻ
mới nổi hấp dẫn nhất
11
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
Có nhiều yếu tố cho thấy thị trường bán lẻ Việt Nam là khu vực sẽ tiếp
tục chứng kiến sự tăng trưởng và mang lại lợi nhuận cao.
Động lực đáng kể nhất cho dự báo tăng trưởng này là quy mô tiêu dùng
ở Việt Nam với dân số trên 91,7 triệu người, cơ cấu dân số vàng cho tiêu
dùng (51,7% trong độ tuổi từ 15 trở lên), 34,3% sống ở khu vực thành thị,
GDP bình quân đầu người năm 2015 là 45,7 triệu đồng, tương đương 2109 đô
la Mỹ (số liệu năm 2015)12. Theo một số nguồn thì trong quy mô dân số này,
có tới 60% là tiêu dùng trẻ, tầng lớp trung lưu với thu nhập khá và sức tiêu
dùng lớn đang gia tăng nhanh chóng. Hơn nữa, theo kết quả khảo sát của
Nielsen thì niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam luôn đạt vị trí cao trong so
sánh với người tiêu dùng ở các thị trường trên thế giới. Theo báo cáo mới
nhất của tổ chức này thì Niềm tin của người tiêu dùng Việt tiếp tục đạt vị trí
cao trong quý 1/2016 – đứng vị trí thứ 05 toàn cầu và đứng thứ 3 ở khu vực
Đông Nam Á (sau Phillippines và Indonesia, thậm chí cao hơn Thái Lan,
Singapore, Malaysia…)13.Đây là cơ sở cho thấy nhu cầu tiêu dùng sẽ tiếp tục
gia tăng trong thời gian tới, đẩy triển vọng thị trường bán lẻ Việt Nam đi lên.
Về mô hình bán lẻ, có căn cứ để cho rằng các mô hình bán lẻ hiện đại
như siêu thị cỡ vừa-nhỏ, cửa hàng tiện lợi sẽ tiếp tục đà phát triển mạnh trong
thời gian tới, tương ứng với các đặc điểm phát triển của quy mô tiêu dùng
Việt Nam (chủ yếu là tiêu dùng thành thị - nơi diện tích hạn chế, tiêu dùng trẻ
- có nhu cầu về sự thuận tiện và khoảng cách gần). Điều này cũng nằm trong
thông lệ phát triển thị trường bán lẻ của nhiều nước trong khu vực. Theo
thống kê thì tỷ lệ bán lẻ hiện đại trên tổng số các mô hình bán lẻ (cả truyền
thống và hiện đại) của Việt Nam mới chỉ là 25%, thấp hơn rất nhiều so với
các quốc gia cùng khu vực như Thái Lan (34%), Malaysia (60%), Phillippines
(33%), Trung Quốc (51%), Singapore (90%)…14. Liên quan tới bán lẻ qua
phương thức điện tử, theo kết quả khảo sát của Cục Thương mại điện tử và
12
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2015 của Chính phủ
13
Theo Nielsen Việt Nam, http://www.nielsen.com/vn/vi/insights/2016/vietnam-cci-q1-2016.html
14
Theo TS Lê Huy Khôi – Viện nghiên cứu thương mại, “Báo cáo “Thị trường bán lẻ Việt Nam – Cơ hội và
Thách thức”, Kỷ yếu Hội thảo “Thị trường bán lẻ Việt Nam – Cơ hội và Thách thức” của Bộ Công thương tổ
chức ngày 18/5/2016 tại Hà Nội
12
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
công nghệ thông tin Bộ Công Thương năm 2015 trên 967 cá nhân có truy cập
Internet trong phạm vi cả nước, hình thức mua hàng trực tuyến qua website
bán hàng hóa/dịch vụ được lựa chọn nhiều nhất với 76% người trả lời khảo
sát cho biết đã từng mua hàng bằng hình thức này; tỷ lệ người từng mua hàng
qua các diễn đàn, mạng xã hội tăng từ 53% năm 2014 lên 68% năm 2015.
Điều này cho thấy đây thực sự là phương thức bán lẻ rất có tiềm năng trong
tương lai gần.
Về nguồn cung hàng hóa dịch vụ, với sự tăng trưởng của tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) năm 2015là 6,68% (cao hơn mức tăng của các năm từ
2011-2014), nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi rõ nét, qua đó sản xuất gia
tăng, thu nhập được cải thiện và mức tiêu dùng cũng được kỳ vọng là sẽ tăng
lên. Cùng với đó, giai đoạn 03-05 năm sắp tới cũng là giai đoạn thị trường
Việt Nam được mở cửa rất rộng theo các cam kết quốc tế trong khuôn khổ 10
Hiệp định thương mại tự do đã có hiệu lực cũng như 02 Hiệp định (là TPP và
EVFTA) dự kiến có hiệu lực sau 2018. Theo đó, từ 2015 Việt Nam đã loại bỏ
thuế cho 93% số dòng thuế từ các nước ASEAN, tỷ lệ này đến 2018 sẽ là
97%. Cũng trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục sẽ loại bỏ 70-80% số dòng
thuế theo lộ trình đã cam kết trong các Hiệp định ASEAN+, đa phương hoặc
song phương. Việt Nam cũng sẽ mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài trong
các lĩnh vực dịch vụ, qua đó nâng cao cạnh tranh trong các lĩnh vực vốn
thường được bảo hộ, giảm giá thành dịch vụ, kích thích tiêu dùng dịch vụ trực
tiếp cũng như gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất. Nói
cách khác, với việc mở cửa thị trường theo các cam kết quốc tế, nguồn cung
hàng hóa/dịch vụ, số lượng, chủng loại, cũng như giá cả của hàng hóa/dịch vụ
được dự báo sẽ được cải thiện đáng kể, qua đó kích thích và thúc đẩy tiêu
dùng.
Tóm lại, có nhiều cơ sở để cho rằng thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ có
bước phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới, lợi nhuận thu được từ ngành này
cũng được đánh giá là rất đáng kể.
13
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
II. Ngành bán lẻ Việt Nam
1. Tình hình chung của ngành bán lẻ
Về số lượng doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
bán lẻ, số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan đăng ký kinh
doanh) không cho phép xác định cụ thể số doanh nghiệp nội địa đang có hoạt
động kinh doanh trong lĩnh vực bán lẻ trên thực tế15. Tuy nhiên, con số các
doanh nghiệp chuyên bán lẻ hoặc có hoạt động bán lẻ được cho là chiếm ít
nhất khoảng trên 50% tổng số doanh nghiệp16.Từ góc độ các nhà đầu tư nước
ngoài, thống kê của Cơ quan này cho biết, tính lũy kế tới cuối năm 2015, đã
có 1.735 dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa mô
tô – xe máy, với tổng vốn đăng ký là hơn 4,6 tỷ đô la Mỹ, đứng trong nhóm
06 ngành nghề thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn nhất17.
Về số chủ thể bán lẻ hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, cá nhân
kinh doanh, theo Báo cáo Kết quả điều tra Cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể
phi nông nghiệp 2014 của Tổng cục thống kê thì trong 03 năm (2012-2014),
số lượng các cơ sở kinh doanh bán buôn, bán lẻ, sửa chữa xe máy-ô tô là
khoảng trên 2 triệu, với số lao động trên 3 triệu người, tăng nhẹ trong cả giai
đoạn. Với việc tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa luôn chiếm khoảng trên 75%
tổng doanh thu bán lẻ và tiêu dùng, nếu tính tương đương, số lượng các cơ sở
bán lẻ hàng hóa ít nhất cũng phải khoảng 1,8 triệu cơ sở, với khoảng 2,25
triệu lao động.
15
Điều này được lý giải bởi ít nhất 02 lý do: Một là các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh ngành nghề bán lẻ
không nhất thiết sẽ thực hiện hoạt động bán lẻ trên thực tế, và hai là từ 1/7/2015, theo quy định của Luật Đầu
tư 2014, ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp dự kiến thực hiện không còn được ghi trên Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh nữa.
16
Theo ước tính của Hiệp hội bán lẻ Việt Nam thì năm 2010, số các doanh nghiệp chuyên thực hiện hoạt
động thương mại, xuất nhập khẩu là khoảng 150.000-200.000, tức là bằng khoảng 2/3 số doanh nghiệp đang
hoạt động tại Việt Nam ở thời điểm đó.
17
Theo Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, http://fia.mpi.gov.vn
14
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
Bảng 4 – Số cơ sở kinh doanh cá thể ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa xe máy-ô tô
Năm Số cơ sở Số lao động
2012 2.068.508 3.073.742
2013 2.064.013 3.106.137
2014 2.131.308 3.215.280
Nguồn: Báo cáo Kết quả điều tra Cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phi nông nghiệp 2014,
Tổng cục thống kê
Trong tổng thể, có thể thấy ngành bán lẻ đang chiếm một lực lượng
đáng kể trong nền kinh tế (cả về số lượng chủ thể kinh doanh lẫn số lao động
làm việc trong ngành). Đây chắc chắn là ngành kinh doanh có số lượng chủ
thể kinh doanh và lao động cao nhất trong tất cả các ngành nghề kinh tế.
Ngược lại với số lượng chủ thể, quy mô của các chủ thể bán lẻ (cả về
số lượng lao động và doanh thu) lại rất nhỏ, đặc biệt với nhóm chủ thể kinh
doanh bán lẻ dưới hình thức cơ sở kinh doanh cá thể.
Một điểm đáng chú ý là giống như nhiều lĩnh vực khác, trong ngành
bán lẻ, nhóm các chủ thể có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chỉ chiếm một số
lượng rất nhỏ nhưng lại có doanh thu và hiệu quả kinh doanh lớn hơn nhiều
so với mặt bằng chung. Thống kê cho biết về doanh số bán lẻ của khối FDI
chỉ chiếm khoảng 4% (trong so sánh với tỷ lệ 86% của khối dân doanh nội địa
và 10% khối doanh nghiệp Nhà nước), tuy nhiên tỷ lệ doanh thu khiêm tốn
này chủ yếu xuất phát từ lý do số lượng doanh nghiệp trên thị trường hạn chế
(hiện khối FDI chỉ có khoảng 90 điểm bán lẻ trên toàn quốc, trong tổng số
hàng ngàn chợ, siêu thị, trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện lợi và gần 2 triệu
cửa hàng bán lẻ truyền thống của các cơ sở kinh doanh cá thể). Theo đánh giá
thì doanh số bán ra tại một điểm bán lẻ của khối FDI thường cao gấp 3 - 4 lần,
thậm chí 7 - 8 lần so với doanh số một siêu thị nội.18
Số liệu trích dẫn từ “Báo cáo “Thị trường bán lẻ Việt Nam – Cơ hội và Thách thức”, TS Lê Huy Khôi –
18
Viện nghiên cứu thương mại, Kỷ yếu Hội thảo “Thị trường bán lẻ Việt Nam – Cơ hội và Thách thức” của Bộ
Công thương tổ chức ngày 18/5/2016 tại Hà Nội
15
Rủi ro đối với ngành bán lẻ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập TPP và các FTA
Như vậy, ngành bán lẻ Việt Nam đang đóng góp một tỷ lệ đáng kể vào
tổng số các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh cá thể và và giải quyết việc làm
cho khoảng 3-4 triệu lao động Việt Nam. Sự phát triển của ngành này, vì vậy,
sẽ mang lại lợi ích trực tiếp tới một số lớn các doanh nghiệp trong ngành, đến
hàng triệu người lao động (và nhóm dân số sống phụ thuộc vào các lao động
này).
Hơn thế nữa, với vai trò là đầu ra cho sản xuất, ngành bán lẻ, đặc biệt là
mảng bán lẻ hàng hóa còn là khâu quan trọng của toàn bộ chuỗi sản xuất nói
chung của tất cả các ngành sản xuất, do đó sự phát triển của ngành bán lẻ
cũng đồng thời quyết định một phần không nhỏ hiệu quả, lợi nhuận và sự phát
triển của các ngành sản xuất trong nền kinh tế.
Tín hiệu đáng mừng là với triển vọng phát triển của thị trường bán lẻ
Việt Nam, ngành bán lẻ Việt Nam có căn cứ để phát triển trong thời gian tới.
Mặc dù vậy, với những bất cập cố hữu hoặc mới phát sinh trong bối cảnh hội
nhập (sẽ được xem xét trong các phần sau), ngành bán lẻ Việt Nam đang đứng
trước những thách thức lớn.
Sự hỗ trợ từ Nhà nước thông qua các chính sách cần thiết cho ngành
bán lẻ, phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam, sẽ là động lực quan
trọng để ngành bán lẻ Việt Nam tận dụng được các cơ hội thị trường đầy triển
vọng trong bối cảnh hội nhập sắp tới, qua đó mang lại lợi ích cho chính ngành
bán lẻ cũng như tất cả các ngành sản xuất tiêu thụ nội địa của Việt Nam.
2. Thực trạng ngành bán lẻ thông qua nhóm mẫu điều tra
Để xác định chính xác và cập nhật thực trạng cũng như các tồn tại,
vướng mắc của ngành bán lẻ Việt Nam, Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều
tra doanh nghiệp về vấn đề này. Hoạt động điều tra được tiến hành trong
tháng 3-4 năm 2016, đối với mẫu ngẫu nhiên là 1.500 doanh nghiệp có đăng
ký hoạt động bán lẻ hàng hóa (chỉ bán lẻ hoặc sản xuất và bán lẻ các hàng hóa
do doanh nghiệp sản xuất ra) trên toàn quốc và nhận được phản hồi phù hợp
của 100 doanh nghiệp bán lẻ.
16