Quy hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh của thành phố hải phòng

  • 58 trang
  • file .docx
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Viện Môi trường Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam và
sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn Th.S Trần Anh Tuấn em đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu quy hoạch tăng trưởng xanh của thành phố Hải Phòng và đề xuất một số
giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xanh tại thành phố Hải Phòng”.
Để hoàn thành luận văn này, trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô
giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn
luyện tại Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn Th.S Trần Anh Tuấn đã nhiệt
tình giúp em thực hiện luận văn này.
Mặc dù đã cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất. Song do vốn
kiến thức còn hạn hẹp nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân
chưa thấy được. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của thầy cô
và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Bùi Thị Minh Hoài
i
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................1
CHƯƠNG I. PHẦN TỔNG QUAN.............................................................................2
1.1. Định nghĩa tăng trưởng xanh....................................................................................2
1.1.1.Định nghĩa..............................................................................................................2
1.1.2. Tính cần thiết của tăng trưởng xanh......................................................................2
1.2. Một số kinh nghiệm về tăng trưởng xanh................................................................4
1.2.1. Kinh nghiệm tăng trưởng xanh của một số nước trên Thế giới............................4
1.2.2. Thực tiễn tăng trưởng xanh ở Việt Nam...............................................................7
1.3. Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam...........................................................10
1.3.1. Quan điểm chiến lược.........................................................................................10
1.3.2. Mục tiêu của chiến lược......................................................................................10
1.3.3. Nhiệm vụ chiến lược...........................................................................................11
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG TĂNG TRƯỞNG XANH CỦA THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG........................................................................................................................13
2.1. Giới thiệu chung về thành phố Hải Phòng.............................................................13
2.1.1. Điều kiện địa lí, tự nhiên.....................................................................................13
2.1.2.Tiềm năng kinh tế.................................................................................................14
2.2. Tính cần thiết và vai trò của quy hoạch tăng trưởng xanh thành phố Hải Phòng. .15
2.2.1.Tính cần thiết của quy hoạch tăng trưởng xanh...................................................15
2.2.2.Vai trò của quy hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh thành phố Hải Phòng.............16
2.3. Những cơ hội và thách thức để Hải Phòng thúc đẩy tăng trưởng xanh..................16
2.3.1. Những cơ hội để Hải Phòng thúc đẩy tăng trưởng xanh.....................................16
2.3.2. Những thách thức đòi hỏi Hải Phòng thúc đẩy tăng trưởng xanh.......................18
2.4. Nắm bắt hiện trạng một số lĩnh vực.......................................................................25
2.4.1. Lĩnh vực môi trường...........................................................................................25
2.4.2. Lĩnh vực năng lượng...........................................................................................29
2.4.3. Lĩnh vực giao thông............................................................................................30
ii
2.5. Kế hoạch hành động thúc đẩy tăng trưởng xanh thành phố Hải Phòng.................33
2.5.1. Mục đích..............................................................................................................34
2.5.2. Các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu........................................................................34
2.6. Định hướng cơ bản của quy hoạch thúc đẩy tăng trưởng xanh thành phố Hải
Phòng.............................................................................................................................35
2.6.1. Tầm nhìn (năm 2050)..........................................................................................35
2.6.2. Định hướng cơ bản..............................................................................................36
2.6.3. Vai trò của từng chủ thể......................................................................................38
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG
XANH TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.................................................................40
3.1. Lĩnh vực rác thải.....................................................................................................40
3.2. Lĩnh vực Năng lượng.............................................................................................42
3.2.1. Tiết kiệm năng lượng..........................................................................................42
3.2.2. Sử dụng năng lượng hiệu quả..............................................................................43
3.2.3. Áp dụng sản xuất sạch hơn trong nhà máy.........................................................43
3.3. Lĩnh vực giao thông...............................................................................................45
3.3.1. Thúc đẩy quản lý di động....................................................................................45
3.3.2. Xây dựng hệ thống giao thông công cộng ít gây ô nhiễm...................................46
KẾT LUẬN..................................................................................................................49
ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ..............................................................................................50
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................52
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
Chữ viết tắt Tên tiếng anh Tên tiếng việt
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
WMO World Meteorological Organization Tổ chức Khí tượng quốc tế
IPCC Intergovernmental Panel on Climate Ủy ban Liên chính phủ về
Change thay đổi khí hậu
TOE Ton of Oil Equivalent Hệ số chuyển đổi năng lượng
UBND Ủy ban nhân dân
BCHTW Ban chấp hành trung ương
GHG Greenhouse Gas Khí nhà kính
GGS Green Growth Strategy Chiến lược tăng trưởng xanh
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Phân loại và tài nguyên hóa chất thải rắn. 41
DANH MỤC HÌNH
Số hình Tên hình Trang
Hình 1.1 Lũ lụt dữ dội ở Pa-ki-xtan 3
Hình 1.2 Tăng trưởng xanh ở Hàn Quốc 7
Hình 2.1 Thành phố Hải Phòng ngày nay 13
Hình 2.2 Dự báo dân số và GDP tương lai của thành phố Hải Phòng 17
Hình 2.3 Hiện trang và quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội 18
Hình 2.4 Biểu đồ diễn biến biến nhiệt độ ở Hải Phòng 19
Hình 2.5 Biểu đồ biểu diễn số ngày có nhiệt độ tối trên 35oC 20
Hình 2.6 Biểu đồ biểu diễn số ngày có nhiệt độ thấp dưới 15oC 20
Hình 2.7 Biểu đồ xu thế diễn biến lượng mưa ở Hải Phòng 21
Hình 2.8 Biểu đồ biểu diễn lượng mưa cực đoan ở Hải Phòng 22
Hình 2.9 Nhiệt độ bình quân và lượng mưa bình quân hàng năm tại TP.Hải 22
Phòng
Hình 2.10 Xu hướng và dự báo về mực nước triều dâng. 23
Hình 2.11 Hiện trạng ô nhiễm kênh Vĩnh Niệm 25
Hình 2.12 Bãi rác lộ thiên 25
Hình 2.13 Rác thải công nghiệp được chất đống tại khu công nghiệp Đình 27

Hình 2.14 Tình trạng sân chứa tro bùn 27
Hình 2.15 Hiện trạng lượng phát sinh rác thải tại thành phố Hải Phòng và 27
dự kiến đến năm 2025
Hình 2.16 Phương pháp thu gom rác thải tại thành phố Hải Phòng 28
Hình 2.17 Nhà máy phát điện năng lượng mặt trời TP Kitakyushu 29
Hình 2.18 Chi tiết về điện năng tiêu thụ 30
Hình 2.19 Đường cao tốc, sân bay, cảng đường sắt (giao thông đối ngoại) 30
v
Hình 2.20 Ùn tắc giao thông tại tuyến chính 31
Hình 2.21 Ùn tắc tại Quốc lộ 5 31
Hình 2.22 Dự đoán lượng tham gia giao thông sau khi hoàn thiện đường 32
cao tốc
Hình 2.23 Tầm nhìn của Green Port City 36
Hình 3.1 Sơ đồ thu gom, phân loại rác thải 40
Hình 3.2 Hình minh họa về chuyển rác thải thành nguyên nhiên liệu xi 41
măng
Hình 3.3 Hình minh họa về tạo ra các hình thức kinh doanh môi trường 42
Hình 3.4 Sử dụng đèn LED để chiếu sáng 43
Hình 3.5 Tận dụng nguồn ánh sáng tự nhiên 43
Hình 3.6 Đưa công nghệ tiên tiến nhất (lò điện) đối với nhà máy đúc 44
Hình 3.7 Ví dụ về hệ thống phát điện nhiệt thải 44
Hình 3.8 Ví dụ đưa thiết bị phát điện mặt trời tại nhà máy 44
Hình 3.9 Ví dụ đưa thiết bị phát điện gió cỡ nhỏ tại nhà máy 44
Hình 3.10 Ví dụ về thông tin đăng tải ở bến xe bus 45
Hình 3.11 Minh họa quản lý tính lưu động. 46
Hình 3.12 Ví dụ đường dành riêng cho xe đạp 46
Hình 3.13 Ví dụ xe bus điện ít gây ô nhiễm 47
Hình 3.14 Mô hình quản lý vận hành xe bus điện 47
Hình 3.15 Hình minh họa giải pháp cụ thể trong lĩnh vực giao thông 48
vi
MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua, các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với tình hình
chung đó là thách thức do hậu quả các cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội xảy ra liên
tiếp tại nhiều quốc gia. Đồng thời bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức
tạp, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt. Đứng trước những thách thức này,
“Tăng trưởng xanh” được coi là một chương trình toàn diện, tạo ra hướng tiếp cận mới
trong tăng trưởng kinh tế, hướng tới bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, nuôi dưỡng cuộc
sống của con người và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Chính vì vậy nhiều
quốc gia trên thế giới đang tiếp cận theo xu hướng mới này nhằm hướng tới phát triển
bền vững.
Chính phủ Việt Nam đã đưa ra “chiến lược tăng trưởng xanh” năm 2012 nhằm
đạt được các mục tiêu chung của nhân loại về bảo vệ môi trường đặc biệt là vấn đề trái
đất đang nóng lên. Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ cũng đã đưa ra quyết định về “Kế
hoạch hành động tăng trưởng xanh” để cụ thể hóa chiến lược này.
Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương- là đô thị loại1cấp quốc
gia. Đã từ lâu thành phố Hải Phòng là một cảng biển lớn nhất miền Bắc, một hệ thống
giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thủy, bộ, đường sắt, hàng không trong
nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô và các thành phố phia bắc; là đầu mối
giao thông quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tuy nhiên, thành phố Hải
Phòng lại đang gặp những vấn đề về môi trường như vấn đề chất thải rắn, ô nhiễm
không khí và ô nhiễm chất lượng nước các khu vực công cộng, vấn đề về ùn tắc giao
thông…việc thực chính sách và các biện pháp vừa có thể phát triển bền vững kinh tế
xã hội vừa quan tâm đến môi trường đang là nhiệm vụ cấp thiết của thành phố. Thành
phố đang hướng tới hình ảnh môi trường đô thị tiến tiến “Green Port City” trên cơ sở
tận dụng các kinh nghiệm, bí quyết và công nghệ về cải thiện môi trường của một số
nước tiên tiến trên thế giới. Với sự hỗ trợ của Bộ Môi trường Nhật Bản, thành phố Hải
Phòng, thành phố Kitakyusyu đã cùng hợp tác lập “Quy hoạch thúc đẩy tăng trưởng
xanh” nhằm thực hiện cụ thể “Chương trình hành động chiến lược tăng trưởng xanh
của thành phố Hải Phòng” do Sở kế hoạch và đầu tư thành phố Hải Phòng tổng hợp,
UBND thành phố Hải Phòng phê duyệt tháng 7 năm 2014.
Sau đây em xin trình bày một cách tổng quát nhất về “Quy hoạch thúc đẩy tăng
trưởng xanh của thành phố Hải Phòng” và một số giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xanh
tại thành phố Hải Phòng. Rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.
1
CHƯƠNG I. PHẦN TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa tăng trưởng xanh
1.1.1.Định nghĩa [10]
Tăng trưởng xanh được nhiều tổ chức định nghĩa như sau:
Theo Hàn Quốc: “Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng đạt được bằng cách tiết
kiệm và sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng hiệu quả để giảm thiểu biến đổi
khí hậu và thiệt hại tới môi trường, tạo ra các động lực tăng trưởng mới thông qua
nghiên cứu và phát triển công nghệ xanh, tạo ra cơ hội việc làm mới và đạt được sự hài
hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường”.
Theo Tổ chức Sáng kiến tăng trưởng xanh của Liên Hợp Quốc: “Tăng trưởng
xanh hay xây dựng nền kinh tế xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ
sở hạ tầng để đạt được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và
tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên
thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng cho xã hội”.
Theo Tổ chức hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (Organization for
Economic Co-operation and Development): “Tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng
trưởng, và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục
cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường cần thiết cho cuộc sống chúng ta. Để
thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi
mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế
mới”.
Định nghĩa tăng trưởng xanh của Việt Nam: “Tăng trưởng xanh là sự tăng
trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm lợi
dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua
việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện
đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó
với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy quá trình
phát triển kinh tế bền vững”.
1.1.2. Tính cần thiết của tăng trưởng xanh
a, Trên thế giới
Vấn đề môi trường và phát triển bền vững đã được thảo luận rất nhiều năm qua
nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn. Với hơn 500 Công ước và văn bản được
xây dựng từ sau năm 1992 và với hơn 100 nước thông báo rằng họ đang thực hiện
“chiến lược phát triển bền vững quốc gia” (Liên hợp quốc, 2011), dường như thế giới
2
đang thực hiện chương trình phát triển bền vững một cách đầy đủ và hiệu quả. Tuy
nhiên, việc thực hiện bị cản trở bởi một khuôn khổ tràn lan và vụn vặt, những hành
động chồng chéo và sao chép, sự quản lý tùy tiện và không nhất quán (Liên hợp quốc,
2010b). Trong khi hệ sinh thái- với tài nguyên hữu hạn và khả năng hấp thụ chất thải
đang tiến đến bão hòa thì việc tìm ra chiến lược tăng trưởng mới thiết thực hơn, cụ thể
hơn là vô cùng cần thiết. [4]
Hai thập kỉ qua, thế giới đã chứng kiến hàng loạt các cuộc khủng hoảng về kinh
tế, xã hội cũng như môi trường. Các thảm họa thiên nhiên xảy ra với tần suất liên tục,
phá vỡ mức độ tàn phá trước đây. Từ năm 2010 đến nay đã xảy trận lũ lụt dữ dội chưa
từng có ở Pa-ki-xtan, Thái Lan, đợt nắng nóng nhất từ 1000 năm qua ở Nga, lở đất
kinh hoàng ở Trung Quốc, Châu Âu chìm trong biển nước, động đất ở Haiti, Chile,
Nhật Bản…Nhân loại bàng hoàng trước những hậu quả do thiên tai để lại, còn các nhà
khoa học đều có chung một giải thích, đây chính là những hậu quả nhãn tiền cuả tình
trạng biến đổi khí hậu đã được cảnh báo.
Hình 1.1: Lũ lụt dữ dội ở Pa-ki-xtan
Có 3 nguyên nhân cơ bản làm cho tình trạng môi trường xấu đi và hạn chế sự
phát triển kinh tế trong tương lai đó là: “Sự tăng trưởng quá nhanh về dân số, giới hạn
của tự nhiên và sự chậm trễ của con người trước các biến cố của môi trường. Nền kinh
tế tăng trưởng quá nhanh làm các nguồn tài nguyên kiệt quệ nhanh chóng, tạo ra các
chất thải vào môi trường sống gây ra nhiều biến cố về sinh thái. Loài người đã phản
ứng chậm trễ trên các mặt thông tin, ra quyết định và hành động, hậu quả là hiện trạng
môi trường ngày càng trầm trọng”. [4]
Tổng Thư kí Tổ chức Khí tượng thế giới Michel Jarraud nói: “2015 có thể sẽ là
năm nóng nhất được ghi nhận, với nhiệt độ bề mặt đại dương ở mức cao nhất kể từ khi
bắt đầu đo lường. Có thể ngưỡng 1oC sẽ bị vượt qua”. WMO cho biết đó là sự kết hợp
của tình trạng tăng nhiệt độ toàn cầu và hiện tượng El Nino (nước biển ấm lên vào
mùa đông). Theo báo cáo của WMO cho biết: “Giai đoạn 2011-2015 là khoảng thời
3
gian nóng nhất được ghi nhận với nhiều hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt là
những đợt hạn hán, nắng nóng do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu”.
Trước sự nổi giận của thiên nhiên với những hậu quả nặng nề từ biến đổi khí hậu,
thế giới đang đặt ưu tiên cho việc giảm phát thải khí nhà kính. Một mô hình tăng
trưởng mới - mô hình tăng trưởng xanh hay tăng trưởng ít cacbon chú trọng tới sử
dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo và công
nghệ thân thiện với môi trường đã hình thành.
b, Tại Việt Nam
Việt Nam đã được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội trong vòng 25 năm qua. Đi lên
từ một nước nghèo và chịu hậu quả từ chiến tranh để lại, Việt Nam là một nước có thu
nhập trung bình thấp. Đến năm 2014, thu nhập trên đầu người Việt Nam đã đạt
2.028USD/người/năm. Hầu hết, các chỉ số phúc lợi, hạ tầng cơ sở đã được cải thiện rõ
rệt, sự bình đẳng giới cũng được đánh giá cao trong quá trình phát triển. Song sự phát
triển chưa thực sự bền vững:
 Chất lượng tăng trưởng, hiệu suất, hiệu quả và tính cạnh tranh của nền kinh tế
còn thấp.
 Tăng trưởng kinh tế còn dựa nhiều vào các yếu tố phát triển theo chiều rộng,
dựa vào khai thác tài nguyên với cường độ cao, hiệu quả thấp.
 Tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nặng. Các ngành kinh
tế thân thiện với môi trường chưa được phát triển.
 Phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch nhập khẩu phục vụ cho sản xuất
trong nước do công nghệ chậm được đổi mới với mức độ tiêu tốn năng lượng, tài
nguyên thiên nhiên cao.
 Nỗ lực toàn cầu ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính đòi
hỏi Việt Nam phải điểu chỉnh theo Chiến lược tăng trưởng xanh.
Có thể nói việc lựa chọn tăng trưởng xanh là rất thích hợp, phản ánh xu hướng
thời đại. Việt Nam đang tiến hành chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền
kinh tế theo hướng phát triển bền vững.
1.2.Một số kinh nghiệm về tăng trưởng xanh
1.2.1. Kinh nghiệm tăng trưởng xanh của một số nước trên Thế giới
Xanh hóa nền kinh tế đang trở thành một trong những ưu tiên của nhiều nước, cả
các nước phát triển và đang phát triển, trong ứng phó với khủng hoảng cũng như trong
chiến lược chuẩn bị cho giai đoạn phát đoạn phát triển hậu khủng hoảng. Nhiều nước
đã chú trọng vấn đề phát triển xanh trong các gói kích thích kinh tế và chiến lược phát
triển dài hạn như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số nước đang phát
triển ở Châu Á, Mỹ Latinh. Đầu tư cho phát triển xanh hiện chiếm 14% tổng giá trị các
4
gói kích thích kinh tế toàn cầu (khoảng 3 nghìn tỉ USD), trong đó tập trung vào: xây
dựng nhà ở sử dụng hiệu quả năng lượng ( Mỹ đầu tư khoảng 100 tỉ USD trong 4 năm
cho phát triển nhà ở sử dụng hiệu quả năng lượng; Pháp đặt mục tiêu giảm 40% tiêu
thụ năng lượng sinh hoạt đến năm 2020…); năng lượng thay thế và tái tạo ( đầu tư vào
năng lượng tái tạo ở Trung Quốc đã tạo ra 1 triệu việc làm; Ấn Độ đặt mục tiêu đầu tư
năng lượng sinh học tạo 900 việc làm đến năm 2025…); Giao thông tiết kiệm năng
lượng; phát triển nông nghiệp bền vững, sử dụng hiệu quả (Mỹ đầu tư 6 tỉ USD cho hạ
tầng nước sạch trong 2 năm 2009-2010, Hàn Quốc đầu tư 12 tỉ USD để làm sạch 4 con
sông lớn, vv…). [3]
Bên cạnh việc đầu tư từ các gói kích thích kinh tế của Chính phủ, các nước rất
chú trọng các biện pháp đòn bẩy, đặc biệt là thuế và mua bán hạn ngạch khí thải (Mỹ,
EU) để khuyến khích đầu tư và tiêu dùng sang các ngành khác, lĩnh vực và sản phẩm
xanh. Ví dụ, để khuyến khích tiết kiệm năng lượng trong giao thông, nhiều nước hiện
đang áp dụng thuế nguyên liệu ( Ba Lan, Thụy Điển..), hạn ngạch giấy phép và thuế
phương tiện giao thông (EU, Nhật Bản), giảm hoặc miễn thuế phương tiện tiết kiệm
nhiên liệu (Đức, Nhật Bản, Mỹ..), bảo hiểm môi trường bắt buộc, vv… Ngoài ra, một
số nước quy hoạch lại sử dụng đất đô thị và nông thôn (Trung Quốc, Ấn Độ…); sửa
luật môi trường theo hướng nâng cao tiêu chuẩn môi trường, quy định bắt buộc tái chế
trong một số ngành, dán nhãn môi trường đối với nông sản, vv…
Mỹ dành khoảng 150 tỉ USD trong gói kích thích kinh tế 782 tỉ USD để đầu tư
cho các lĩnh vực kinh tế xanh, nhất là năng lượng mới và tái tạo (năng lượng gió, mặt
trời, hạt nhân…) và đặt mục tiêu đến năm 2025, các nguồn năng lượng tái tạo sẽ chiếm
khoảng 25% lượng phát điện. Mỹ thành lập Cơ quan triển khai năng lượng sạch
(CEDA) thuộc Bộ năng lượng có chức năng như một “ngân hàng xanh” để huy động
và giải ngân vốn đầu tư cho các chương trình năng lượng sạch.
Cuối tháng 6/2009, Hạ Viện Mỹ thông qua dự Luật chống biến đổi khí hậu với
mục tiêu là: “Giảm khí thải nhà kính khoảng 17% vào năm 2020 so với năm 2025; áp
dụng hạn ngạch khí thải và cho phép các công ty xả khí thải thấp hơn hạn ngạch có thể
bán phần hạn mức khí thải không dùng hết cho công ty khác”. Từ năm 2012-2025, Mỹ
dành 55% tiền thu được từ mua bán hạn ngạch khí thải cho bảo vệ người tiêu dùng
trước tác động tăng giá nhiên liệu, 19% cho các dự án hỗ trợ chuyển đổi sang sử dụng
năng lượng sạch. Việc thông qua dự luật biến đổi khí hậu tại Hạ viện bước đầu khẳng
định nỗ lực của chính quyền Obama trong việc điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế
theo hướng sử dụng hiệu quả năng lượng, song cũng bộc lộ mâu thuẫn sâu sắc giữa các
nhóm lợi ích Mỹ, đặc biệt là sự phản đối của nhóm lợi ích trong các ngành vận tải, ô
tô, dầu mỏ, hàng không… cũng như thói quen tiêu dùng nhiên liệu của người dân Mỹ.
[3]
5
Năm 2008, các nước EU đã thông qua Luật bảo vệ môi trường với các trọng tâm:
(i) Đặt mục tiêu đến năm 2020 tăng tỉ trọng sử dụng năng lượng tái tạo từ 8,5% hiện
nay lên 20% và giảm 20% khí nhà kính; (ii) Đầu tư 0.5% GDP của EU cho việc thực
hiện các mục tiêu trên; (iii) Áp dụng chế độ cấp hạn ngạch khí thải cho các ngành công
nghiệp, theo đó từ năm 2013 trở đi EU bán đấu giá 60% giấy phép hạn ngạch khí thải
trong lĩnh vực năng lượng và đến năm 2020 tất cả các công ty công nghiệp đều phải
mua giấy phép hạn ngạch khí thải( trừ một số ngành luyện kim, hóa chất, xi măng…).
Đáng lưu ý EU đi tiên phong khích thích đầu tư và tiêu dùng trong các ngành kinh tế
xanh. Đức hàng năm dành 1/3 số tiền thu được từ đấu giá hạn ngạch khí thải trong
Chương trình mua bán hạn ngạch khí thải Châu Âu để hỗ trợ phát triển và chuyển giao
công nghệ sạch.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc-một trong những quốc gia đi đầu về tăng trưởng
xanh cho thấy: “Ngay từ năm 2008, Hàn Quốc dành 80% trong gói kích cầu kinh tế
khoảng 38,1 tỉ USD để dùng cho sự chuyển dịch từ nền kinh tế nâu sang nền kinh tế
xanh”. Chiến lược về “tăng trưởng xanh, cacbon thấp” của Hàn Quốc xác định tỉ lệ
năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng là 2.7% (năm 2009), 3.78% (năm 2013)
và gấp đôi lên 6.08% ( năm 2020); đồng thời đưa ra mục tiêu giảm phát thải khí nhà
kính dự kiến sẽ xuống còn 30% vào trước năm 2020 (đây là mức cắt giảm cao nhất do
IPCC đề xuất). Khi khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, Hàn Quốc là một trong
những quốc gia điển hình đã kết hợp giải quyết khủng hoảng kinh tế với gói kích thích
quan trọng cho chi tiêu xanh. Gói kích cầu “hiệp định tăng trưởng xanh mới” được
công bố tháng 1/2009 đã góp phần không nhỏ cho chiến lược quốc gia về “tăng trưởng
xanh, cacbon thấp”. Gói kích cầu trị giá 50 nghìn tỉ won trong 4 năm dành cho 9 dự án
xanh chính và một số dự án lớn, qua đó tạo 956.000 việc làm xanh mới, 9 dự án này
bao gồm: “Khôi phục 4 dòng sông chính, xây dựng hệ thống giao thông xanh; xây
dựng cơ sở dữ liệu về lãnh thổ và tài nguyên quốc gia; quản lí nguồn tài nguyên nước;
ô tô xanh và chương trình năng lượng sạch hơn; chương trình tái sinh tài nguyên; quản
lý rừng và chương trình sinh học; nhà xanh, văn phòng xanh và trường học xanh;
phong cảnh và cơ sở hạ tầng xanh”. [9]
6
Hình 1.2: Tăng trưởng xanh tại Hàn Quốc
Nguồn: ens- newswire.com
Năm 2010, chính phủ Hàn quốc đã thúc đẩy phát triển những ngành công nghiệp
và công nghệ xanh bao gồm: “Năng lượng mặt trời, năng lượng gió, hỗ trợ các doanh
nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong ngành công nghiệp xanh”. Năm 2011, Chính phủ
Hàn Quốc đã tập trung vào nâng cao những hệ thống này thông qua việc ban hành luật
nhằm hạn chế khí thải nhà kính và phát triển quản lý năng lượng nhằm chuyển giao cơ
cấu kinh tế xã hội theo hướng khí thải cacbon thấp. Với khẩu hiệu “tất cả vì cộng đồng
giàu có”, chính phủ Hàn Quốc đã thành công đáng kể trong việc khuyến khích sự tham
gia tích cực của người dân vì sự phát triển của cộng đồng. Sự thành công này được ghi
nhận qua các dự án như: “ngôi nhà xanh trị giá 2 triệu”, “thành phố xanh và dòng sông
xanh hơn”, “thành phố mặt trời”…Nhờ có việc nâng cao nhận thức về cuộc sống xanh,
số lượng gia đình tham gia vào hệ thống giảm khí thải cacbon tăng tới 2 triệu vào
tháng 2/2011. Sự đồng lòng của người dân cùng với sự quyết tâm của chính phủ đã
mang lại cho họ những kết quả vượt mong đợi khi năm 2009, “Hàn Quốc đã có tốc độ
tăng trưởng dương 0.2%; năm 2010 tăng trưởng đạt 6.1%, cao nhất trong vòng 8 năm
và năm 2011 tăng trưởng đạt 3.7%”. [10]
Tại các nước trong khu vực như Lào cũng đang trong quá trình xây dựng lộ trình
tăng trưởng xanh quốc gia. Campuchia cũng đang nỗ lực xây dựng kế hoạch hành
động chi tiết sau khi ban hành lộ trình tăng trưởng xanh quốc gia. Để tăng trưởng xanh
Trung Quốc đã tiến hành những cuộc cách mạng sạch, cách mạng xanh, cách mạng
công nghệ cao…Chỉ riêng trong lĩnh vực tái chế và năng lượng tái tạo, mỗi năm Trung
Quốc đã kiếm được 17 tỉ USD và tạo công ăn việc làm cho 10 triệu người.
1.2.2. Thực tiễn tăng trưởng xanh ở Việt Nam
Phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu dựa vào việc khai
thác tài nguyên, xuất khẩu nguyên liệu thô và sơ chế. Phát triển bền vững là chủ
trương lớn nhưng chưa được thực hiện một cách triệt để. Mặc dù Việt Nam có chủ
trương hướng tới một nền công nghiệp xanh, ít tiêu hao năng lượng, hạn chế thấp nhất
sản xuất gây ô nhiễm môi trường, nhưng việc thực hiện còn mang tính lẻ tẻ, không
7
đồng bộ do khu vực này chưa có chiến lược và quy hoạch phát triển rõ ràng theo
hướng tăng trưởng xanh. Đây cũng là tình hình chung nền kinh tế của các khu vực
khác. Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế chủ đạo trong phát triển xanh, đó
cũng là lợi thế lâu dài của Việt Nam, tuy nhiên vẫn ở trình độ kém phát triển và có
nguy cơ ngày càng tụt hậu xa hơn so với các ngành kinh tế khác.
Từ thực tế đó, trong Chiến lược phát triển giai đoạn 2011-2020, Việt Nam đã xác
định yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược là phát triển nhanh gắn liền với phát triển
bền vững, trong đó đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế là nhiệm
vụ trọng tâm trước mắt và lâu dài.
Tháng 9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia về Tăng
trưởng xanh giai đoạn 2011-2030 và tầm nhìn 2050. Chiến lược này là “tái cơ cấu nền
kinh tế để tiến tới việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà
kính thông qua nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại; phát triển hệ thống cơ sở hạ
tầng để nâng cao hiệu quả kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, xóa đói giảm nghèo,
và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững”.
Về cơ hội: [2]
- Hiện nay, sự quan tâm lớn nhất của cộng đồng Thế Giới là “biến đổi khí hậu”.
Nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, các quốc gia có nhiều nỗ lực,
trong phát triển kinh tế cacbon thấp, tăng trưởng xanh đang là những xu hướng mới
trong lộ trình tiến tới “nền kinh tế xanh”. Việt Nam sẽ đón nhận được sự ủng hộ và
giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới trong nỗ lực chung giảm
thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới “Nền kinh tế xanh”.
- Việt Nam đang có những thay đổi cơ bản sau 24 năm “Đổi mới và mở cửa”,
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một sự
phát triển của con người, những yếu tố đó được thực hiện trong một môi trường chính
trị ổn định là một cơ hội tốt cho triển khai thực hiện “nền kinh tế xanh”.
- Tiếp tục triển khai, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn
2011-2015, Hội nghị lần thứ 3 BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: đổi
mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, đảm
bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Như vậy, Việt Nam
sẽ đẩy mạnh “Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng” trong thời gian sắp
tới. Đây là cơ hội để Việt Nam hướng tới “Nền kinh tế xanh” và “Tăng trưởng xanh”.
- Với lợi thế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, có nguồn năng
lượng mặt trời dồi dào, năng lượng gió phong phú, sinh vật tăng trưởng nhanh là cơ
hội Việt Nam tham các chương trình mục tiêu thiên niên kỉ để hướng tới “Nền kinh tế
xanh”.
Về thách thức: [2]
8
- Trước hết, về nhận thức, hiểu thế nào là một “nền kinh tế xanh” hiện nay ở Việt
Nam vẫn còn hết sức mới mẻ, đòi hỏi phải có những nghiên cứu và phổ biến rộng rãi
kiến thức trong tầng lớp lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và
người dân. Nếu không nhận thức được đầy đủ, tính đồng thuận trong xã hội sẽ không
đạt được, do vậy sẽ khó thực hiện.
- Thứ hai, về cách tiến hành, so với nền kinh tế truyền thống “nền kinh tế nâu”,
xây dựng mô hình mới “nền kinh tế xanh”, thay đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại
nền kinh tế có sự khác biệt thế nào và bắt nguồn từ đâu trong bối cảnh phát triển kinh
tế ở Việt Nam hiện nay.
- Thứ ba, nền kinh tế xanh gắn với sử dụng năng lượng tái tạo, cacbon thấp, tăng
trưởng xanh, đầu tư khôi phục hệ sinh thái, giải quyết sinh kế gắn với phục hồi môi
trường…Thực tế công nghệ sản xuất ở Việt Nam hiện nay so với thế giới phần lớn là
công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng lớn, việc thay đổi công nghệ phù hợp với nền kinh
tế xanh là thách thức không nhỏ nếu không có sự hỗ trợ của các nước có công nghệ
cao trên thế giới.
- Thứ tư, với hơn 70% dân số sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp là chính,
nhiều vùng nông thôn và khu vực miền núi, sinh kế người dân còn gặp nhiều khó
khăn. Phát triển “kinh tế xanh” phải gắn với xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội, đây
là thách thức không nhỏ trong lựa chọn chính sách thực hiện kế hoạch hành động
xanh.
- Thứ năm, về việc huy động nguồn vốn cho việc “Xây dựng nền kinh tế xanh”,
mặc dù Việt Nam đã thoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích lũy của quốc gia
so với các nước phát triển còn quá thấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình
triển khai hướng tới “Nền kinh tế xanh”.
- Thứ sáu, cơ chế chính sách hướng tới “Nền kinh tế xanh” ở Việt Nam hiện nay
hầu như chưa có, trong khi trên thế giới mới đề xuất hướng tiếp cận. Việc rà soát lại cơ
chế chính sách liên quan và sửa đổi bổ sung cho phù hợp với mô hình phát triển mới
theo hướng cơ cấu lại ngành kinh tế và hướng tới “nền kinh tế xanh” là thách thức
không nhỏ.
- Thứ bảy, nhiều ngành thâm dụng tài nguyên, sử dụng nhiên liệu hóa thạch lớn
trong nền kinh tế, gây ô nhiễm môi trường đang chiếm tỉ trọng lớn trong ngành kinh
tế, như ngành khai thác khoáng sản, sản xuất năng lượng, sản xuất vật liệu xây dựng,
dệt nhuộm, sản xuất giấy, công nghiệp hóa chất, đóng tàu, sửa chữa tàu thủy…trong
khi đó ít chú ý đến các ngành công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, hàm lượng khoa
học cao.
- Thứ tám, thiếu vắng các ngành kinh tế hỗ trợ, giải quyết hậu quả về môi trường,
ngành kinh tế thân thiện với môi trường như: công nghệ, dịch vụ bảo vệ môi trường;
9
công nghệ tái chế; sản xuất năng lượng từ chất thải, năng lượng sạch; sản phẩm thân
thiện với môi trường; nông nghiệp hữu cơ.
- Thứ chín, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm, suy thoái môi trường là rất lớn: Theo
ước tính nếu GDP Việt Nam trong 10 năm tới tăng gấp đôi mà không quan tâm tới
công tác bảo vệ môi trường thì ô nhiễm môi trường sẽ tăng lên 3 lần so với hiện nay,
đến năm 2025 có thể tăng lên gấp 4 đến 5 lần; GDP cứ tăng 1% thì thiệt hại do ô
nhiễm môi trường sẽ làm mất đi 3% GDP.
1.3. Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam
Ở Việt Nam, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt Chiến lược
Quốc gia về tăng trưởng xanh số 1393/QĐ-TTg ngày 25 tháng 9 năm 2012 và kế
hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 theo quyết định
số 403/QĐ-TTg ngày 20 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng chính phủ. Hiện nay các bộ
ngành và địa phương đang trong quá trình triển khai và thực hiện. Trong Chiến lược
quốc gia về tăng trưởng xanh đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, nêu rõ như sau:
1.3.1. Quan điểm chiến lược [7]
- Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo
phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện chiến
lược quốc gia về biến đổi khí hậu.
- Tăng trưởng xanh phải do con người và vì con người, góp phần tạo việc làm,
xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
- Tăng trưởng xanh dựa trên tăng cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng
hiệu quả các nguồn vốn tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất
lượng môi trường, qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế.
- Tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại, phù hợp
với điều kiện Việt Nam.
- Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền,
các bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức xã hội.
1.3.2. Mục tiêu của chiến lược [7]
a, Mục tiêu chung
Tăng trưởng xanh, tiến tới kinh tế cacbon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành
xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững, giảm phát thải và tăng hấp thụ khí
nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội.
b, Mục tiêu cụ thể
- Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành hiện
có và khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài
nguyên với giá trị gia tăng cao.
10
- Nghiên cứu, ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ tiên tiến nhằm sử dụng
hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí nhà kính, góp phần
ứng phó với hậu quả biến đổi khí hậu.
- Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường thông
qua tạo nhiều việc làm từ các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ xanh, đầu tư
vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh.
1.3.3. Nhiệm vụ chiến lược [7]
a, Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch,
năng lượng tái tạo theo những chỉ tiêu chủ yếu sau:
Giai đoạn 2011-2020: “Giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8-10% so với mức
2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 1-1.5% mỗi năm. Giảm phát thải khí
nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ 10% đến 20% so với dự án phát triển bình
thường. Trong đó, mức tự nguyện khoảng 10%, 10% còn lại mức phấn đấu khi có
thêm hỗ trợ quốc tế”.
Định hướng đến năm 2030: “Giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm ít nhất
khoảng 1.5-2%, giảm lượng phát thải khí nhà kính trong các hoạt động năng lượng từ
20% đến 30% so với các phương án phát triển bình thường. Trong đó, mức tự nguyện
khoảng 20%, 10% còn lại là mức khi có thêm hỗ trợ quốc tế”.
Định hướng đến năm 2050: “Giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm 1.5-2%”.
b, Xanh hóa sản xuất
Thực hiện một chiến lược “công nghiệp hóa sạch” thông qua rà soát điều chỉnh
những quy hoạch ngành hiện có, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên, khuyến
khích phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh với cơ cấu ngành nghề, công
nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường, đầu tư phát triển vốn tự
nhiên, tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm.
Những chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020 gồm: “Giá trị sản phẩm ngành công nghệ
cao, công nghệ xanh trong GDP là 42-45%, tỉ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu
chuẩn về môi trường là 80%, áp dụng công nghệ sạch hơn là 50%, đầu tư phát triển
các ngành hỗ trợ bảo vệ môi trường và làm giàu vốn tự nhiên phấn đấu đạt 3-4%
GDP”.
11
c, Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững
Kết hợp lối sống đẹp truyền thống với những phương tiện văn minh hiện đại để
tạo nên đời sống tiện nghi, chất lượng cao mang đậm bản sắc dân tộc cho xã hội Việt
Nam hiện đại. Thực hiện đô thị hóa nhanh, bền vững, duy trì lối sống hòa hợp với
thiên nhiên ở nông thôn và tạo lập thói quen tiêu dùng bền vững trong bối cảnh hội
nhập với thế giới toàn cầu.
Những chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2020 gồm: “Tỷ lệ đô thị loại III có hệ thống thu
gom và xử lý nước thải đạt quy chuẩn quy định: 60%, với đô thị loại IV, loaị V và các
làng nghề: 40%, cải thiện môi trường khu vực bị ô nhiễm nặng 100%, tỷ lệ chất thải
được thu gom, xử lý hợp tiêu chuẩn theo quyết định số 2149/QĐ-TTg diện tích cây
xanh đạt tương ứng tiêu chuẩn đô thị, tỷ trọng dịch vụ vận tải công cộng ở đô thị lớn
và vừa 35-45%, tỷ lệ đô thị lớn và vừa đạt tiêu chí đô thị xanh phấn đấu đạt 50%”.
12
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG TĂNG TRƯỞNG XANH CỦA THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Giới thiệu chung về thành phố Hải Phòng [1]
Hải phòng - thành phố Cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp lớn nhất phía
Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học,
thương mại và công nghệ của Vùng Duyên hải Bắc Bộ, đây là thành phố lớn thứ 3 của
Việt Nam sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Hải phòng còn là thành phố trực
thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, cùng với Đà Nẵng và Cần Thơ.
Tính đến năm 2013, dân số Hải Phòng là 1.925.200 người, mật độ dân số là 1.260
người/km2, là thành phố đông dân lớn thứ 3 Việt Nam.
Được thành lập vào năm 1888, Hải Phòng là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế,
xã hội, công nghệ thông tin và an ninh, quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước, trên
2 hành lang- một hành lang hợp tác kinh tế Việt Nam- Trung Quốc. Hải Phòng là đầu
mối giao thông đường biển phía bắc. Hải Phòng là một cực tăng trưởng của tam giác
kinh tế trọng điểm phía bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh, nằm ngoài quy
hoạch vùng thủ đô Hà Nội.
Hình 2.1: Thành phố Hải Phòng ngày nay
2.1.1. Điều kiện địa lí, tự nhiên
a, Vị trí địa lí
Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía đông miền duyên hải Bắc Bộ, cách
thủ đô Hà Nội 102km. Phía bắc và đông bắc giáp Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp Hải
Dương, phía tây nam giáp Thái Bình và phía đông là bờ biển chạy dài theo hướng Tây
Bắc-Đông Nam từ phía Đông đảo Cát Hải đến cửa sông Thái Bình. Là nơi tụ hội đầy
đủ các lợi thế về đường biển, đường sắt, đường bộ và đường hàng không, giao lưu
thuận lợi với các tỉnh trong cả nước và các quốc gia trên thế giới. Do đó, cảng biển Hải
Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng Bắc Bộ, tiếp nhận nhanh các
thành tựu khoa học-công nghệ từ nước ngoài để rồi lan tỏa chúng trên phạm vi rộng
13
lớn từ bắc khu Bốn trở ra. Cảng biển Hải Phòng cùng với sự xuất hiện của cảng Cái
Lân (Quảng Ninh) với công suất vài chục triệu tấn tạo thành cụm cảng có quy mô ngày
càng lớn góp phần đưa hàng hóa của Bắc Bộ đến các vùng trong cả nước, cũng như
tham gia dịch vụ vận tải hàng hóa quá cảnh cho khu vực Tây Nam Trung Quốc.
b, Đặc điểm địa hình
Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng là 1.519km 2 bao gồm cả huyện đảo (Cát
Bà và Bạch Long Vĩ). Đồi núi chiếm 15% diện tích, phân bố chủ yếu ở phía Bắc, do
vậy địa hình phía bắc có hình dạng và cấu tạo địa chất của vùng Trung Du với những
đồng bằng xen đồi. Phía Nam có địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu địa hình đặc
trưng vùng đồng bằng thuần túy nghiêng ra biển, có độ cao từ 0.7-1.7m so với mực
nước biển. Vùng biển có đảo Cát Bà được ví như hòn ngọc của Hải Phòng, một đảo
đẹp và lớn nhất trong quần thể đảo có tới trên 360 đảo lớn, nhỏ quây quần bên nó và
nối tiếp với vùng đảo vịnh Hạ Long. Đảo chính Cát Bà ở độ cao 200m trên biển có
diện tích khoảng 100km2 cách thành phố 30 hải lý. Cách Cát Bà hơn 90km về phía
đông nam là đảo Bạch Long Vĩ, khá bằng phẳng và nhiều cát trắng.
c, Khí hậu
Chịu ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa, trong đó, từ tháng 11 đến tháng 4 năm
sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô, từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của
mùa hè, nồm mát và mưa nhiều. Lượng mưa trung bình từ 1.600-1.800mm/năm. Do
nằm sát biển nên Hải Phòng vào mùa đông ấm hơn 1 oC và mùa hè mát hơn 1oC so với
Hà Nội. Nhiệt độ trung bình trong năm 23-26 oC, tháng nóng nhất (tháng 6, 7) nhiệt độ
có thể lên đến 44oC và tháng lạnh nhất (tháng 1, 2) nhiệt độ có thể xuống dưới 5 oC. Độ
ẩm trung bình vào khoảng 80-85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 1,
12.
2.1.2. Tiềm năng kinh tế
a, Những lĩnh vực kinh tế lợi thế
Hải Phòng ở vị trí thuận lợi, cửa ngõ giao thương của miền Bắc Việt Nam. Là
một trong 3 đỉnh của tam giác kinh tế trọng điểm (Hà Nội -Hải Phòng -Quảng Ninh).
Hệ thống đường thủy cùng với mạng lưới đường bộ, đường sắt, cảng biển và hàng
không đã tạo cho Hải Phòng nhiều điều kiện thuận lợi trong lưu thông phát triển kinh
tế. Đặc biệt, thời gian qua, quốc lộ 5 được nâng cấp theo tiêu chuẩn quốc tế, hệ thống
cảng Hải Phòng được mở rộng, sân bay Cát Bi được cải tạo và nâng cấp đã tạo cho Hải
Phòng nhiều điều kiện thuận lợi để chuyển tải hàng hóa xuất, nhập khẩu cho tỉnh vùng
Bắc Bộ, các tỉnh Tây Nam Trung Quốc, đồng thời có khả năng thiết lập mối quan hệ
hàng hải và hàng không với các nước trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới.
14