Phép biện chứng duy vật và vai trò của nó đối với hoạt động của con người

  • 39 trang
  • file .docx
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thực tiễn, hoạt động của con người tồn tại trên nhiều lĩnh vực khác
nhau với nhiều mục tiêu khác nhau. Nhằm đạt được những mục tiêu đó, con người
phải nắm bắt được các mối liên hệ phổ biến và phát triển của mọi sự vật, hiện tượng
để tránh mắc phải những sai lầm không đáng có. Điều đó đòi hỏi phải có những lý
luận đúng đắn soi đường mà trong đó triết học nói chung và phép biện chứng duy
vật nói riêng đóng vai trò quan trọng nhất.
Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học phản ánh khái quát sự vận động
và phát triển của hiện thực. Do đó, nó không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn
là sự diễn tả quan niệm về thế giới, là lý luận về thế giới quan. Hệ thống các quan
điểm của phép biện chứng duy vật, do tính đúng đắn và triệt để của nó đem lại đã
trở thành nhân tố định hướng cho quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn của con
người đạt dược nhiều hiệu quả tích cực.
Đề tài:
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI
Là một sinh viên kinh tế, em thiết nghĩ cần phải trau dồi cho mình một vốn
kiến thức vững chắc về triết học nói chung cũng như phép biện chứng duy vật nói
riêng, và quan trọng nhất là vai trò của nó đối với hoạt động của con người để giúp
ích cho quá trình lập nghiệp sau này.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
PHẦN I
PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG
1. Khái niệm phép biện chứng & siêu hình
+ Phép biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp chung
nhất của tư duy. Chúng được xây dựng trên hai quan điểm đối lập là quan điểm biện
chứng và quan điểm siêu hình.
+ Phép biện chứng : theo Anghen chẳng qua chỉ là môn khoa học về những
quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài
người và tư duy.
+ Phép siêu hình: theo Arixtôt siêu hình học là học thuyết về những nguyên
tắc và các bản nguyên tối cao , siêu kinh nghiệm của tồn tại , của nhận thức , của
văn hóa và của con người.
2. Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình.
+ Phương pháp siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối
tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có ranh giới tuyệt đối.
Trong khi đó, phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ
với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau.
+ Phương pháp siêu hình nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại, nếu có sự
biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm bên
ngoài sự vật. Trong khi đó phương pháp biện chứng nhận thức đối tượng ở trạng thái
vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển. Đây là quá trình
thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu
tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng.
Như vậy phương pháp siêu hình làm cho con người “ chỉ nhìn thấy những sự
vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự
tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự diệt vong của
những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự
vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”. Còn phương
pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo linh hoạt. Nó thừa nhận trong những
trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “ hoặc là…hoặc là…” còn có cả cái “ vừa là…
vừa là…” nữa; thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó;
thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó với nhau.
Phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định bởi hiện
thực không rời rạc và ngưng đọng như phương pháp này quan niệm. Còn phương
pháp biện chứng phản ánh đúng hiện thực như nó tồn tại. Nhờ vậy phương pháp tư
duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế
giới.
3. Khái quát lịch sử hình thành phép biện chứng.
a. Phép biện chứng cổ đại.
Giai đoạn đầu tiên của tư duy triết học biện chứng là phép biện chứng tự phát
thời kỳ cổ đại và được thể hiện rõ nét nhất qua thuyết âm dương của triết học Trung
Quốc và các học thuyết của triết học Hy Lạp cổ đại.
* Hoàn cảnh ra đời:
Về hoàn cảnh ra đời của phái Âm dương còn có nhiều điểm chưa sáng tỏ nên
ở đây ta chỉ xét đến hoàn cảnh ra đời của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại.
- Điều kiện kinh tế - xã hội - văn hoá: Xã hội Hy Lạp xuất hiện sớm vào
khoảng thế kỷ thứ VIII trước công nguyên đến thế kỷ thứ III sau công nguyên. Vào
thế kỷ thứ VI–IV trước công nguyên, xã hội chiếm hữu nô lệ Hy Lạp đã đạt tới hoàn
thiện. Sự phát triển này làm xuất hiện 2 trung tâm kinh tế chính trị điển hình là Aten
và Spác, tương ứng với nó là hai thể chế khác nhau về hình thức: nhà nước chủ nô
dân chủ Aten và nhà nước chủ nô quân chủ Spác. Sự khác nhau đó dẫn tới cuộc nội
chiến tương tàn và cuối cùng chiến thắng thuộc về thành bang Spác. Đất nước Hy
Lạp cổ đại có một nền văn minh phát triển rực rỡ. Về tôn giáo, họ thờ nhiều thần và
vị thần tối cao là thần Dớt. Về giáo dục, họ coi trọng đạo đức, trí dục, thể dục. Về
chính trị, họ coi trọng chế độ dân chủ. Về đời sống, họ sống giản dị, chất phác. Về
kiến trúc, họ có tính cách điều độ cân đối. Về khoa học, họ phát triển khoa học tự
nhiên như toán, vật lý, thiên văn học...Về văn học có Hômơ với hai tác phẩm nổi
tiếng là Iliat và Ôđixe. Về triết học có nhiều trường phái.
- Sự hình thành triết học: triết học Hy Lạp ra đời vào thế kỷ thứ VI trước
công nguyên trên các cơ sở:
+ Do sự phát triển kinh tế, đặc biệt do sự phát triển của lao động và tổ chức
lao động nô lệ, trong đó một bộ phận của xã hội là người tự do có điều kiện nghiên
cứu khoa học triết học
+ Do có nhiều biến chuyển kinh tế và chính trị mà một bộ phận của tầng lớp
chủ nô có điều kiện chăm lo xây dựng thế giới quan của mình để định hướng cho
cuộc đấu tranh.
+ Do liên hệ mật thiết với các tri thức khoa học, cuộc đấu tranh tôn giáo, tín
ngưỡng.
+ Do vị trí của Hy Lạp cổ đại thuận lợi trong giao lưu kinh tế văn hoá với các
nước phương Đông.
* Đặc điểm:
Các nhà duy vật biện chứng cổ đại ngay từ thời bấy giờ đã thấy rằng, các sự
vật của thế giới xung quanh ta nằm trong một mớ chằng chịt vô tận những sợi dây
liên hệ và những tác động qua lại lẫn nhau, trong đó không có cái gì là vẫn y nguyên
như cũ, đứng yên chỗ cũ mà tất cả đều vận động, biến hoá, sinh thành và tiêu vong.
Nhưng do chưa đạt đến trình độ đi sâu phân tích giới tự nhiên cho nên các nhà biện
chứng cổ Hy Lạp chú ý đến sự vận động, đến sự quá độ từ cái này sang cái khác,
đến những mối liên hệ nhiều hơn là chú ý đến cái đang vận động, đang quá độ và
đang liên hệ với nhau. Cách nhận xét thế giới như vậy, theo Anghen, là một cách
nhận xét còn nguyên thuỷ, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng và là kết quả của một
trực kiến thiên tài, song chưa phải là kết quả của những sự nghiên cứu và thực
nghiệm khoa học. Thời kì này cũng diễn ra sự giao lưu giữa Hy Lạp và các nước Ả
Rập phương Đông nên triết học Hi Lạp cũng chịu sự ảnh hưởng của triết học
phương Đông.
* Đại biểu:
- Hêraclit(520-460 TCN): là nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại. Khác
với các nhà triết học phái Milê, Hêraclit cho rằng chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất
thảy mọi sự vật. “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi
vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng”. Lửa không chỉ là cơ sở của mọi vật
mà còn là khởi nguyên sinh ra chúng. Bản thân vũ trụ không phải do chúa Trời hay
một lực lượng siêu nhiên thần bí nào tạo ra. Nó “ mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa
vĩnh viễn đang không ngừng bùng cháy và tàn lụi”. Ví toàn bộ vũ trụ tựa như ngọn
lửa bất diệt, Hêraclit đã tiếp cận được với quan điểm duy vật nhấn mạnh tính vĩnh
viễn và bất diệt của thế giới.
Dưới con mắt của Hêraclit mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đều thay
đổi, vận động, phát triển không ngừng . Luận điểm bất hủ của Hêraclit: “Chúng ta
không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và
thống nhất của các mặt đối lập nhưng trong các mối quan hệ khác nhau. Chẳng hạn:
“Một con khỉ dù đẹp đến đâu thì cũng là xấu nếu đem so với một con người”. Chuẩn
mực của moị sự vật theo Hêraclit đó là logos bản thân logos là sự thống nhất của các
mặt đối lập. Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các
cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau. Nhờ các cuộc đấu tranh đó
mà mới có hiện tượng sự vật này chết đi sự vật khác ra đời. Điều đó làm cho vũ trụ
thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng. Vì thế đấu tranh là vương quốc của
mọi cái , là quy luật phát triển của vũ trụ. Bản thân cuộc đấu tranh giữa các mặt đối
lập luôn luôn diễn ra trong sự hài hòa nhất định, dựa trên sự quy định của
logos.Theo Hêraclit thì đối với thế giới, cái ác, cái bần tiện là cái tương đối còn cái
thiện, cái cao cả là cái tuyệt đối,nhưng đối với chúa Trời thì tất cả mọi cái đều tốt
đẹp cả.
a. Phép biện chứng duy tâm.
Giai đoạn phát triển thứ hai của phép biện chứng là phép biện chứng duy tâm
mà đỉnh cao của nó là triết học cổ điển Đức.
* Hoàn cảnh:
- Cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 sau thắng lợi của hàng loạt các cuộc cách
mạng tư sản nhiều nước Tây Âu đã bước vào cách mạng công nghiệp, trong khi đó
nước Đức vẫn là một nước phong kiến lạc hậu, tình trạng cát cứ phân tán nhỏ lẻ phổ
biến.
- Giai cấp tư sản Đức đã hình thành nhưng nằm rải rác và phân tán ở những
công quốc nhỏ, tách rời nhau vì thế giai cấp tư sản Đức nhỏ bé về số lượng, yếu kém
về thế lực chính trị. Chính vì thế mà giai cấp tư sản không thể làm cách mạng hiện
thực mà chỉ làm cách mạng trong tư duy.
* Đặc điểm:
- Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp tư sản Đức
cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
Nếu như triết học phương Tây thời cận đại bàn nhiều đến vấn đề bản thể luận
và nhận thức luận thì triết học cổ điển Đức đặc biệt đề cao vai trò tích cực của hoạt
động con người, coi con người là chủ thể hoạt động, là nền tảng là điểm xuất phát
của mọi vấn đề triết học.
- Triết học cổ điển Đức có tính lý luận rất cao. So với truyền thống trước đó
triết học cổ điển Đức đã đạt tới đỉnh cao phương thức lý luận trong việc trình bày
những tư tưởng triết học.
- Có sự mâu thuẫn giữa những nội dung tư tưởng triết học mang tính khoa
học và cách mạng với những hình thức thể hiện có tính chất duy tâm, tôn giáo và có
tính chất siêu hình. Tính mâu thuẫn đó có nguồn gốc từ bối cảnh lịch sử của thời kì
này.
- Nhược điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức là còn duy tâm do quá đề cao
sức mạnh của trí tuệ, hoạt động của con người trước các thành tựu kinh tế, văn hoá
loài người đã đạt được, họ coi con người là chúa tể của tự nhiên và tự nhiên chỉ là
kết quả hoạt động của con người.
Và cho dù là dưới hình thức duy tâm nhưng triết học cổ điển Đức đã cung cấp
cho chúng ta phương pháp tư duy biện chứng, sau này được Mác và Anghen khăc
phục, kế thừa và nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa duy vật hiện đại.
*Đại biểu:
- Cantơ: Là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm. Nét nổi bật
trong triết học của Cantơ là đã trình bày những quan niệm biện chứng của mình về
giới tự nhiên.
Triết học Cantơ là triết học nhị nguyên. Một mặt ông thừa nhận sự tồn tại của
thế giới các “ vật tự nó” ở bên ngoài con người. Thế giới đó có thể tác động tới cãc
giác quan của chúng ta. ở điểm này,Cantơ là nhà duy vật. Nhưng mặt khác thế giới
các vật thể quanh ta mà ta thấy được lại không liên quan gì đến cái gọi là “ thế giới
vật tự nó”, chúng chỉ là “ các hiện tượng”… phù hợp với cái cảm giác và cái tri thức
do lý tính tạo ra. Như vậy trong lĩnh vực nhận thức luận, Cantơ cũng là người theo
thuyết “không thể biết”.
Tính duy tâm trong triết học Cantơ còn thể hiện ở chỗ ông coi không gian,
thời gian, tính nhân quả cũng như các quy luật của giới tự nhiên không phải là
những cái thuộc bản thân giới tự nhiên, mà là sản phẩm của lý trí tiên nghiệm, có
trước kinh nghiệm. Khi nhận xét về tính không nhất quán mâu thuẫn trong triết học
của Cantơ, Lênin đã nói rằng, triết học đó là sự dung hoà chủ nghĩa duy vật với chủ
nghĩa duy tâm, thiết lập sự thoả hiệp giữa hai chủ nghĩa đó kết hợp hai khuynh
hướng triết học khác nhau và đối lập nhau trong một hệ thống nhất.
- Hêghen: Hêghen là nhà biện chứng đồng thời là nhà triết học duy tâm khách
quan. Triết học của ông đầy mâu thuẫn. Nếu phương pháp biện chứng của ông là hạt
nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về sự phát triển, thì hệ thống triết học duy
tâm của ông phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong, vốn
có của sự phát triển của tự nhiên và xã hội. ông cho rằng khởi nguyên của thế giới
không phải là vật chất mà là “ ý niệm tuyệt đối” hay “ tinh thần thế giới”. “Ý niệm
tuyệt đối”, theo nhận xét của Lênin, chỉ là một cách nói theo đường vòng, một cách
nói khác về thượng đế mà thôi.Cho nên, triết học của Hêghen chẳng qua cũng chỉ là
sự biện hộ của tôn giáo.
Hêghen đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và ông là người đầu
tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa
là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Nhưng tất cả những cái đó
chỉ là quy luật vận động và phát triển của bản thân tư duy, của ý niệm tuyệt đối.
Trong hệ thống triết học của Hêghen, không phải ý thức,tư tưởng phát triển trong sự
phụ thuộc vào sự phụ thuộc của giới tự nhiên và xã hội mà ngược lại, tự nhiên, xã
hội phát triển trong sự phụ thuộc vào sự phát triển của ý niệm tuyệt đối. Ý niệm
tuyệt đối, tinh thần thế giới là tính thứ nhất, giới tự nhiên là tính thứ hai.
Tóm lại, hệ thống triết học của Hêghen (gồm ba bộ phận chính là: lôgíc học,
triết học về tự nhiên, triết học về tinh thần) là một hệ thống duy tâm, mà thực chất
của nó “là ở chỗ lấy cái tâm lý làm điểm xuất phát, từ cái tâm lý suy ra giới tự
nhiên” (Lênin). Tuy nhiên, phép biện chứng của Hêghen đã mâu thuẫn với hệ thống
triết học duy tâm của ông và trở thành một trong những nguồn gốc lý luận của triết
học Macxit
c ) Phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật được thể hiện trong triết học do Các Mác và
Anghen xây dựng, sau đó được Lênin phát triển. Các mác và Anghen đã gạt bỏ tính
chất thần bí và kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng duy tâm để xây
dựng phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và
sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất.
*Hoàn cảnh:
- Điều kiện kinh tế xã hội: Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản
đã tạo ra một lực lượng xã hội đối lập với chính nó đó là giai cấp vô sản. Giai cấp vô
sản này càng lớn mạnh, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản cũng ngày
càng gay gắt, quyết liệt. Những xung đột giữa giai cấp vô sản và tư sản dã trở thành
những cuộc đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để chống lại giai
cấp tư sản trải qua nhiều giai đoạn với những hình thức khác nhau.
Thời kỳ đầu, các cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chỉ hướng tới những mục
tiêu kinh tế hàng ngày và hình thức đấu tranh chủ yếu là kinh tế. Vào khoảng những
năm 30 của thế kỷ XIX, phong trào công nhân có sự thay đổi về chất. Khi chế độ tư
bản chủ nghĩa dược xác lập, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội và giai
cấp vô sản là giai cấp bị trị thì mâu thuẫn giữa hai giai cấp này vốn mang tính chất
đối kháng ngày càng phát triển, trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp, nhiều cuộc
đấu tranh lớn diễn ra. Giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử không chỉ có sứ
mệnh là “kẻ phá hoại” chủ nghĩa tư bản mà con là lực lượng tiên phong trong cuộc
đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội.
Thực tiễn xã hội nói chung, nhất là thực tiễn cách mạng vô sản, đòi hỏi phải
được soi sáng bởi lý luận nói chung và triết học nói riêng. Sự xuất hiện giai cấp vô
sản cách mạng đã tạo cơ sở xã hội cho sự hình thành lý luận tiến bộ và cách mạng
mới. Đó là lý luận thể hiện thế giới quan cách mạng của giai cấp cách mạng triệt để
nhất trong lịch sử, do đó kết hợp một cách hữu cơ tính cách mạng và tính khoa học
trong bản chất của mình. Nhờ đó, nó có khả năng giải đáp bằng lý luận những vấn
đề của thời đại đặt ra.
- Tiền đề lý luận: Triết học Mác ra đời ngoài những điều kiện kinh tế xã hội,
nó còn kế thừa được những yếu tố tích cực toàn bộ trong kho tàng lý luận của các
giai đoạn trước như trong kinh tế chính trị học cổ điển Anh, trong chủ nghĩa xã hội
không tưởng ở Pháp, trong triết học cổ điển Đức. Đặc biệt trong triết học cổ điển
Đức những nội dung cách mạng toàn bộ trong phép biện chứng của Hêghen cùng
những tư tưởng duy vật của Pháp đã làm một trong những cơ sở lý luận cho sự hình
thành tư tưởng duy vật biện chứng trong triết học Mác. Ngoài ra sự ra đời của triết
học Mác còn kế thừa được những yếu tố tích cực toàn bộ của những tri thức khoa
học khác như trong sử học, xã hội học
- Tiền đề khoa học tự nhiên: Cùng với những tiền đề lí luận trên, những thành
tựu khoa học tự nhiên là những tiền đề cho sự ra đời của triết học Mac. Sự phát triển
của tư duy triết học phải dựa trên cơ sở tri thức do các khoa học cụ thể đem lại. Vào
khoảng những năm 30 của thế kỷ XIX do nhu cầu của nền sản xuất xã hội khoa học
tự nhiên có những bước phát triển mới, nhiều phát minh khoa học lớn xuất hiện.
Đáng chú ý có 3 phát minh
+1842 – 1845: ra đời định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng
+ Vào khoảng những năm 30 của thế kỷ 19 ra đời học thuyết tế bào.
+ 1859: ra đời thuyết tiến hoá của Đácuyn.
Những phát minh lớn của khoa học tự nhiên làm bộ lộ rõ tính hạn chế và sự
bất lực của phương pháp tư duy siêu hình trong việc nhận thức thế giới
- Kết luận: những điều kiện và tiền đề trên cho thấy sự ra đời của triết học
Mác là một tất yếu khách quan nhằm đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội và phù
hợp với quy luật phát triển của nhận thức nhân loại.
*Đặc điểm:
Sự ra đời của triết học Mác đã tạo ra sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng trong
lịch sử phát triển triết học của nhân loại và nó được thể hiện qua các nội dung:
- Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại. Mác
và Anghen đã sáng tạo nên chủ nghĩa duy vật triết học triệt để, đã vận dụng thế giới
quan duy vật vào nghiên cứu xem xét các hiện tượng của đời sống xã hội.
- Triết học Mác đã khắc phục được sự tách rời giữa chủ nghĩa duy vật và biện
chứng trong các tư tưởng triết học của các giai đoạn trước nhờ đó mà thống nhất
được chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật. Lần đầu tiên trong
lịch sử triết học có được sự thống nhất này làm cho triết học thực sự trở thành một
khoa học toàn diện nhất sâu sắc nhất.
- Sự ra đời của triết học Mác đã làm cho vai trò xã hội của triết học cũng như
vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa học được nâng cao.
- Triết học Mác là thế giới quan khoa học của giai cấp vô sản trong cuộc đấu
tranh tự giải phóng mình. Sự kết hợp lý luận của triết học Mác với thực tiễn phong
trào công nhân đã tạo nên bước chuyển về chất của phong trào từ trình độ tự phát lên
trình độ tự giác. Trong triết học Mác, tính Đảng càng cao thì tính khoa học càng sâu
sắc.
- Triết học Mác là thế giới quan của khoa học và phương pháp luận chung,
cần thiết cho sự phát triển của tất cả các môn khoa học.
* Đại biểu:
- Mác và Ănghen : chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
do Mác và Ănghen sáng lập là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học. Đó là
một cuộc cách mạng thực sự trong triết học về xã hội .
Triết học Mác không chỉ giải thích thế giới mà chủ yếu là công cụ cải tạo thế
giới. Nó là công cụ nhận thức khoa học để cải tạo thế giới bằng thực tiễn cách
mạng.Vai trò xã hội của triết học và vị trí của triết học trong hệ thống tri thức khoa
học đã biến đổi từ khi triết học Mác ra đời . Triết học Mác trở thành thế giới quan
khoa học để tiếp tục phát triển khoa học và cải tạo thực tiễn .
Để xây dựng triết học duy vật biện chứng, Mac đã phải cải tạo chủ nghĩa duy
vật cũ và cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen. C.Mác đã phê phán phép biện
chứng duy tâm của Heghen một cách sâu sắc và nghiêm khắc. Mác cho rằng sai lầm
chủ yếu của Hêghen là ở chỗ ông quan niệm mâu thuẫn của hiện tượng như sự thống
nhất trong bản chất, trong tư tưởng, trong khi bản chất của mâu thuẫn này tất nhiên
là một cái gì đó sâu sắc hơn, cụ thể là mâu thuẫn bản chất. Ở Hêghen phép biện
chứng bị lộn ngược đầu xuống đất. Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt
nhân hợp lí của nó ở đằng sau lớp vỏ thần bí. Mác và Ănghen đã cải tạo một cách
duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen, sau khi tách “ hạt nhân hợp lí “ vốn
có của nó sau khi đã vứt bỏ lối giải thích duy tâm về các hiện tượng tự nhiên và xã
hội, vứt bỏ lối qui các quá trình vật chất vào sự vận động lôgic của tư duy, vào sự tự
nhận thức của ý niệm tuyệt đối...
Hai ông không chỉ thoả mãn với việc cải tạo duy vật phép biện chứng duy
tâm mà đồng thời cũng tiến hành cải tạo một cách biện chứng chủ nghiã duy vật siêu
hình trước đó. Mác và Ănghen đã liên kết một cách hữu cơ, đã gắn bó thành một thể
thống nhất, không tách rời chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, đã xây dựng thế
giới quan triết học khoa học, duy vật biện chứng với tư cách một học thuyết về
những qui luật chung nhất của sự phát triển của tự nhiên xã hội và nhận thức. Phép
biện chứng duy vật đã được xây dựng và phát triển không chỉ với tính cách là một
phương pháp mà còn là một lí luận khoa học triệt để, nhờ đó mà nó đã gạt bỏ sự thoả
hiệp với hệ tư tưởng của các giai cấp bóc lột.
Chiến công trí tụê vĩ đại trong lĩnh vực triết học của Mác và Ănghen là ở chỗ
hai ông đã cải tạo hoàn toàn di sản triết học một cách có phê phán cách mạng trên
lập trường lí luận và xã hội chính trị mới về nguyên tắc, đã phủ nhận nó một cách
biện chứng, trong khi vẫn duy trì và phát triển sáng tạo những thành tựu của triết
học tiền bối .
- Lênin: Lênin đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác vào quá trình giải
quyết những nhiệm vụ của cách mạng vô sản trong thời cổ đại đế quốc chủ nghĩa và
bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.Ông đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển lý
luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.
Lênin đã bảo vệ chủ nghĩa Mác chống lại sự xuyên tạc của những quan điểm
duy vật về lịch sử, đặc biệt là học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội của Mác.
Đứng trước sự tăng cường ảnh hưởng của chủ nghĩa Makhơ - một học thuyết duy
tâm chủ quan nhằm xuyên tạc triết học Mác, Lênin đã phê phán quyết liệt những
quan điểm của những người theo phái Makhơ.
Trong quá trình phê phán và dựa vào thành tựu khoa học lớn lao thời kỳ này,
Lênin đã phát triển và bổ sung cho chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Định nghĩa về vật chất của Lênin và sự vận dụng phép biện chứng tài
tình của ông đã làm sâu sắc thêm nhiều vấn đề cơ bản của nhận thức lý luận Macxit.
Phương pháp biện chứng trong việc phân tích “ cuộc khủng hoảng vật lý” đã góp
phần to lớn vào việc thúc đẩy sự phát triển của khoa học tự nhiên suốt từ đó đến nay.
Lênin quan tâm sâu sắc tới lý luận về phép biện chứng, đặc biệt là tư tưởng biện
chứng trong triết học của Hêghen. “ Những hạt nhân hợp lý” trong triết học Hêghen
đã được Lênin khai thác để làm giàu thêm phép biện chứng nhất là quy luật về đấu
tranh của các mặt đối lập.
Lênin đã có đóng góp to lớn và quan trọng vào kho tàng lý luận triết học xã
hội: vấn đề nhà nước và cách mạng, chuyên chính vô sản, lý luận về Đảng kiểu mới.
Dựa trên sự phân tích quy luật phát triển không đồng đều của chủ nghĩa tư bản,
Lênin đã khẳng định khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở một số nước, thậm
chí ở một nước riêng lẻ. Luận điểm đó của Lênin có ảnh hưởng to lớn đến phong
trào cách mạng thế giới. Với tinh thần sáng tạo và lý luận biện chứng duy vật, coi
chân lý là cụ thể, khi cần thiết Lênin chấp nhận thay đổi một cách căn bản một quan
niệm nào đó về chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận mọi thứ biểu hiện của chủ nghĩa
giáo điều hay bảo thủ. Chính những điều nêu ra trên đây đã đưa chủ nghĩa Mác nói
chung, triết học Mác nói riêng lên một giai đoạn mới gắn liền với tên tuổi của Lênin
và được gọi là triết học Mác – Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung.
PHẦN II
NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật
a ) Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
*Khái niệm : Mối liên hệ phổ biến được dùng để khái quát sự thống nhất của tính
quy định, tính tương tác, tính biến đổi của các sự vật hiện tượng.
* Tính chất: các mối liên hệ của tất cả sự vật hiện tượng luôn luôn có tính khách
quan, tính phổ biến và biểu hiện trong tính đa dạng của nó.
* Nội dung nguyên lý:
- Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều luôn luôn tồn tại trong các mối liên
hệ xác định (tồn tại trong các mối liên hệ phổ biến) và trong vô vàn các mối liên hệ
khác nhau tức là luôn luôn tồn tại trong tính quy định, tính tương tác, những biến đổi
tác động tới nó. Như vậy mỗi một sự biến đổi trong thế giới đều có khả năng khách
quan tất yếu tác động đến những biến đổi khác một cách trực tiếp, gián tiếp…
- Với mỗi một sự vật, hiện tượng nhất định trong một điều kiện xác định thì
các mối liên hệ mà nó có là không đồng nhất về vị trí và vai trò. Đó là các mối liên
hệ bên trong và bên ngoài.Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định,
chuyển hoá lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật. Mối
liên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật. Mối liên hệ
bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ này nói chung
không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự
vật.Nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đối với sự
tồn tại,sự vận động và sự phát triển của sự vật.
* Ý nghĩa:
+ Từ những nội dung trên có thể thấy: chỉ có thể nhận thức đúng và giải
quyết một cách có hiệu quả các vấn đề thực tiễn một khi thực hiện nguyên tắc toàn
diện và lịch sử cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi:
+ Nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề nào cũng cần phải trên nhiều mặt,
nhiều mối liên hệ khách quan của nó, tránh phiến diện, tránh siêu hình trong giải
quyết các vấn đề.
+ Trong các điều kiện xác định cần đánh giá được vị trí vài trò khác nhau của
các mặt, các mối quan hệ, tránh được việc con người ta bị rơi vào triết trung ngụy
biện.
- Trong nghiên cứu khoa học người ta thường dùng các liên ngành khoa học
để cùng giải quyết một vấn đề.
- Trong giải quyết vấn đề thực tiễn cũng đòi hỏi phải xác định được những
vấn đề ở tầm chiến lược và sách lược hoặc cần xác định được những nhiệm vụ trọng
tâm và trọng điểm
b ) Nguyên lý về sự phát triển
* Khái niệm:
- Phát triển là những quá trình biến đổi với 3 đặc trưng sau:
+ Sự biến đổi về chất ở trình độ mới cao hơn
+ Quá trình biến đổi về mặt cơ cấu tổ chức hệ thống và về cơ chế phương
thức hoạt động của hệ thống
+ Là sự biến đổi diễn ra một cách toàn diện hoá.
- Ví dụ:
+ Từ giống loài bậc thấp lên bậc cao: cá, bò sát, chim, thú, người: thuộc phạm
trù phát triển giống loài.
+ Từ phương thức bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối sang giá trị thặng dư
tương đối thuộc phạm trù phát triển tư bản.
- Phát triển có tính khách quan, có tính chất phổ biến, tính chất đa dạng.
* Nội dung nguyên lý:
- Phát triển là những khuynh hướng khách quan và phổ biến ở trong mọi lĩnh
vực của tự nhiên xã hội, nhận thức, tư duy trong giới tự nhiên đó là quá trình phát
triển từ vật chất đơn giản đến phức tạp hơn, trong nhận thức từ chưa biết chính xác
đến chính xác hơn.
- Tính khách quan và phổ biến ở các quá trình phát triển còn thể hiện ở chỗ:
trong các quá trình biến đổi luôn luôn bao hàm khả năng, cơ hội tạo ra cái mới ở
trình độ cao hơn.
- Mọi con đường của sự phát triển dưới sự tác động của nhiều nhân tố khác
nhau do đó không bao giờ là con đường thẳng, luôn luôn quanh co phức tạp. Trên
con đường phát triển bao hàm nhiều giai đoạn không loại trừ những bước thụt lùi
tạm thời.
- Luận điểm về mô hình phát triển: không có một mô hình phát triển tuyệt đối
cho mọi lĩnh vực. Trái lại tuỳ theo các điều kiện cụ thể mà tồn tại các mô hình phát
triển đa dạng.
- Quy luật phát triển: Mọi quá trình phát triển dù diễn ra với những con
đường và mô hình khác nhau nhưng tất cả đều tuân theo những quy luật chung trong
đó có 3 quy luật cơ bản của mọi quá trình phát triển:
+ Quy luật thay đổi dần về lượng dẫn đến thay đổi nhảy vọt về chất ( quy luật
về phương thức phát triển ).
+ Quy luật vè nguồn gốc và động lực của sự phát triển ( quy luật về thống
nhất và đấu tranh các mặt đối lập )
+ Quy luật về hình thức có tính chu kỳ của sự phát triển ( quy luật phủ định
của phủ định).
* Ý nghĩa:
Trong nghiên cứu khoa học cũng như trong hoạt động tổ chức thực tiễn cần
phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của quan điểm phát triển. Trong đó có những
yêu cầu cơ bản sau:
+ Muốn thực hiện sự phát triển cần phải hướng vào việc tạo sự biến đổi về
chất của sự vật ở trình độ mới.
+ Trọng tâm và mấu chốt của sự phát triển phải là tạo ra những biến đổi về
cấu trúc hệ thống, phương thức hoạt động, cách thức tổ chức nhờ đó tạo ra chất mới.
2. Các cặp phạm trù của phép duy vật biện chứng
a ) Cái riêng và cái chung
* Khái niệm cái riêng và cái chung
- Cái riêng là phạm trù chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất
định
- Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính
không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự
vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác.
* Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
- Cái chung chỉ tồn tại thông qua cái riêng, nhờ có cái riêng cái chung nói lên
sự tồn tại của nó nhưng sự tồn tại của cái chung chỉ được nhận biết bằng kết quả của
quá trình tư duy của quá trình khái quát hoá, còn sự tồn tại của cái riêng có thể nhận
biết một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các giác quan. Ví dụ không có cái
cây nói chung tồn tại bên cạnh cây cam, cây quýt, cây đào cụ thể. Nhưng cây cam,
cây quýt cây đào… nào cũng có rễ, có thân có lá, có quá trình đồng hoá dị hoá để
duy trì sự sống. Những đặc tính chung này lặp lại ở những cái cây riêng lẻ và được
phản ánh trong khái niệm “ cây”. Đó là cái chung của những cái cây cụ thể. Rõ ràng
cái chung tồn tại thực sự nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái
riêng.
- Cái riêng bao giờ cũng liên hệ với cái chung bằng cách này hay cách khác.
Mỗi cái riêng suy cho cùng đều là những dạng tồn tại cụ thể của vật chất vì thế
ngoài những quy luật riêng của nó, nó còn bị chi phối bởi những quy luật chung của
thế giới vật chất nên cái riêng đều có liên hệ với cái chung. Ví dụ nền kinh tế của
mỗi quốc gia, dân tộc với tất cả những đặc điểm phong phú của nó là một cái
riêng.Nhưng nền kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung – cầu, quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đó là
cái chung.Như vậy sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm cái chung.
- Cái chung chỉ là một bộ phận của cái riêng được tách ra khỏi cái riêng vì thế
cái chung bao giờ cũng lệch lạc, phiến diện còn cái riêng là cái phong phú, đầy đủ,
toàn bộ vì trong mỗi cái riêng bên cạnh những đặc điểm chung nó còn có những yếu
tố đơn nhất, cá biệt mà nhờ đó chúng ta mới phân biệt được sự khác nhau giữa
những sự vật hiện tượng. Tuy vậy cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản
ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng
cùng loại. Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất, quy định phương hướng tồn
tại và phát triển của cái riêng.
- Cái chung và cái riêng có thể chuyển hoá cho nhau trong những điều kiện
nhất định. Sự chuyển hoá này được thực hiện thông qua mối quan hệ cái cá biệt và
cái phổ biến. Ví dụ sự thay đổi một đặc tính nào đấy của sinh vật trước sự thay đổi
của môi trường diễn ra bằng cách, ban đầu xuất hiện một đặc tính ở một cá thể riêng
biệt. Do phù hợp với điều kiện mới đặc tính đó được duy trì và bảo tồn ở nhiều thế
hệ và trở thành phổ biến ở nhiều cá thể. Những đặc tính không phù hợp với điều
kiện mới sẽ mất dần đi và trở thành cái đơn nhất.
* Ý nghĩa:
- Cái chung và cái riêng thống nhất với nhau, và khác biệt nhau ở cái đơn
nhất – cái đặc trưng riêng có của sự vật. Chính vì vậy, để nhận thức sâu sắc và thấu
đáo một đối tượng nào đó, không thể chỉ dừng lại ở những thuộc tính chung và áp
dụng một cách máy móc, chủ quan theo những công thức để giải quyết sự việc, trái
lại cần phải nắm vững cả những nét đặc trưng riêng có của từng sự vật, hiện tượng,
để hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người đạt hiệu quả như mong muốn.
- Giữa cái chung và cái đơn nhất có sự chuyển hoá lẫn nhau. Từ đó sự vật
mới dần được ra đời. Nếu yếu tố mới ấy phù hợp với quy luật phát triển khách quan
thì chúng sẽ mở rộng dần phạm vi tồn tại, tức cái đơn nhất trở thành cái phổ
biến.Nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần tạo điều kiện thuận lợi để “ cái
đơn nhất” có lợi cho con người trở thành “cái chung” và “cái chung” bất lợi trở
thành “cái đơn nhất”.
- Vì cái riêng gắn bó với cái chung, không tồn tại ở bên ngoài mối liên hệ dẫn
tới cái chung, cho nên khi giải quyết những vấn đề riêng một cách đúng đắn thì
không thể lảng tránh việc giải quyết những vấn đề chung, tức những vấn đề lý luận,
nguyên tắc liên quan đến các vấn đề riêng đó, nếu không sẽ sa vào tình trạng mò
mẫm, tuỳ tiện, vô nguyên tắc.
b ) Nguyên nhân và kết quả
* Khái niệm nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một
sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau gây ra một biến đổi nhất định nào đó
- Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa
các mặt trong một sự vật hoặc giữa sự vật với nhau gây ra.
- Ví dụ cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là nguyên nhân
dẫn đến kết quả là cuộc cách mạng vô sản nổ ra.
* Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân và kết quả luôn gắn bó chặt chẽ với nhau trong đó nguyên
nhân luôn có trước kết quả, còn kết quả chỉ xuất hiện khi có sự tác động của nguyên
nhân. Vì thế nguyên nhân và kết quả có quan hệ sản sinh. Tuy nhiên không phải sự
vật, hiện tượng nào tồn tại trong mối quan hệ trước sau về mặt thời gian cũng là mối
quan hệ nhân quả. Do đó, cần phân biệt sự khác nhau của quan hệ nhân quả với
vòng tuần hoàn. Liên hệ nhân quả có quan hệ sản sinh còn vòng tuần hoàn chỉ là sự
lặp lại cái cũ sau một khoảng thời gian vận động biến đổi nào đấy.
- Cần phân biệt sự khác nhau giữa nguyên nhân với nguyên cớ. Nguyên nhân
có trước kết quả sản sinh ra kết quả. Nguyên cớ có trước kết quả nhưng không sản
sinh ra kết quả nên nguyên cớ không thuộc phạm trù nhân quả và thông thường
nguyên cớ là cái che lấp nguyên nhân
- Một nguyên nhân có thể sản sinh ra nhiều kết quả và nhiều nguyên nhân có
thể chỉ sản sinh ra một kết quả. Đây là tính phức tạp của quan hệ nhân quả. Nếu
nhiều nguyên nhân tác động theo cùng một chiều sẽ đẩy nhanh quá trình sản sinh ra
kết quả, nâng cao chất lượng cho kết quả. Nếu nhiều nguyên nhân nhưng tác động
ngược chiều nhau sẽ hạn chế quá trình sản sinh ra kết quả. Ví dụ trong nền kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta hiện nay, các thành phần kinh tế vừa tác động hỗ trợ
nhau, vừa mâu thuẫn, thậm chí còn cản trở nhau phát triển. Muốn phát huy được tác
dụng của các thành phần kinh tế để phát triển sản xuất thì phải tạo điều kiện cho các
thành phần kinh tế đều có điều kiện phát triển, trong đó thành phần kinh tế nhà nước
phải giữ vai trò chủ đạo. Nếu không như vậy nền kinh tế sẽ hỗn loạn và năng lực sản
xuất của các thành phần kinh tế có thể triệt tiêu lẫn nhau.
- Sau khi hình thành kết quả có tác động ngược trở lại nguyên nhân làm biến
đổi nếu như nguyên nhân đó vẫn tồn tại. Ví dụ trình độ dân trí thấp do kinh tế kém
phát triển, ít đầu tư cho giáo dục. Nhưng dân trí thấp lại là nhân tố cản trở việc áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, vì vậy kìm hãm sản xuất phát triển.
- Nguyên nhân và kết quả có thể chuyển hoá lẫn cho nhau. Cùng một sự vật
một hiện tượng khi đặt trong quan hệ này là nguyên nhân nhưng khi đặt trong quan
hệ khác lại là kết quả và ngược lại.
* Ý nghĩa
- Mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ cơ bản và quan trọng, thường gắn liền
với đặc trưng bản chất của sự vật, hiện tượng. Vì vậy một trong những nhiệm vụ
hàng đầu của các khoa học là vạch ra những mối liên hệ nhân quả của chúng.
- Mối liên hệ nhân quả thể hiện trong thực tế rất phức tạp và đa dạng, cùng
một sự biến đổi xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau và vai trò của các
nguyên nhân là khác nhau. Vì vậy muốn giải quyết một vấn đề nào đó, trước hết và
sau cùng phải xét từ nguyên nhân cơ bản để có biện pháp giải quyết đúng đắn, thích
hợp.
- Muốn tác động vào sự vật phải tác động vào nguyên nhân của chúng theo
những hình thức phù hợp, đồng thời biết khai thác vận dụng kết quả đã đạt được để
nâng cao nhận thức, tiếp tục thúc đẩy sự phát triển của sự vật.
- Một hiện tượng trong mối liên hệ này là kết quả trong mối quan hệ khác là
nguyên nhân. Để hiểu rõ tác dụng của hiện tượng ấy, cần phải xem xét nó trong
quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong quan hệ mà nó là kết quả.
Cho nên, trong nhận thức cũng như hành động cần phải xem xét hiện tượng một
cách toàn diện và tích cực, chống lại những quan niệm siêu hình chật hẹp, phiến
diện và áp đặt về mối quan hệ nhân quả.
- Cần phải phân biệt rõ nguyên nhân và nguyên cớ để tác động vào đúng
nguyên nhân.
c ) Tất nhiên và ngẫu nhiên
* Khái niệm tất nhiên và ngẫu nhiên
- Tất nhiên là phạm trù chỉ cái do những nguyên nhân cơ bản bên trong của
kết cấu vật chất quyết định và trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra như
thế chứ không thể khác được
- Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ cái không do mối liên hệ bản chất, bên trong kết
cấu vật chất, bên trong sự vật quyết định mà do các nhân tố bên ngoài, do sự kết hợp
nhiều hoàn cảnh bên ngoài quyết định. Do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất
hiện, có thể xuất hiện như thế này hoặc có thể xuất hiện như thế khác.
- Ví dụ: gieo một con xúc xắc sẽ có một trong sáu mặt úp, một trong sáu mặt
ngửa là tất nhiên, nhưng mặt nào úp mặt nào ngửa mỗi lần tung lại không phải là tất
nhiên mà là ngẫu nhiên
* Quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên
- Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con
người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát triển của sự vật. Nếu tất nhiên có tác
dụng chi phối sự phát triển của sự vật thì cái ngẫu nhiên có tác dụng làm cho sự phát
triển của sự vật diễn ra nhanh hoặc chậm
- Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại nhưng chúng không tồn tại biệt lập dưới
dạng thuần tuý cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần tuý. Cái tất nhiên bao giờ
cũng thể hiện sự tồn tại của mình thông qua vô số cái ngẫu nhiên. Còn cái ngẫu
nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung cho cái tất
nhiên. Anghen nhận xét: sự xuất hiện các nhân vật lịch sử là tất nhiên do nhu cầu xã
hội phải giải quyết những nhiệm vụ chín muồi của lịch sử tạo nên. Nhưng nhân vật
đó là ai lại không phải là cái tất nhiên vì cái đó không phụ thuộc trực tiếp vào tiến
trình chung của lịch sử. Nếu gạt bỏ nhân vật này thì sẽ có nhân vật khác xuất hiện,