Quan hệ thương mại việt nam nhật bản (thời kỳ 1990 – 2008)

  • 80 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Ngược dòng lịch sử chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam và Nhật Bản vốn có quan
hệ thương mại từ hàng trăm năm nay. Ngay từ thế kỷ thứ XVI đã có những thương gia
Nhật Bản đến kinh doanh ở Việt Nam. Trải qua nhiều biến cố lịch sử, quan hệ giữa hai
nước cũng có nhiều thăng trầm nhưng quan hệ giữa hai nước vẫn được duy trì. Và kể
từ khi quan hệ ngoại giao chính thức giữa Việt Nam và Nhật Bản được thiết lập vào
tháng 9 năm 1973 thì quan hệ thương mại giữa hai nước có điều kiện phát triển mạnh.
Năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa thị trường trong nước, phát
triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng tạo động lực cho quan
hệ thương mại song phương phát triển mạnh hơn nữa. Đặc biệt, từ đầu thập kỷ 90 của
thế kỷ XX đến nay, quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản đã đạt được nhiều thành
tựu rất đáng khích lệ. Nhật Bản luôn là một trong những đối tác thương mại hàng đầu
của Việt Nam trong những năm gần đây với tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm
khoảng 1/5 tổng kim ngạch ngoại thương của Việt Nam. Tuy nhiên, trong quan hệ
ngoại thương giữa hai nước vẫn còn khá nhiều hạn chế bất cập đòi hỏi sự cố gắng
chung của cả hai nước để khắc phục nhằm đáp ứng những đòi hỏi của quá trình hội
nhập kinh tế khu vực đã và đang diễn ra mạnh mẽ.
Một trong những điểm sáng của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản trong năm 2008 là
hai bên đã chính thức ký Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) - thỏa thuận song phương
mang tính toàn diện về kinh tế, thương mại và đầu tư. Trải qua 9 phiên đàm phán bắt
đầu từ tháng 1 năm 2007, hai nước đã hoàn tất hiệp định EPA - cơ sở pháp lý góp phần
thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư từ Nhật Bản vào Việt Nam, đồng thời mở rộng quan hệ
thương mại song phương.. Hy vọng rằng với EPA này quan hệ thương mại giữa hai
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
nước sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ, đạt kim ngạch mậu dịch song phương 18 tỷ
USD vào năm 2010 theo dự báo của các cơ quan kinh tế thương mại hai nước.
* Tính cấp thiết của đề tài
Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và hiện nay là nước nhập khẩu
hàng hoá lớn thứ hai của Việt Nam sau Hoa Kỳ. Liên tục trong vòng 11 năm từ 1991
đến 2001, Nhật Bản luôn là quốc gia nhập khẩu hàng hoá lớn nhất của Việt Nam. Hàng
năm Nhật Bản nhập khẩu khối lượng hàng hoá trị giá 330 – 400 tỷ USD, năm 2003 trị
giá nhập khẩu đạt 381,2 tỷ USD. Trong đó nhập từ Việt Nam khoảng 2,3 – 2,9 tỷ USD,
chiếm khoảng 13 – 16% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Năm 2004,
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 3,79 tỷ USD, tăng
16,6% so với năm 2003 và nhập khẩu từ Nhật Bản đạt khoảng 3,12 tỷ USD. Năm
2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 4,56 tỷ USD, tăng
20,3% so với năm 2004. Trong đó, nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản đạt khoảng
3,6 tỷ USD, tăng 15,3% so với 2004. Quan hệ thương mại Việt - Nhật đang phát triển
với tốc độ cao. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản thời gian gần đây
luôn tăng trung bình từ 15 - 20% so với năm trước. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu từ
Việt Nam là dầu thô, hàng hải sản, hàng dệt may, thủ công mỹ nghệ, gạo, than…
Ngược lại, Nhật Bản xuất khẩu sang nước ta các mặt hàng như: máy tính và linh kiện
điện tử, ô tô các loại, xe máy, xăng dầu… Cơ cấu các mặt hàng xuất, nhập khẩu giữa
hai nước thay đổi theo từng năm, góp phần tác động tới kim ngạch xuất nhập khẩu.
Năm 2000, kim ngạch thương mại song phương đạt 4,5 tỷ USD, năm 2006 đã tăng lên
9,9 tỉ USD. Và phấn đấu đạt kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước 15 tỉ USD vào
năm 2010.
Tuy nhiên, mối quan hệ thương mại này còn quá khiêm tốn so với tiềm năng của
hai nước. Số mặt hàng Nhật Bản xuất khẩu sang Việt Nam năm 2005 gấp khoảng ba
lần số mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản. Sáu tháng đầu năm 2007, kim
ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt 2,63 tỷ USD, tăng 4,77% so với cùng kỳ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
năm 2006 chủ yếu là nhờ xuất khẩu một số mặt hàng như dây điện, cáp điện và dầu
thô. Việt Nam chỉ là bạn hàng nhỏ bé trên thị trường Nhật Bản rộng lớn, đầy tiềm
năng. Ngoài ra còn tồn tại không ít các yếu tố cản trở sự phát triển về quan hệ mậu dịch
giữa hai nước. Bởi vậy, xuất hiện câu hỏi: “Quan hệ thương mại Việt Nam - Nhật Bản
thời gian qua đã phát triển như thế nào? Sự phát triển đó diễn ra nhờ những nhân tố gì?
Liệu có thể phát triển mối quan hệ thương mại giữa hai nước trong tương lai hơn nữa
hay không? Việt Nam cần phải làm gì để tăng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường
Nhật Bản? Làm thế nào để đạt mục tiêu 15 tỷ USD kim ngạch thương mại song
phương?...
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quan hệ thương
mại Việt Nam - Nhật Bản (Thời kỳ 1990 – 2008)” là nội dung nghiên cứu chính của
luận văn.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
CHƯƠNG 1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – NHẬT BẢN
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về thương mại.
1.1.1. Khái niệm về thương mại
a. Thương mại
Thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ
v.v giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông
qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi
hàng (barter). Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa,
dịch vụ... cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương
đương nào đó.
b. Thương mại song phương
Thương mại giữa hai chủ thể luật quốc tế được gọi là thương mại song phương,
còn nếu có nhiều chủ thể luật quốc tế tham gia thì được gọi là thương mại đa phương.
1.1.2. Những nhân tố tác động đến quan hệ thương mại song
phương
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một đặc
trưng của sự phát triển trên thế giới. Tất cả các quốc gia, dù ở trình độ phát triển nào
cũng không thể ở ngoài xu thế khách quan này, bởi mỗi nước muốn phát triển kinh tế,
muốn bảo toàn các lợi ích của mình đều phải tham gia vào xu thế chung của thời đại.
Thực tiễn lịch sử cũng cho thấy, không một quốc gia nào có thể phát triển với một nền
kinh tế khép kín. Hội nhập kinh tế quốc tế càng cao thì các nền kinh tế càng phụ thuộc
nhau, sự liên kết trong thương mại, sản xuất… càng diễn ra sâu rộng. Điều này dẫn đến
sự hình thành của hàng loạt các thể chế kinh tế, định chế kinh tế, liên kết kinh tế khu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
vực, liên kết quốc tế… có ảnh hưởng và sức mạnh chi phối toàn cầu, điển hình như:
GATT (WTO), IMF, WB, EU, …
Vì lợi ích lâu dài của mỗi nước, các quốc gia phát triển đã tích cực sớm tham gia
và cổ vũ cho làn sóng hội nhập kinh tế quốc tế này từ nửa đầu những năm 90. Về sau,
các quốc gia kém phát triển hơn đã nhận thức được xu thế này cũng đã tích cực hội
nhập theo các cấp độ khác nhau (đơn phương, song phương, đa phương) nhằm tận
dụng cơ hội để phát triển. Sự tham gia mạnh mẽ của các nước đã khiến khối lượng và
tốc độ tăng trưởng của thương mại thế giới tăng cao. Chỉ trong vòng 50 năm cuối của
thế kỷ XX, tổng khối lượng thương mại thế giới đã tăng lên 17 lần. Trong 1 thập kỷ, từ
1987 đến 1997, tỷ trọng của thương mại trong GDP thế giới đã tăng thêm 9%, đạt
29,6%. Kim ngạch xuất khẩu chiếm 1/2 tổng sản phẩm thế giới. Tỷ trọng thương mại
trong mỗi nước cũng được bổ sung do xu hướng tăng cường chu chuyển thương mại
nội bộ trong các công ty xuyên quốc gia.
1.2. Những cơ sở chủ yếu cho mối quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản
1.2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội và chính sách đối ngoại của Việt
Nam
a. Điều kiện tự nhiên
Việt Nam là một quốc gia nằm ở vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, phía
Bắc giáp với Trung Quốc, phía Tây giáp với Lào, Campuchia, phía Đông và Nam trông
ra biển Đông và Thái Bình Dương. Với diện tích 331.698 km 2, dải đất liền hình chữ S,
lãnh thổ Việt Nam phần lớn là đồi núi thấp của bốn vùng núi chính (Đông Bắc, Tây
Bắc, Trường Sơn Bắc, Trường Sơn Nam), hai đồng bằng lớn (Bắc Bộ và Nam Bộ).
Việt Nam có đường biên giới đất liền dài 4.510 km, đường bờ biển dài 3.260 km, và có
ba mặt Đông, Nam, Tây Nam trông ra biển. Đây là điều kiện địa lý thuận lợi giúp Việt
Nam trở thành đầu mối giao thông quan trọng từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương.
Mặc dù thuộc vùng nhiệt đới nhưng Việt Nam lại có hai vùng khí hậu gắn với hai
vùng địa hình khác nhau. Với một nền nhiệt độ cao, lượng mưa nhiều đã tạo ra một hệ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
thực vật phong phú với trên 800 loài cây gỗ (đinh, lim, sến, táu…), quần thể động vật
đa dạng lên tới 200 loài thú, 100 loài lưỡng cư, trên 150 loài bò sát, 1.000 loài lưỡng
biển và 200 loài nước ngọt.
Việt Nam là một trong những quốc gia có biển và nguồn nước mặn phong phú
nên nguồn lợi thủy sản dồi dào, gồm thủy sản nước mặn, nước lợ và nước ngọt. Việt
Nam có tới 6.845 loại động vật biển, với nhiều loại đặc sản và quý hiếm như: tôm,
mực, cá voi, cá heo. Biển Việt Nam còn có tiềm năng khai thác muối phục vụ sinh
hoạt, công nghiệp và xuất khẩu. Với khoảng 1,2 triệu ha mặt nước, trên 600 ngàn ha
sông suối, trên 300 ngàn ha hồ chứa… phân bố đều ở các vùng, Việt Nam còn có tiềm
năng phát triển và khai thác thủy sản nước lợ, nước ngọt.
Ngoài những tài nguyên rừng, tài nguyên thủy hải sản, Việt Nam còn có nguồn
tài nguyên khoáng sản đa dạng như: than (trữ lượng khoảng trên 6 tỉ tấn), dầu khí (trữ
lượng dầu mỏ khoảng 3 – 4 tỷ thùng và khí đốt khoảng 50 – 70 mét khối), kim loại
màu (nhôm, đồng, vàng, thiếc…), kim loại đen (sắt, măng gan, titan)… Hiện nay, Việt
Nam chỉ mới khai thác và chế biến khoáng sản ở mức độ thấp, các khoáng sản xuất
khẩu chỉ ở dạng sơ chế, dầu chỉ là dầu thô. Đây là điều kiện thuận lợi trước mắt giúp
phát huy hiệu quả kinh tế cao mà cần ít vốn đầu tư. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có các
mỏ nhỏ rải rác trên cả nước, rất thuận tiện cho việc khai thác và phát triển kinh tế giữa
các vùng.
Hàng nghìn con sông lớn, nhỏ trải dài theo lãnh thổ, cứ khoảng 20 km lại có một
cửa sông nên hệ thống giao thông đường thủy của Việt Nam khá thuận lợi. Ngoài ra,
cùng với nhiều hải cảng lớn: Hải Phòng, Nghi Sơn, Đà Nẵng, Cam Ranh, Vũng Tàu…
Việt Nam dễ dàng phát triển kinh tế, giao thương trong nước và ngoài nước
b. Dân cư và nguồn lực
Tính đến năm 2007, dân số của Việt Nam là trên 85 triệu người, đứng thứ 2 tại
Đông Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới. Dân số Việt Nam được đánh giá là có quy
mô lớn và phát triển nhanh với tốc độ tăng dân số ở mức 1 triệu người/năm.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
Nguồn nhân lực của Việt Nam đông đảo, có trình độ văn hóa tương đối đồng đều.
Lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, cần cù, sáng tạo và ham học hỏi. Giá
nhân công Việt Nam thấp hơn so với một số nước trong khu vực. Hơn nữa, nguồn nhân
lực Việt Nam ngày càng được hoàn thiện hơn về trình độ chuyên môn, tinh thần chấp
hành kỷ luật và văn hóa ứng xử trong công việc.
c. Thị trường tiềm năng
Để giữ vững vị trí cường quốc kinh tế hiện nay, Nhật Bản luôn cần một thị trường
tiềm năng có thể đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu của mình về nguyên vật liệu, lương thực
phẩm phục vụ cho cuộc sống và cho sự phát triển. Việt Nam là quốc gia giàu tài
nguyên thiên nhiên trên mặt đất cũng như dưới nước, đất đai màu mỡ rất phù hợp để
phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp để xuất khẩu nông sản và thủy sản. Những mỏ kim
loại quý, dầu và khí đốt… cũng được phát hiện và khai thác ngày càng tăng. Việt Nam
lại án ngữ các con đường giao thông trong khu vực Tây Thái Bình Dương nên rất
thuận lợi mở rộng kinh tế đối ngoại, thương mại mậu dịch…
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên các tiềm năng
đó chỉ mới khai thác bước đầu, nên có thể cung ứng phần nào cho Nhật Bản. Mặt khác,
Việt Nam cũng cần nhập khẩu từ Nhật Bản nhiều thiết bị máy móc hiện đại, nguyên
vật liệu cần thiết để phát triển kinh tế trong nước. Theo Tổng cục Thống kê dự tính:
Năm 2024, dân số Việt Nam sẽ vượt qua con số 100 triệu người, đạt 100,5 triệu người.
Mật độ dân số lúc đó đạt 335 người/km 2, tăng hơn nhiều so với 258 người/km 2 hiện tại.
Dân số đông, trẻ thì nhu cầu tiêu dùng cao, là một điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ
hàng hóa và phát triển kinh tế của Nhật Bản. Bởi vậy, có tới 338 công ty Nhật Bản
trên tổng số 652 công ty xếp Việt Nam đứng vào hàng thứ 4 trong các đối tác quan
trọng nhất mà họ sẽ đầu tư trong 10 năm đầu thế kỷ XXI. Điều này thể hiện sức hấp
dẫn của thị trường Việt Nam – một đất nước đóng vai trò quan trọng về kinh tế và
chính trị ở khu vực Đông Nam Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản.
d. Chính sách đối ngoại mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
Sự hội nhập ngày càng sâu của Việt Nam vào khu vực và quốc tế (gia nhập
ASEAN, AFTA, WTO…) khiến quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước trong
khu vực và trên thế giới ngày càng phát triển. Nếu năm 1986 Việt Nam có quan hệ xuất
nhập khẩu với 43 quốc gia, năm 1995 là 100 quốc gia, năm 2000 là 192 quốc gia thì
hiện nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh
thổ. Ngoài ra, Việt Nam đã ký kết 86 hiệp định thương mại song phương, 46 hiệp định
khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia
và vùng lãnh thổ.
Tổng mức lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu bình quân từ năm 1986 đến năm
2005 là 20,7 tỷ USD/1 năm (gấp 7 lần so với năm 1985). Kim ngạch xuất khẩu của
Việt Nam tăng mỗi năm trung bình trên 20%, có năm tăng 30%. Năm 1990, kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 2,4 tỷ USD thì năm 2003 con số này là 20,176 tỷ USD,
tăng 39% so với kim ngạch xuất khẩu năm 2000. Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu đạt
25 tỷ USD, gấp 8 lần so với năm 1990. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,4 tỷ
USD, tăng gần 40 lần so với năm 1986. Tính đến hết tháng 11 tháng năm 2008 Việt
Nam xuất khẩu sang Nhật Bản: 7,896 tỷ USD; nhập khẩu từ Nhật Bản: 7,611 tỷ USD
(nguồn: Bộ Công thương Việt Nam)
Tốc độ tăng bình quân của kim ngạch nhập khẩu trong 20 năm đổi mới (1986 –
2005) là 16,1%. Năm 1986, kim ngạch nhập khẩu là 2,155 tỷ USD thì năm 2005 là 37
tỷ USD, tăng gấp 16 lần. Tính đến hết tháng 11 tháng năm 2008 Việt Nam nhập khẩu
từ Nhật Bản: 7,611 tỷ USD (nguồn: Bộ Công thương Việt Nam)
Cơ cấu hàng xuất khẩu cũng có sự thay đổi rõ rệt. Tỷ trọng hàng thô hay mới sơ
chế đã giảm và tỷ trọng hàng chế biến hoặc đã chế biến tăng dần qua từng năm. Năm
1995, tỷ trọng hàng thô là 67,2% trong tổng trị giá xuất khẩu hàng hoá. Nhưng đến
năm 2005, tỷ trọng hàng thô giảm xuống còn 49,6% và tỷ trọng hàng chế biến tăng lên
50,4% so với 32,8% năm 1995. Thị trường hàng xuất khẩu cũng có sự chuyển biến rõ
nét. Giai đoạn 1986 – 1990, xuất khẩu sang châu Âu đứng đầu với tỷ trọng 51,7% thì
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
giai đoạn 2001 – 2005 chỉ còn 20,7%. Tỷ trọng thị trường của châu Á và châu Mỹ tăng
khá nhanh. Giai đoạn 2001 – 2005, tỷ trọng châu Á là 50,9%, tăng cao hơn nhiều so
với 30,4% của giai đoạn 1986 – 1990. Tỷ trọng của châu Mỹ cũng tăng từ 1% lên
18,9% trong hai giai đoạn tương ứng.
Hòa nhập với xu thế khách quan chung của thế giới, Việt Nam đã coi hội nhập
kinh tế quốc tế là một bộ phận không thể tách rời của quá trình đổi mới. Thông qua các
văn kiện của các kỳ đại hội, Đảng ta đã khẳng định chủ trương mở rộng quan hệ kinh
tế đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và từng bước
nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế, phát huy nội lực đồng thời tranh thủ
các nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có
hiệu quả và bền vững.
Không chỉ dừng lại ở nhận thức, chủ trương, Việt Nam chúng ta đã liên tục thực
hiện các bước hội nhập kinh tế quốc tế. Tháng 10 năm 1994, Việt Nam chính thức gửi
đơn xin gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và ngày 28 tháng 7
năm 1995 Việt Nam đã chính thức là thành viên của hiệp hội này, thực hiện CEPT,
AFTA. Tháng 12 năm 1994, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại Thế
giới (WTO) và ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức là thành viên đầy đủ
thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu. Tháng 6 năm 1996, Việt Nam gửi
đơn xin gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và
ngày 14 tháng 11 năm 1998 Việt Nam được chính thức công nhân là thành viên của
APEC. Tháng 6 năm 1996, Việt Nam cũng đã tham gia Diễn đàn Hợp tác Á – Âu
(ASEM) với tư cách là thành viên sáng lập. Những thành quả trong tiến trình hội nhập
khu vực và quốc tế của Việt Nam đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho sự phát triển
hơn nữa của quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản.
1.2.2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội và chính sách đối ngoại của Nhật
Bản
a. Điều kiện tự nhiên
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
Nhật Bản là quần đảo hình cánh cung, ôm lấy lục địa châu Á với diện tích khoảng
380.000 km2, chiều dài đất nước khoảng 3.500 km. Do được hình thành từ hàng ngàn
hòn đảo lớn nhỏ trong đó gồm 4 hòn đảo chính là Hokkaido, Honshu, Kyushyu, và
Shikoku, nên quốc đảo này không có đường biên giới chung với quốc gia nào. Vì vậy,
trong lịch sử, trước năm 1945, quốc gia này chưa từng bao giờ bị một quốc gia khác
chiếm đóng. Điều này giúp hình thành nên một quốc đảo có sự đồng nhất về dân tộc,
về ngôn ngữ, về tôn giáo, về kinh tế, và cả sự đồng bộ về giáo dục.
Với hơn 90% dân số thuộc dân tộc Yamato (người Nhật) nên hầu hết mọi người
đều có thể giao tiếp với nhau bằng tiếng Nhật chuẩn được dạy trong trường học. Sự
đồng bộ giáo dục trong chương trình và chất lượng giảng dạy cũng được thực hiện trên
khắp mọi miền đất nước. Bởi thế, Nhật Bản có một nguồn lao động có trình độ giáo
dục tương đối cao và được đào tạo tốt về kỹ năng lao động, tạo điều kiện thuận lợi phát
triển kinh tế, xã hội, tránh được các mâu thuẫn về sắc tộc. Tất cả những sự đồng nhất
kể trên tạo nên ý thức đoàn kết trong công việc, tinh thần tập thể, có tính kỷ luật cao và
ham học hỏi của người Nhật.
Do quần đảo Nhật Bản nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương nên 3/4 lãnh
thổ Nhật Bản là đồi núi, chỉ có những đồng bằng nhỏ nằm ở giữa những dãy núi. Vì
vậy, diện tích đất canh tác của Nhật Bản chỉ chiếm 1/6 diện tích, không thuận tiện cho
việc thâm canh tăng năng suất. Mặt khác, Nhật Bản là một quốc gia nghèo tài nguyên
thiên nhiên và cũng thường xuyên xảy ra những thiên tai như: động đất, núi lửa, mưa
bão lớn… Điều này thúc đẩy người dân Nhật Bản ra sức tìm kiếm, phát triển kỹ thuật,
công nghệ mới, đạt tới đỉnh cao trong một số lĩnh vực: sản xuất sắt và thép, hóa chất
cho nông nghiệp, vật liệu mới, chế biến năng lượng hạt nhân, chất bán dẫn, … Những
tiến bộ vượt bậc trong ngành công nghiệp (điển hình là trong chế tạo ô tô) đã giúp Nhật
Bản nhiều năm thặng dư thương mại với các quốc gia khác chủ yếu do xuất khẩu ô tô.
Các thành tựu của công nghệ sinh học cũng giúp nâng cao năng suất nông nghiệp, phát
triển và nâng cao chất lượng lĩnh vực y tế và bảo vệ sức khỏe người dân. Đây cũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
chính là lợi thế quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước vốn không được thiên
nhiên ưu đãi này.
Tuy nhiên, Nhật Bản lại có biển bao bọc xung quanh và là nguồn cung cấp thực
phẩm dồi dào. Nhật Bản hiện là một trong những quốc gia tiêu thụ lượng hải sản nhiều
nhất thế giới. Nhật Bản cũng là một trong những nước có sản lượng đánh bắt cá cao
trên thế giới, chiếm khoảng 15% tổng sản lượng toàn thế giới. Biển cũng là đường giao
thông thuận tiện giúp vận chuyển hàng hóa nhanh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát
triển ngành ngư nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.
b. Cường quốc kinh tế
GDP bình quân đầu người của Nhật Bản luôn trong danh sách hàng đầu trên thế
giới. Năm 1999, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản đạt 35.567 USD, cao hơn gần
4,5% so với Mỹ. Năm 2003, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản đạt 33.640 USD,
tăng 0,8% so với năm 2004. Đến năm 2005, Nhật Bản là quốc gia có tốc độ tăng GDP
bình quân đầu người cao nhất trong nhóm G7, tăng gần 3%. Năm 2003, GDP của Nhật
Bản là 3.582,5 tỷ USD thì năm 2005 tăng lên đạt 4.675 tỷ USD.
Năm 1996, xuất khẩu của Nhật chiếm 8% thị trường thế giới và nhập khẩu chiếm
6,6%, đứng thứ 3 sau Mỹ và Đức. Năm 1997, xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ chiếm
27,8% và nhập khẩu chiếm 22,3%. Bởi vậy, thặng dư thương mại của Nhật với Mỹ là
5.020 tỷ yên, khoảng 41,5 tỷ USD, chiếm 50% tổng thặng dư thương mại của Nhật đối
với các bạn hàng. Nhật Bản là nước xuất siêu hàng đầu thế giới. Năm 2004, Nhật Bản
xuất siêu với kim ngạch 12 ngàn tỷ yên (khoảng 112,3 tỷ USD).
Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản đạt 61,1 ngàn tỷ yên (khoảng
582,6 tỷ USD), tăng 12,2% so với năm 2003. Đến năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của
Nhật Bản đạt 598,2 tỷ USD, tăng 5,9% so với năm 2004. Vốn đầu tư trực tiếp năm
2005 Nhật thu hút được vào trong nước đạt 30,1 tỷ USD, tăng 7,1% so với cùng kỳ
năm trước. Đồng thời vốn đầu tư trực tiếp của Nhật ra nước ngoài đạt 45,5 tỷ USD,
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
tăng 46,8%, cao nhất kể từ năm 1990. Năm 2003, Nhật Bản có 88 doanh nghiệp trong
số 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới.
c. Nền khoa học công nghệ, kỹ thuật chế tạo phát triển và các sản phẩm với
hàm lượng kỹ thuật cao
 Nền khoa học công nghệ, kỹ thuật phát triển
Nước Nhật là nước có kỹ thuật chế tạo đứng hàng đầu thế giới. Nhật Bản đã có
ưu thế tương đối trong lĩnh vực công nghệ cao như: vi điện tử, chất bán dẫn, vi tính,
người máy công nghiệp… Còn trong một số ngành truyền thống như đóng tàu vận
chuyển khí thiên nhiên hoá lỏng, Nhật Bản gần như chiếm lĩnh toàn bộ thị trường thế
giới. Quốc gia này sở hữu hơn 50% số robot cho công nghiệp sản xuất trên toàn thế
giới.
Tỷ trọng kinh phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) chiếm trong GDP cũng thể
hiện tầm quan trọng của khoa học trong phát triển kinh tế. Năm 1990, chi cho R&D
của Nhật Bản chiếm tới 3% GDP, lên tới 12.100 tỷ yên, cao hơn cả Đức, Anh, Mỹ,
Pháp. Từ đó, tỉ trọng kinh phí cho R&D chiếm trong GDP của Nhật luôn cao nhất trên
thế giới. Năm 1996, tỷ trọng này ở Nhật là 2,96%, cao nhất trong số các quốc gia phát
triển. Trong khi đó, tỷ trọng này ở Mỹ chỉ là 2,55%, Đức là 2,28%, Pháp là 2,34%,
Anh là 2,05%. Năm tài chính 1998, tỉ trọng này là 3% GDP, tương đương là 14,8 tỉ
yên. Năm 1999, tổng ngân sách cho R&D của Nhật tăng lên thành 16.000 tỷ yên, đứng
thứ hai sau Mỹ 29.000 tỷ yên và vượt xa Đức thứ ba với 6.000 tỷ yên. Năm 2000, tổng
ngân sách cho R&D của Nhật là 16.289,3 tỷ yên, chiếm 3,18% GDP, tương đương
135,7 tỷ USD, tăng 1,7% so với năm 1999.
Tính đến tháng 4/1999, số lượng các cán bộ làm việc trong lĩnh vực R&D của
Nhật là 639.000 người. Trong đó, 67,2% làm việc tại các tập đoàn, công ty; 21,6% làm
việc trong các trường đại học và 6,7% làm việc ở các viện nghiên cứu. Xét trên 10.000
dân, tại Nhật Bản có 58 nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học công nghệ, vượt xa so
với Mỹ là 38 người.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
Sự phát triển của công nghệ Nhật còn được thể hiện qua cán cân buôn bán công
nghệ, thể hiện khả năng công nghệ và nghiên cứu phát triển của đất nước. Năm 1998,
năm thứ 6 liên tiếp, Nhật Bản có mức thặng dư thương mại 486 tỉ yên. Năm 2000, xuất
khẩu kỹ thuật của Nhật Bản đạt 1.057,9 tỷ yên, tăng 10,1% so với năm 1999. Ngoài ra,
Nhật Bản còn hợp tác song phương về nghiên cứu khoa học và công nghệ với khoảng
30 nước, hợp tác đa phương với các tổ chức quốc tế khác nhau như Tổ chức năng
lượng nguyên tử quốc tế (IAEA)…
Công nghệ vũ trụ ở Nhật cũng đánh dấu thành công ban đầu vào năm 1970 với
việc phóng vệ tinh vào vũ trụ, sau Nga, Mỹ và Pháp. Tính đến cuối năm 1999, Nhật
Bản đã phóng 81 vệ tinh vào vũ trụ. Hiện tại, Nhật Bản đang có kế hoạch xây dựng
một trạm mặt trăng vào năm 2030.
Ngành năng lượng với công nghệ hiện đại của Nhật Bản đang phát triển và được
ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống. Nguồn năng lượng lớn nhất có thể tái tạo, không
cần bảo trì nhiều là những tấm năng lượng mặt trời. Theo một nghiên cứu năm 2001,
khả năng tạo ra điện năng từ mặt trời của Nhật Bản là 450.000 kW, gấp đôi ở châu Âu
và gấp ba ở Mỹ. Năm 2002, Nhật Bản đã sản xuất khoảng 50% tổng sản lượng pin mặt
trời của thế giới, chiếm vị trí số 1. Ngoài ra, người Nhật còn tạo ra năng lượng từ
những tua – bin chuyển động bằng sóng để bảo đảm an toàn cho đại dương; năng
lượng từ tuyết để làm lạnh các kho hàng và điều hoà không khí, năng lượng địa nhiệt
nằm sâu dưới những hòn đảo núi lửa.
 Các sản phẩm với hàm lượng kỹ thuật cao
Kể từ khi thời đại công nghiệp hoá mới bắt đầu, việc bảo đảm cung cấp một
nguồn năng lượng ổn định luôn luôn là một thách thức đối với Nhật Bản. Ngày nay,
thách thức này càng lớn hơn vì Nhật Bản cần thực hiện cam kết sẽ giảm lượng khí thải
“nhà kính” xuống 6% vào năm 2010, thấp hơn mức năm 1990. Các nhà khoa học của
Nhật Bản đã nghiên cứu thành công và đưa những kỹ thuật mới vào áp dụng trong cuộc
sống, để sử dụng tiết kiệm năng lượng hơn. Đó là những sản phẩm như: vật liệu làm
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
tường nhà và cửa sổ có hai lớp kính giúp ngăn hơi nóng và khí lạnh tràn vào trong nhà;
bóng điện huỳnh quang – tuổi thọ gấp 6 lần và chỉ tiêu hao 1/4 năng lượng điện so với
bóng điện thông thường với độ sáng tương tự; động cơ chạy bằng bộ đổi dòng điện một
chiều ra điện xoay chiều trong quạt gió và những máy móc công nghiệp khác – chỉ tiêu
tốn 50% điện năng…
Nhờ những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ngành chế tạo ô tô của Nhật Bản đã
chiếm ưu thế lớn trên thị trường quốc tế. Cùng với công nghệ sử dụng có hiệu quả năng
lượng, Nhật Bản đã cho ra đời “ô tô lai ghép” kết hợp giữa máy chạy xăng và động cơ
điện. Phương tiện cá nhân này có thể chạy một quãng đường dài 35 km mà chỉ tiêu tốn
1 lít xăng, tiết kiệm khoảng 2,5 lần so với loại xe thông thường. Nhật Bản đã chế tạo
các phương tiện giao thông công cộng không gây độc hại, thân thiện với môi trường và
tiết kiệm năng lượng. Đó là tàu điện sử dụng động cơ tuyến tính Maglev được nâng
bằng nam châm với điện dẫn thường. Loại phương tiện này không có bánh xe, tiếng ồn
nhỏ, chi phí vận hành thấp vì nó hoàn toàn tự động, không cần người điều khiển. Hãng
Toyota cũng đã chế tạo ra xe buýt lai tạo, chạy bằng cả pin nhiên liệu và ắc quy điện.
Loại xe này rất ít tiếng ồn và không hề có khói thải, chỉ thải ra nước, thường ở dạng
hơi.
Nhật Bản hiện đang là nước dẫn đầu thế giới về tạo năng lượng xanh cho tương
lai. Tháng 10 năm 2003, công ty TNHH JROL của Nhật Bản đã thiết kế thành công tụ
điện Nanogate, chứa năng lượng điện tương tự như ắc – quy ion lithi – loại có mật độ
năng lượng cao nhất trong tất cả các loại pin. Năm 2003, công ty Toshiba đã công bố
về thiết bị nguyên mẫu DMFC có kích thước bằng bàn tay – là một loại pin nhiên liệu
sạch được sử dụng cho nhiều thiết bị xách tay và xe hơi sau này. Năm 1954, phòng thí
nghiệm Bell ở Mỹ là nơi đầu tiên nghiên cứu chế tạo loại pin mặt trời sử dụng chất bán
dẫn silic. Nhưng sau gần nửa thập kỷ, Nhật Bản lại là nước sản xuất pin mặt trời lớn
nhất thế giới, chiếm 48,9% tổng sản lượng pin mặt trời toàn thế giới, tương đương
khoảng 255.000 kW.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
d. Có nguồn vốn đầu tư dồi dào
Năm 1967, tỉ lệ vốn đầu tư của các công ty Nhật Bản trong tổng số đầu tư nước
ngoài của các nước ASEAN chỉ chiếm 2%, thấp hơn nhiều so với lượng đầu tư của các
công ty Mỹ, chiếm 82%. Tuy nhiên, sau gần chục năm, vào năm 1975, vốn FDI của
các công ty Nhật ở khu vực này tăng lên 41%, cao hơn hẳn tỉ lệ 18% của các công ty
Mỹ.
Lượng FDI của Nhật được đầu tư chủ yếu vào các ngành thương mại và tài chính
ở Bắc Mỹ và châu Âu. Năm 1986, 45,5% lượng FDI, tương đương 10,2 tỷ USD đã
được Nhật đầu tư vào Mỹ. Cùng năm, Nhật Bản đã đầu tư 3,3 tỷ USD vào châu Âu.
Tổng lượng FDI của Nhật đã tăng từ 22,3 tỷ USD năm 1986 lên 47 tỷ USD năm 1988.
Năm 1994, tổng FDI của Nhật Bản trên thế giới là 41,05 tỷ USD, trong đó FDI vào
ASEAN của Nhật tăng tương ứng từ 599 triệu USD lên 3,9 tỷ USD.
Trước năm 1985, vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Nhật Bản tương đối ổn
định. Năm 1989, lượng FDI của Nhật Bản đạt mức cao nhất là 68 tỷ USD, tương
đương với 9.400 tỷ yên. Năm 1993, lượng đầu tư này đạt 259,8 tỷ USD, cao hơn nhiều
so với 16,9 tỷ USD đầu tư trực tiếp vào Nhật Bản.
e. Sự điều chỉnh chính sách kinh tế đối ngoại hướng về châu Á của Nhật Bản
Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Nhật Bản có vị trí địa lý gần gũi với
nhau, đều nằm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đông Nam Á là khu vực
rộng lớn giàu tài nguyên thiên nhiên, có vị trí giao thông thuận lợi nên trong lịch sử đã
trở thành nơi tranh giành ảnh hưởng của các thế lực chính trị. Khu vực này cũng nằm
trên con đường chiến lược vận tải biển của Nhật nên từ lâu đã chịu sự tác động của
Nhật Bản.
Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, Nhật Bản đã từng chiếm đóng Đông Nam Á
bằng sức mạnh quân sự, tiến hành bóc lột thuộc địa ở khu vực này. Chiến tranh kết
thúc, Nhật Bản là nước bại trận đã phải rời bỏ “sân sau” của mình và rút quân về nước.
Nhưng đây là một khu vực gắn liền với lợi ích an ninh và kinh tế của Nhật Bản nên
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
người Nhật luôn muốn duy trì sự ổn định tại đây. Bởi vậy, sau chiến tranh, Nhật Bản
đã trở lại khu vực Đông Nam Á bằng con đường “ngoại giao kinh tế” và kiên trì thực
hiện chính sách này trong một thời gian dài. Mối quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN đã
được tiếp tục nhưng gặp rất nhiều trở ngại. Chỉ đến khi, Thủ tướng Nhật Fukuda công
bố chính sách đối ngoại với Đông Nam Á của Nhật Bản tại Manila năm 1977 thì quan
hệ Nhật Bản – ASEAN mới trở nên tốt đẹp hơn. Chính sách đối ngoại trên được biết
đến như là học thuyết Fukuda, gồm ba nội dung chính:
“Thứ nhất, Nhật Bản, một quốc gia yêu cầu hòa bình, không chấp nhận vai trò
siêu cường quân sự và dựa trên cơ sở đó, quyết tâm đóng góp cho hòa bình và thịnh
vượng của Đông Nam Á, và của cả cộng đồng thế giới.
Thứ hai, Nhật Bản với tư cách là một người bạn thực sự của các nước Đông Nam
Á sẽ làm hết sức mình để củng cố mối quan hệ tin cậy lẫn nhau và dựa trên sự hiểu biết
từ trái tim đến trái tim với các nước này, mở rộng sự hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế,
chính trị và cả trong các lĩnh vực văn hóa và xã hội.
Thứ ba, Nhật Bản sẽ là một đối tác bình đẳng với ASEAN và các nước thành
viên của họ và hợp tác tích cực với các nước này phù hợp với khả năng của mình nhằm
củng cố sự đoàn kết các mối quan hệ đặc biệt của nước này, cùng với các quốc gia
khác bên ngoài khu vực, xây dựng một quan hệ hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia
Đông Dương và như vậy sẽ đóng góp vào việc thiết lập hòa bình và thịnh vượng trong
toàn khu vực Đông Nam Á”.
Trong lịch sử, đây là lần đầu tiên chính sách đối ngoại với Đông Nam Á của Nhật
được tuyên bố công khai như vậy. Do đó, đường hướng chính sách của Nhật đối với
khu vực cũng trở nên rõ ràng hơn và vai trò của Nhật cũng nổi bật hơn. Nội dung học
thuyết Fukuda gồm hai ý chính. Thứ nhất, Nhật Bản muốn đẩy mạnh quan hệ hợp tác
với các quốc gia Đông Nam Á hơn nữa. Thứ hai, Nhật Bản muốn trở thành cầu nối
giữa ASEAN và Đông Dương, tạo môi trường ổn định ở đây. Chính sách đối ngoại trên
thể hiện sự quan tâm và thiện chí giúp đỡ về vật chất lẫn tinh thần của Nhật Bản đối
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
với các nước ASEAN nên được coi là một học thuyết trọn vẹn và mới mẻ của Nhật
Bản thời gian đó. Mối quan hệ hợp tác Nhật Bản – ASEAN ngày càng được củng cố và
phát triển mạnh mẽ trên mọi mặt thông qua FDI, ODA và trao đổi thương mại. Thực tế
trên cũng chứng tỏ chính sách kinh tế đối ngoại hướng về châu Á của Nhật Bản trước
đây là đúng đắn và hợp lý.
Trong lĩnh vực thương mại, các nước ASEAN ngày càng trở thành thị trường
quan trọng của Nhật Bản. Vào nửa sau những năm 1970, Nhật đã chiếm 25,1% tổng
kim ngạch của ASEAN. Trong 10 năm, từ 1973 – 1983, xuất khẩu của các nước
ASEAN tới Nhật chiếm 23 - 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của khối này. Nhập
khẩu của các quốc gia Đông Nam Á từ Nhật chiếm 23 - 27% tổng kim ngạch nhập
khẩu. Giai đoạn 1973 – 1989, cán cân mậu dịch chủ yếu nghiêng về phía các nước
ASEAN, trừ 2 năm 1978 và 1989 các nước ASEAN rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân
thanh toán với Nhật.
Năm 1990, tỷ trọng xuất khẩu của Nhật Bản vào khu vực Đông Nam Á đạt
11,49% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản, tương đương 33,66% giá trị xuất
khẩu của Nhật Bản vào châu Á. Năm 1993, tương ứng lần lượt là 13,71% và 33,51%.
Bảng 1.1. Thống kê xuất khẩu của Nhật sang các nước ASEAN
(Đơn vị: tỷ yên)
Nước/Năm 1990 1995 1998 1999 2000 2001
Thế giới 41.457 41.531 50.645 47.548 51.654 48.979
Châu Á 14.143 18.911 19.202 18.832 22.319 21.033
Inđônêxia 724 935 560 551 818 778
Malaixia 793 1.573 1.216 1.265 1.479 1.337
Thái Lan 1.315 1.850 1.222 1.285 1.469 1.422
Philippin 363 667 948 997 1.106 995
Xingapo 1.547 2.158 1.930 1.854 2.244 1.786
Việt Nam 31 86 174 185 213 216
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 4, 2003, Trung tâm Nghiên
cứu Nhật Bản, tr.22.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
Năm 1995, xuất khẩu của Nhật Bản sang ASEAN đạt 79,9 tỷ USD và nhập khẩu
về 42,5 tỷ USD, chiếm tương ứng 18% tổng kim ngạch xuất khẩu và 14% tổng kim
ngạch nhập khẩu của nước này. Trong danh sách các nước nhập khẩu lớn nhất từ
ASEAN, Nhật Bản đứng thứ 3, chỉ sau Mỹ và EU. Tính đến năm 1996, xuất khẩu của
Nhật Bản vào khu vực này đã tăng liên tục 14 năm liền và nhập khẩu tăng 9 năm liền.
Kể từ năm 1997, do tác động của khủng hoảng tài chính nên quan hệ thương mại song
phương có chiều hướng chững lại. Năm 1998, kim ngạch thương mại song phương
ASEAN – Nhật đạt gần 84 tỷ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch thương mại của
ASEAN. Và nếu tính chung trong giai đoạn 1998 – 2006, kim ngạch thương mại song
phương trung bình hàng năm tăng 15%. Nhật Bản thường nhập khoảng 16% dầu mỏ,
30% đồng, 35% bô xít, 12% kẽm, 37% gỗ, 100% thiếc và cao su tự nhiên từ khu vực
này. Những con số trên phản ánh sự gần gũi và hỗ trợ mật thiết lẫn nhau giữa các nền
kinh tế ASEAN và Nhật Bản, cũng như mối quan hệ đối tác quan trọng giữa hai bên.
Nhật Bản đã trở thành một trong những bạn hàng lớn nhất của các nước Đông Nam Á.
Và nếu khu vực mậu dịch tự do (FTA) giữa hai bên trở thành hiện thực trong năm
2020, thì xuất khẩu của Nhật Bản sang ASEAN mỗi năm có thể lên tới 67 tỷ USD, tức
là gấp 1,5 lần so với hiện nay.
Việt Nam là một nước thành viên của ASEAN, hơn nữa lại là nước nằm trong
nhóm CLMV (Cawmpuchia, Lào, Mianma, Việt Nam) được nhận những ưu đãi hơn so
với các nước ASEAN khác trong chính sách kinh tế đối ngoại của Nhật Bản. Chính vì
vậy, chính sách đối ngoại hướng về châu Á của Nhật Bản, đặc biệt là việc đẩy mạnh
quan hệ về mọi mặt với các nước ASEAN, là một nhân tố quan trọng góp phần thúc
đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản.
1.2.3. Nhận xét chung về lợi thế so sánh phát triển quan hệ thương mại Việt
Nam – Nhật Bản
Việt Nam và Nhật Bản có vị trí địa lý gần gũi, cùng ở trong khu vực Đông Á. Hai
nước đều nằm trong vùng “khí hậu gió mùa” và có nền văn minh nông nghiệp trồng lúa
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
nước. Việt Nam và Nhật Bản vốn có nhiều nét tương đồng về văn hóa, thể hiện trong
phong tục, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo. Mối quan hệ thương mại song phương cũng
được hình thành từ rất sớm. Trải qua nhiều diễn biến lịch sử, mối quan hệ song phương
trên một số mặt giữa hai nước vẫn được duy trì. Và kể từ khi hai quốc gia ký kết Hiệp
định thiết lập chính thức quan hệ ngoại giao vào ngày 21/9/1973, lịch sử bang giao
giữa hai nước đã bước sang một trang mới. Sau những bước khởi đầu chậm chạp đầy
khó khăn, kể từ năm 1992 đến nay, quan hệ Việt – Nhật nói chung và quan hệ thương
mại song phương nói riêng đã phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, để quan hệ thương
mại giữa hai nước phát triển tốt đẹp hơn nữa cần sự tăng cường hợp tác của mỗi quốc
gia cũng như tăng hiệu quả tận dụng những lợi thế so sánh riêng sẵn có.
Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ngoài việc phát huy nội lực
Việt Nam phải dựa vào sự hợp tác với nước ngoài, đặc biệt là những quốc gia có trình
độ phát triển cao như Nhật Bản. Việt Nam cần nguồn vốn đầu tư dồi dào ở Nhật để
phát triển khoa học kỹ thuật, cải thiện cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế. Năm 2001, vốn
đầu tư trực tiếp (FDI) của Nhật Bản chỉ đạt 160 triệu USD, và 9 tháng đầu năm 2002 là
90 triệu USD. Song nếu so với tổng mức FDI của Nhật Bản vào châu Á là 655,5 tỷ yên
(tương đương 5.704 triệu USD), chiếm 12,2% tổng FDI của Nhật ra nước ngoài thì
mức FDI của Nhật vào Việt Nam còn nhỏ bé trong tổng mức chung cũng như với các
nước khác trong khu vực. Bởi vậy, mở rộng quan hệ, thu hút FDI không chỉ là nhu cầu
của Việt Nam mà phía Nhật cũng có khả năng đáp ứng. Năm 2007, Nhật Bản đã có
928 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng FDI đạt 9.037,8 triệu
USD. Tuy Nhật chỉ đứng thứ 4 trong số các nước và vùng lãnh thổ có dự án FDI làm
ăn tại nước ta, nhưng lại là nước có vị trí hàng đầu trong thực hiện dự án và giải ngân
vốn đầu tư. Trong cuộc thăm dò năm 2007 của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
(JBIC), Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Ấn Độ trong danh sách điểm đến ưa
chuộng tại châu Á của các nhà đầu tư Nhật Bản.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN
Ngoài lợi thế về nguồn vốn đầu tư, Nhật Bản còn có các công nghệ tiên tiến hiện
đại có thể đáp ứng cho nhu cầu của Việt Nam. Hiện tại, công nghệ của Việt Nam ở
mức thấp so với khu vực như Thái Lan, Xingapo,... Nếu so với mức trung bình của thế
giới thì hệ thống thiết bị kỹ thuật ở đa số các doanh nghiệp lạc hậu hơn từ 2 – 3 thế hệ.
Tỷ lệ công nghệ thấp của Việt Nam còn quá cao trong khi tỷ lệ công nghệ cao, hiện đại
lại thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khối ASEAN. Do vậy, muốn đạt được
mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 thì Việt Nam cần tăng cường
hợp tác hơn nữa với các quốc gia, nhất là những quốc gia phát triển có vốn và công
nghệ hiện đại như Nhật Bản. Nếu Việt Nam nhập khẩu được các dây chuyền công nghệ
cao và tiếp thu kinh nghiệp quản lý của Nhật Bản thì có thể nâng cao năng suất, chất
lượng của sản phẩm, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm đó so với các sản phẩm cùng
loại khác của nước ngoài. Kết hợp cùng với việc sử dụng hiệu quả các lợi thế so sánh
của Việt Nam như lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công thấp hơn số với một nước
trong khu vực, nguồn thủy hải sản phong phú, tài nguyên khoáng sản đa dạng… thì sẽ
có thêm nhiều sản phẩm của Việt Nam có mặt tại thị trường Nhật Bản.
Nhật Bản là một trong những quốc gia nhập khẩu nông phẩm thuần lớn nhất thế
giới. Phần của sản xuất nông nghiệp trong tổng sản phẩm nội địa giảm mạnh, từ 9,0%
năm 1960 xuống còn 1,8% năm 1990. Đồng thời, nhập khẩu nông phẩm của Nhật Bản
tiếp tục tăng tới 30 lần xét về giá trị trong khoảng thời gian trên, đạt 26 tỷ USD, chiếm
11,1% trong tổng giá trị nhập khẩu vào năm 1990. Cũng tương tự như nông nghiệp, sản
lượng của ngành ngư nghiệp Nhật Bản ngày càng giảm sút. Hàng năm, để đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng trong nước, Nhật Bản phải nhập khẩu khoảng 14 tỷ USD các
sản phẩm thủy hải sản, chiếm khoảng 30% giá trị nhập khẩu lương thực của nước này.
Tuy nhiên, khối lượng nhập khẩu thủy sản vào Nhật Bản từ năm 2000 đến nay không
ổn định. Nguyên nhân một phần là do giá thủy sản trên thế giới đắt đỏ, một phần là do
chất lượng thủy sản của các nước xuất khẩu không đáp ứng được những yêu cầu của
phía Nhật Bản dẫn đến việc Nhật Bản kiểm soát chặt chẽ và hạn chế khối lượng nhập
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Đặng Anh Tiến lớp KTPT 47B_QN