Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

  • 152 trang
  • file .doc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
-----  -----
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA VIỆT
NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Giáo viên hướng dẫn : GS.TS ĐẶNG ĐÌNH ĐÀO
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ HỒNG LIÊN
Lớp : QTKD THƯƠNG MẠI 47 A
Khóa : 47
Hệ : CHÍNH QUY
Hà Nội: 05- 2009
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-----***----
BẢN CAM ĐOAN
Kính gửi: Trường Đại học Kinh tế quốc dân;
Khoa Thương mại & Kinh tế quốc tế
Tên em là:Nguyễn Thị Hồng Liên
Lớp: Thương mại 47 A
Khoa: Thương mại và Kinh tế quốc tế
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp (05/01/2009 đến 07/05/2009) tại Vụ
Xuất nhập khẩu - Bộ Công thương em đã nghiên cứu và thực hiện chuyên đề:
“Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế”
Em xin cam đoan những nội dung được trình bày trong chuyên đề thực tập
tốt nghiệp của em là hoàn toàn không có sự sao chép từ tài liệu chuyên môn,
luận văn, luận án khác mà chỉ có một số trích dẫn, tham khảo để hoàn thiện
cho chuyên đề.
Em xin chịu mọi trách nhiệm nếu như những cam kết trên đây là không
đúng sự thật.
Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2009
Người cam kết
Nguyễn Thị Hồng Liên
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam theo hướng mở cửa, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lại những thành tựu quan trọng, tạo ra thế và
lực mới cho nước ta để tiếp tục hội nhập sâu sắc hơn vào nền kinh tế khu vực
và thế giới. Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng “ Xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và
nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực và ngoại lực thành nguồn
lực tổng thể để phát triển đất nước” .Theo chủ trương đó, nền kinh tế nước ta
trong những năm qua đã mở cửa hội nhập với thế giới, đặc biệt là trong lĩnh
vực thương mại quốc tế và xuất nhập khẩu hàng hóa. Sự kiện Việt Nam trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO là một mốc
quan trọng đánh dấu Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu rộng trên trường
quốc tế. Vươn ra thị trường quốc tế, cơ hội lắm nhưng khó khăn cũng không ít.
Nền kinh tế Việt Nam, trong gần hai thập kỷ qua, đã phát triển nhanh
dựa vào xuất khẩu. Từ một nền kinh tế dường như khép kín, "tự sản, tự tiêu",
sau 20 năm đổi mới, kim ngạch xuất khẩu đã bằng 70% GDP. Đó là một
thành tựu quan trọng trong việc thực hiện chính sách mở cửa, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, trong đó có thị
trường xuất khẩu cho phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, Việt Nam đang
trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới, vì vậy các biến động tài chính
của thế giới ít nhiều sẽ tác động đến kinh tế Việt Nam. Gần đây nhất là cuộc
khủng hoảng tài chính Mỹ, tuy Việt Nam không bị tác động trực tiếp, song do
nền kinh tế Mỹ là nền kinh tế lớn, chiếm tới 30% tổng sản lượng, chu chuyển
vốn thị trường thế giới và trong bối cảnh hội nhập thì mọi quốc gia ít nhiều
đều bị ảnh hưởng, đặc biệt là nền kinh tế tăng trưởng quá nóng như Việt Nam.
Việt Nam là nền kinh tế rất mở với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt hơn
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
160% GDP. Xuất khẩu chiếm tới 70-80 % GDP. Khủng hoảng tài chính Mỹ,
chính sách thắt chặt tiền tệ, biến động tỷ giá trở thành gánh nặng ảnh hưởng
tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam. Xuất khẩu của Việt Nam không tránh
khỏi bị giảm sút do sự eo hẹp của thị trường tài chính (do khủng hoảng) dẫn
đến eo hẹp thị trường nhập khẩu hàng hóa, nhu cầu về hàng xuất khẩu của
Việt Nam giảm. Do đó vấn đề phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa đang
là một yêu cầu có tính cấp bách đối với các doanh nghiệp. Vì vậy em chọn đề
tài : “ Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” nhằm đưa ra những giải pháp phát triển thị
trường xuất khẩu trong tình hình hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: - Thời gian : giai đoạn 2001-2008
- Đối tượng : Thị trường xuất khẩu hàng hóa chủ lực
của Việt Nam
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường xuất khẩu hàng
hóa trong nền kinh tế thị trường.
Chương II: Phân tích thực trạng thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt
Nam trong thời gian qua.
Chương III: Giải pháp phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt
Nam những năm tới.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các cán bộ tại Vụ Xuất Nhập
khẩu- Bộ Công thương và sự hướng dẫn nhiệt tình của GS.TS Đặng Đình Đào
đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 4 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
1. Tổng quan về thị trường và thị trường xuất khẩu hàng hóa trong nền
kinh tế thị trường
1.1. Kinh tế thị trường và những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường
1.1.1. Khái niệm kinh tế thị trường
Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ mua bán. Nền kinh tế được coi là
một hệ thống các mối quan hệ kinh tế. Khi các mối quan hệ kinh tế giữa các
chủ thể đều biểu hiện qua mua - bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường thì nền
kinh tế đó là nền kinh tế thị trường. Nói cách khác kinh tế thị trường là cách
thức tổ chức nền kinh tế - xã hội, trong đó các mối quan hệ kinh tế của cá
nhân, các doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường và thái độ cư xử của mọi thành viên, chủ thể kinh tế là hướng vào tìm
kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất cả
các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hóa.
Khi đó các yếu tố như: đất đai, tài nguyên, vốn bằng tiền, vốn vật chất, sức
lao động, công nghệ, các sản phẩm và dịch vụ tạo ra đều là đối tượng mua
bán, là hàng hóa.
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường
Một là, kinh tế thị trường có khối lượng hàng hóa dịch vụ dồi dào, phong
phú. Cho nên, người tiêu thụ được quyền tự do lựa chọn tối đa, họ không bị
ép buộc mua bất cứ hàng hóa dịch vụ nào ngoại trừ những thứ phải cung ứng
cho lợi ích xã hội. Họ quyết định ai sản xuất, sản xuất cái gì thông qua lá phiếu đồng
tiền .
Hai là, trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động mua bán đều theo giá
cả thị trường. Sự vận động của giá cả thị trường là do cung cầu hàng hóa quyết
định.
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
Ba là, tiền tệ hóa các mối quan hệ kinh tế. Điều này thể hiện các doanh
nghiệp lấy chỉ tiêu hiệu quả để lựa chọn đối tác, lựa chọn bạn hàng.
Bốn là, trong nền kinh tế thị trường, sản xuất và bán hàng hóa theo nhu
cầu thị trường. Do đó, nghiên cứu thị trường là công việc quan trọng đầu tiên
và thường xuyên trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, có như
vậy hàng hóa mới bắt nhịp được nhu cầu của con người cũng ngày càng đa
dạng, phong phú và luôn biến đổi.
Năm là kinh tế thị trường là nền kinh tế mở. Nền kinh tế mở là một nền
kinh tế có giao dịch với các nền kinh tế khác. Nền kinh tế này trái với một nền
kinh tế đóng cửa trong đó không có xuất khẩu, không có nhập khẩu, không có
các dòng di chuyển vốn.Trong nền kinh tế thị trường có các hoạt động mua,
bán hàng hóa và dịch vụ trên thị trường sản phẩm thế giới; mua và bán các tài
sản vốn trên thị trường tài chính thế giới.
Sáu là cạnh tranh là môi trường kinh tế thị trường. Cạnh tranh được xác
định là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường với nguyên tắc ai hoàn
thiện hơn, thỏa mãn nhu cầu tốt hơn và hiệu quả hơn người đó sẽ chiến thắng,
sẽ tồn tại và phát triển. Duy trì cạnh tranh bình đẳng và đúng luật là nhiệm vụ
của Chính phủ. Các doanh nghiệp phải xác định cho mình một chiến lược
cạnh tranh, trong đó phản ánh được các yếu tố ảnh hưởng của môi trường
cạnh tranh bao quanh doanh nghiệp.
Bảy là, trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp có quyền tự do, tự chủ
cao. Họ có quyền tự do lựa chọn loại hình kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác,
được phép kinh doanh bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào pháp luật không cấm.
Điều này phát huy tính sáng tạo, cũng như tinh thần dám nghĩ dám làm, tự
chịu trách nhiệm của người kinh doanh.
1.2. Khái quát chung về thị trường
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 6 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
1.2.1. Khái niệm thị trường
Xét trên góc độ phân tích của nhà kinh tế:
Thị trường là tổng hòa các mối quan hệ mua bán.
Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu.
Thị trường là nơi trao đổi hàng hóa.
Xét trên góc độ kinh doanh của doanh nghiệp:
Thị trường của doanh nghiệp gồm: thị trường đầu vào và thị trường đầu ra.
Sơ đồ 1: Mối liên hệ Doanh nghiệp – Thị trường của doanh nghiệp
Thị trường đầu vào Doanh nghiệp Thị trường đầu ra
Ở phạm vi doanh nghiệp thương mại (DNTM), thị trường được mô tả là
các nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu tương tự và những người
bán đưa ra các sản phẩm khác nhau với các cách thức khác nhau để thỏa mãn nhu cầu
đó.
Như vậy theo, quan niệm của người bán, thị trường của DNTM trước hết
là những khách hàng có tiềm năng tiêu thụ, có nhu cầu cụ thể về hàng hóa,
dịch vụ trong một thời gian nhất định và chưa được thỏa mãn chứ không thể
quan niệm thị trường đơn thuần là một khu vực hay một phạm vi địa lý nào
đó.
Thứ hai, yếu tố quan trọng và làm đối trọng với cầu trên thị trường là
cung về hàng hóa, dịch vụ do các cá nhân, doanh nghiệp là người bán tạo nên,
chính sự tác động qua lại với nhau giữa cung và cầu về hàng hóa tạo nên quy
luật cung cầu chi phối hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường.
Thứ ba, thành phần không thể thiếu được tham gia thị trường của DNTM
là các hàng hóa, sản phẩm cụ thể, đối tượng để mua bán trao đổi.
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
Một khi trên thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán và nhiều
loại hàng hóa tương tự nhau về chất lượng, giá cả, tất yếu nảy sinh sự cạnh
tranh. Cạnh tranh là bộ máy điều chỉnh trật tự thị trường, là yếu tố quan trọng
kích thích tính tích cực, tính đa dạng và nâng cao chất lượng hàng hóa cho
phù hợp với nhu cầu thị trường. Có thể hình dung thị trường của DNTM qua
sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Thành phần tham gia và yếu tố cấu thành thị trường của DNTM
Thành phần tham gia Các yếu tố cấu thành thị
thị trường của DNTM trường của DNTM
Hiện tại
Người mua
(Khách hàng
Cầu hàng hóa
Tiềm năng
Doanh nghiệp
Người bán Cung hàng hóa
Đối thủ cạnh tranh
Hiện có
Sản phẩm
(hàng hóa) Giá cả
Mới
+ Chất lượng
+ Phương thức thanh toán Cạnh tranh
+ Dịch vụ…
1.2.2. Các yếu tố cấu thành thị trường
1.2.2.1. Cầu
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 8 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
Cầu là lượng một mặt hàng mà người mua muốn mua ở một mức giá
chấp nhận được. Cầu thay đổi theo sự phụ thuộc của các yếu tố tác động đến
nó. Nếu giả sử các yếu tố khác không thay đổi, lượng cầu phụ thuộc vào giá
cả của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Lượng cầu tăng khi giá giảm, và
lượng cầu giảm khi giá cả tăng khi các yếu tố khác không đổi. Các yếu tố
khác đó là: sở thích, thu nhập, giá mặt hàng thay thế, phong tục, tập quán, thói
quen, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi…Doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị
trường, cái cần xác định không phải là cầu nói chung mà chính là cầu hướng
vào doanh nghiệp, nghĩa là xác định khối lượng cầu cụ thể về hàng hóa của
doanh nghiệp ứng với mỗi mức giá xác định.
1.2.2.2. Cung
Cung là lượng một mặt hàng mà người bán muốn bán ở mỗi mức giá
chấp nhận được. Cung thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Lượng cung
sẽ tăng lên khi giá cả hàng hóa/dịch vụ tăng lên và lượng cung sẽ giảm xuống
khi giá cả của hàng hóa/dịch vụ giảm xuống, nếu các yếu tố khác không thay
đổi. Các yếu tố khác đó là: sự phát triển của khoa học công nghệ mới, các chi
phí của các yếu tố đầu vào, sự điều tiết của chính phủ. Giống như đại lượng
cầu, doanh nghiệp không phải xác định tổng đại lượng cung của toàn xã hội
mà xác định số lượng hàng hóa/dịch vụ doanh nghiệp có khả năng đưa ra thị
trường ứng với mức giá nhất định.
1.2.2.3. Giá cả
Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Sự tương tác
giữa người mua với người mua, người bán với người bán, và người bán với
người mua hình thành giá cả thị trường. Giá cả thị trường là một đại lượng
biến động do sự tương tác của cung và cầu trên thị trường của một loại hàng
hóa/dịch vụ, ở địa điểm và thời điểm cụ thể.
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
1.2.2.4. Sự cạnh tranh
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
nhằm giành giật các nguồn lực hay thị trường tiêu thụ nhằm thu lợi nhuận.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh diễn ra liên tục, không có đích cuối
cùng. Cạnh tranh sẽ bình quân hóa các giá trị cá biệt để hình thành giá cả thị
trường. Vì vậy, cạnh tranh là động lực để thúc đẩy các DNTM không ngừng
cải tiến hoạt động kinh doanh để tồn tại và phát triển.
Trong hoạt động kinh doanh, khi nghiên cứu thị trường phải nghiên cứu
đầy đủ, toàn diện tất cả các yếu tố cấu thành nên thị trường của doanh nghiệp.
1.2.3. Các quy luật và chức năng của thị trường
1.2.3.1. Các quy luật của thị trường
Xét cả một quá trình và xét trên tổng thể, thị trường vận động không phải
là hỗn loạn, ngẫu nhiên mà vận động có quy luật. Những quy luật chung của
thị trường là:
a. Quy luật giá trị
Đây là quy luật kinh tế của kinh tế hàng hóa. Khi nào còn sản xuất và lưu
thông hàng hóa thì quy luật giá trị còn phát huy tác dụng. Quy luật giá trị yêu
cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị lao động xã hội
cần thiết trung bình để sản xuất và lưu thông hàng hóa và trao đổi ngang giá.
Việc tính toán chi phí sản xuất và lưu thông bằng giá trị là cần thiết bởi đòi
hỏi cảu thị trường, của xã hội là với nguồn lực có hạn, phải sản xuất được
nhiều của cải vật chất cho xã hội nhất, hay chi phí cho một đơn vị sản phẩm là
ít nhất với điều kiện chất lượng sản phẩm cao. Người sản xuất hoặc kinh
doanh nào có chi phí lao động xã hội cho một đơn vị sản phẩm thấp hơn trung
bình thì người đó có lợi, ngược lại người nào có chi phí cao hơn thì khi trao
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
đổi sẽ không thu được giá trị đã bỏ ra, không có lợi nhuận và phải thu hẹp sản
xuất hoặc kinh doanh. Đây là yêu cầu khắt khe buộc người sản xuất, kinh
doanh phải tiết kiệm chi phí, phải không ngừng cải tiến kỹ thuật công nghệ,
đổi mới sản phẩm, đổi mới kinh doanh – dịch vụ để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu
của khách hàng, để bán được nhiều hàng hóa và dịch vụ.
b. Quy luật cung cầu.
Cung cầu hàng hóa, dịch vụ không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà thường
xuyên tác động qua lại với nhau trên cùng một thời gian cụ thể. Trên thị
trường quan hệ cung cầu là quan hệ bản chất, thường xuyên lặp đi lặp lại, khi
tăng, khi giảm tạo thành quy luật trên thị trường. Khi cung cầu gặp nhau, giá
cả thị trường được xác lập. Đó là giá cả bình quân. Tuy nhiên mức giá này
không đứng yên, nó luôn luôn giao động trước sự tác động của lực cung, lực
cầu trên thị trường. Khi cung lớn hơn cầu, giá sẽ hạ xuống, ngược lại khi cầu
lớn hơn cung giá lại tăng lên. Sự thay đổi trên là do hàng loạt các nguyên
nhân trực tiếp và gián tiếp tác động đến cung, cầu, cũng như kỳ vọng của sản
xuất, người kinh doanh và của khách hàng.
c. Quy luật cạnh tranh
Trong nền kinh tế có nhiều thành phần kinh tế, có nhiều người mua,
người bán với lợi ích kinh tế khác nhau thì việc cạnh tranh giữa người mua
với người mua, người bán với người bán và cạnh tranh giữa người mua với
người bán tạo nên sự vận động của thị trường và trật tự của thị trường. Nhà
kinh doanh không thể lẩn tránh cạnh tranh mà phải chấp nhận cạnh tranh, đón
trước cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng vũ khí cạnh tranh hữu hiệu.
1.2.3.2. Các chức năng của thị trường
a. Chức năng thừa nhận
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
Hàng hóa có bán được hay không phải thông qua chức năng thừa
nhận của thị trường, của khách hàng của doanh nghiệp. Nếu hàng hóa bán
được, tức là được thị trường thừa nhận. Để được thị trường thừa nhận,
doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phải nghiên cứu nhu cầu khách hàng.
Hàng hóa phải phù hợp với nhu cầu của khách hàng về chất lượng, số
lượng, sự đồng bộ quy cách, cỡ loại, bao bì, giá cả, thời gian và địa điểm
thuận tiện cho khách hàng.
b. Chức năng thực hiện
Chức năng này đỏi hỏi hàng hóa và dịch vụ phải được thực hiện giá trị
trao đổi, hoặc bằng tiền, bằng hàng, bằng các chứng từ có giá khác. Hàng hóa
bán được tức là có sự dịch chuyển hàng hóa từ người bán sang người mua.
Chức năng thực hiện giá trị và chức năng thừa nhận của thị trường có
mối quan hệ mật thiết với nhau. Chức năng thừa nhận phải thông qua thực
hiện để thể hiện trong đời sống thực tế, chức năng thực hiện chỉ diễn ra trên
cơ sở chức năng thực hiện đã trở thành hiện thực.
c. Chức năng điều tiết và kích thích
Qua hành vi trao đổi hàng hóa/dịch vụ trên thị trường, thị trường sẽ
điều tiết và kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển hoặc ngược lại.
Hàng hóa và dịch vụ bán hết nhan sẽ kích thích người bán đẩy mạnh hoạt
động sản xuất, tạo nguồn hàng, thu mua hàng hóa để cung cấp ngày càng
nhiều hơn hàng hóa và dịch vụ cho thị trường. Ngược lại, nếu hàng hóa và
dịch vụ không bán được, doanh nghiệp sẽ hạn chế sản xuất, mua hàng,
phải tìm khách hàng mới, thị trường mới hoặc chuyển hướng kinh doanh
mặt hàng khác. Chức năng điều tiết kích thích này luôn điều tiết sự gia
nhập ngành hoặc rút ra khỏi ngành của một số doanh nghiệp. Nó khuyến
khích các nhà kinh doanh giỏi và điều chỉnh theo hướng đầu tư vào lĩnh
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
vực kinh doanh có lợi, các mặt hàng mới, chất lượng cao, có khả năng bán
được khối lượng lớn.
d. Chức năng thông tin
Thông tin thị trường là những thông tin về nguồn cung ứng hàng hóa
dịch vụ, nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, đối thủ cạnh tranh…Đó là những thông
tin kinh tế quan trọng đối với mọi nhà sản xuất kinh doanh, cả người mua và
người bán, người quản lý, người tiêu dùng, nhà nghiên cứu. Không có thông
tin thị trường không thể có quyết định đúng đắn trong sản xuất, kinh doanh và
quản lý. Việc nghiên cứu thị trường và tìm kiếm thông tin có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng đối với việc ra các qyết định đúng đắn trong kinh doanh. Nó có thể
đưa đến thành công, cũng có thể đưa đến thất bại bởi sự xác thực của các
thông tin được sử dụng.
1.2.4. Vai trò của thị trường
1.2.4.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường có vị trí trung tâm. Thị trường
vừa là mục tiêu của người sản xuất kinh doanh vừa là môi trường của hoạt
động sản xuất và kinh doanh hàng hóa. Thị trường cũng là nơi chuyển tải các
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trên thị trường, người mua, người bán, người
trung gian gặp nhau trao đổi hàng hóa dịch vụ.
Quá trình sản xuất xã hội gồm bốn khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi,
tiêu dùng, thì thị trường là khâu trao đổi (lưu thông). Đó là khâu trung gian
cần thiết, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Vì vậy nó có tác động nhiều
mặt đến sản xuất, đến tiêu dùng xã hội.
Vai trò của thị trường đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở năm điểm sau:
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 13 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
Một là, bảo đảm điều kiện cho sản xuất phát triển liên tục với quy mô
ngày càng mở rộng và bảo đảm hàng hóa cho người tiêu dùng phù hợp với thị
hiếu, nhu cầu một cách đầy đủ, kịp thời, thuận lợi và dịch vụ văn minh.
Hai là, nó thúc đẩy nhu cầu, gợi mở nhu cầu, đưa đến cho người tiêu dùng
sản xuất và tiêu dùng cá nhân những sản phẩm mới. Nó kích thích sản xuất ra
sản phẩm chất lượng cao và gợi mở nhu cầu hướng tới các hàng hóa chất
lượng cao, văn minh và hiện đại.
Ba là, dự trữ các hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội, giảm
bớt dự trữ ở các khâu tiêu dùng, bảo đảm việc điều hòa cung cầu.
Bốn là, phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ tiêu dùng sản xuất và
tiêu dùng cá nhân ngày càng phong phú, đa dạng, văn minh.
Năm là, thị trường hàng hóa dịch vụ ổn định có tác dụng to lớn để ổn
định sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân.
1.2.4.2. Đối với doanh nghiệp thương mại
Thị trường vừa là trung tâm của các hoạt động kinh doanh, vừa là mục
tiêu, vừa là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp. Tất cả các hoạt động của
doanh nghiệp đều hướng vào thị trường. Bắt đầu từ tổ chức bộ máy, đầu tư cơ
sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ đến
các hoạt động Marketing đều nhằm mục đích đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị
trường.
Thị trường hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Căn cứ
vào kết quả điều tra, thu thập thông tin thị trường để quyết định kinh doanh
mặt hàng gì? Cho ai? Bằng phương thức kinh doanh nào?
Doanh nghiệp chỉ tồn tại khi sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp được
thị trường thừa nhận, được thực hiện về giá trị, khi đó thị trường sẽ giúp
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
doanh nghiệp thu hồi vốn bỏ ra, bù đắp chi phí và có lãi để tái mở rộng kinh
doanh.
Thị trường là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa khách hàng với
doanh nghiệp, là nơi quan trọng để đánh giá, kiểm nghiệm các chủ trương,
chính sách của nhà kinh doanh. Thông qua doanh thu bán hàng, tốc độ phát
triển thị trường, phản ứng của khách hàng… doanh nghiệp sẽ có quyết sách
phù hợp.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là tất yếu, thị trường được chia sẻ
cho nhiều doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào giữ vững và phát triển được thị
trường, doanh nghiệp đó sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại sẽ dẫn đến đình trệ,
phá sản. Bởi vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng tìm kiếm cơ hội
mở rộng và phát triển thị trường.
1.2.5. Phân loại thị trường của doanh nghiệp
Phân loại thị trường là phân chia thị trường theo các tiêu thức khác nhâu
để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển thị trường. Có nhiều tiêu
thức khác nhau để phân loại thị trường của doanh nghiệp, thông thường căn
cứ vào các tiêu thức sau:
1.2.5.1. Căn cứ vào đối tượng mua bán trên thị trường
Căn cứ vào đối tượng mua bán trên thị trường, có bốn loại thị trường:
Thị trường hàng hóa: bao gồm hàng tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng.
Hàng tư liệu sản xuất là những sản phẩm dùng để sản xuất, là yếu tố đầu
vào của quá trình sản xuất tiếp theo. Hàng tư liệu sản xuất bao gồm nhiều loại
khác nhau như thiết bị, máy móc, nguyên nhiên vật liệu, các loại hóa chất, các
loại phụ tùng…
Hàng tư liệu tiêu dùng là hàng phục vụ cho tiêu dùng cá nhân như lương
thực, thuốc chữa bệnh, quần áo.
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 15 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
Thị trường dịch vụ: là thị trường mà đối tượng mua bán của nó là các
dịch vụ. Dịch vụ là những hoạt động có ích của con người tạo ra những “sản
phẩm” dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc
chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn
minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người. Các đặc điểm
của “sản phẩm dịch vụ” đó là: không thể xác định cụ thể bằng các tiêu chuẩn
hoặc các chỉ tiêu chất lượng một cách rõ ràng, “sản phẩm dịch vụ” không thể
dự trữ, chất lượng phụ thuộc vào sự tương tác qua lại giữa người làm dịch vụ
và người được phục vụ, hoạt động dịch vụ đỏi hỏi phải được đáp ứng ở đúng
địa điểm và thời điểm cần thiết.
Thị trường sức lao động: Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì:
“Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được
mua và bán thông qua quá trình để xác định mức độ có việc làm của lao
động, cũng như mức độ tiền công”. Khái niệm này nhấn mạnh đến các
dịch vụ lao động được xác định thông qua việc làm được trả công. Nói
một cách chi tiết hơn, thị trường lao động là tập hợp những quan hệ kinh
tế, pháp lý, xuất hiện giữa người sở hữu sức lao động (người lao động) và
người sử dụng nó (người thuê lao động) về vấn đề chỗ làm việc cụ thể,
nơi và hàng hóa và dịch vụ sẽ được làm ra. Quá trình sử dụng sức lao
động, lao động sẽ được hình thành trong sản xuất chứ không phải trên thị
trường. Đối với người nắm giữ sức lao động sẽ được tạo ra cơ hội để nhận
chỗ làm việc, nơi mà anh ta có thể làm việc, thể hiện khả năng, và nhận
thụ nhập để tái sản xuất sức lao động của mình. Đối với người thuê lao
động sẽ có cơ hội tăng lợi nhuận kinh tế. Trên thị trường sẽ hình thành
những quan hệ việc làm. Vì vậy, nó xác định nội dung đích thực của thị
trường lao động như thị trường việc làm.
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 16 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
Thị trường tiền tệ: là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạt động
của cung và cầu về vốn ngắn hạn. Vốn ngắn hạn bao gồm cả trái phiếu ngắn
hạn, có kỳ hạn tức là mua bán những món nợ ngắn hạn rủi ro thấp, tính thanh
khoản cao. Thị trường tiền tệ diễn ra chủ yếu thông qua hoạt động của hệ
thống ngân hàng, vì các ngân hàng là chủ thể quan trọng nhất trong việc cung
cấp và sử dụng vốn ngắn hạn.
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 17 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
1.2.5.2. Căn cứ vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp
Căn cứ vào mục đích hoạt động của doanh nghiệp, thị trường bao gồm
thị trường đầu vào và thị trường đầu ra.Thị trường đầu vào có đối tượng mua
bán là các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh như: tư liệu sản
xuất, sức lao động, tiền vốn, công nghệ…Thị trường đầu ra: thị trường của
các yếu tố đầu ra như hàng hóa, dịch vụ.
1.2.5.3. Theo phạm vi hoạt động của doanh nghiệp
Theo phạm vi hoạt động của doanh nghiệp, thị trường bao gồm thị
trường địa phương, thị trường toàn quốc, thị trường khu vực, thị trường quốc
tế. Đối với thị trường địa phương, mỗi địa phương đều có phong tục tập quán
khác nhau, nếu muốn hoạt động tại đây, doanh nghiệp phải tìm hiểu điều này.
Thị trường toàn quốc là thị trường toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thị trường
khu vực là thị trường bên ngoài quốc gia, bao gồm một khu vực nhất định như
thị trường khu vực Bắc Mỹ, Nam Mỹ, thị trường ASEAN, EU…Thị trường
quốc tế là thị trường bao gồm nhiều quốc gia, nhiều khu vực khác nhau. Để
hoạt động trên thị trường này, doanh nghiệp phải hiểu biết tập quán tiêu dùng,
luật pháp và thông lệ quốc tế.
1.2.5.4. Căn cứ vào tính chất sản phẩm khác nhau trên thị trường
Căn cứ vào tính chất sản phẩm khác nhau trên thị trường, thị trường bao
gồm thị trường của các sản phẩm thay thế và thị trường của các sản phẩm bổ
sung. Thị trường của các sản phẩm thay thế là thị trường của những sản
phẩm có giá trị sử dụng tương tự nhau, có thể thay thế nhau. Kinh doanh trên
thị trường này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm được thời gian thay thế, tốc độ
thay thế, giá cả của hàng hóa thay thế để làm chủ mọi diễn biến của thị
trường.Thị trường của các sản phẩm bổ sung là thị trường của những sản
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
phẩm liên quan tới nhau trong tiêu dùng. Kinh doanh trên thị trường này phải
quan tâm đến biến động về giá cả của các sản phẩm có liên quan để điều
chỉnh kịp thời.
1.3. Thị trường xuất khẩu hàng hóa
1.3.1. Các khái niệm
1.3.1.1. Khái niệm hàng hóa xuất khẩu
Theo quy ước của Liên hợp quốc và WTO thì hàng hóa xuất khẩu là
những sản phẩm hàng hóa hữu hình được sản xuất hoặc gia công tại các cơ sở
sản xuất, gia công và các khu chế xuất với mục đích để tiêu thụ tại thị trường
nước ngoài ( xuất khẩu), đi qua hải quan. Hàng tạm nhập tái xuất cũng được
coi là hàng hóa xuất khẩu. Hàng hóa quá cảnh không thuộc diện của khái
niệm hàng hóa xuất khẩu.
Hàng hóa xuất khẩu là hàng hóa khác biệt so với hàng hóa tiêu dùng ở
trong nước. Những hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng
ở nước nhập khẩu. Chất lượng của hàng hóa phải đáp ứng được các thông số
về tiêu dùng, kỹ thuật, môi trường và đạt được tính cạnh tranh cao ở nước
người nhập khẩu. Ví dụ: sản xuất hàng thủy sản xuất khẩu vào khối EU hay
Mỹ phải đạt các tiêu chuẩn trong hệ thống HACCP (Hazard Analysis and
Critical Control Points - Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn - là
một tiêu chuẩn quốc tế xác định các yêu cầu của một hệ thống quản lý thực
phẩm an toàn).
1.3.1.2. Khái niệm thị trường xuất khẩu hàng hóa
Thị trường xuất khẩu là tập hợp người mua và người bán có quốc tịch
khác nhau tác động với nhau để xác định giá cả, số lượng hàng hóa mua bán,
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 19 GVHD: GS. TS Đặng Đình Đào
chất lượng hàng hóa và các điều kiện mua bán khác theo hợp đồng, thanh toán
chủ yếu bằng ngoại tệ mạnh và phải làm thủ tục hải qua qua biên giới.
Thị trường xuất khẩu hàng hóa bao gồm cả thị trường xuất khẩu hàng
hóa trực tiếp bao gồm cả thị trường xuất khẩu hàng hóa trực tiếp (người tiêu
thụ cuối cùng), và thị trường xuất khẩu hàng hóa gián tiếp (xuất khẩu qua
trung gian). Chẳng hạn, một nước nào đó tạm nhập tái xuất hàng hóa của Việt
Nam hoặc nhập hàng hóa của Việt Nam rồi đem xuất khẩu sang thị trường
khác cũng được coi là thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.
Cần nhấn mạnh rằng thị trường xuất khẩu hàng hóa không chỉ giới hạn ở
những thị trường nước ngoài. Thị trường trong nước nhiều trường hợp là thị
trường xuất khẩu hàng hóa tại chỗ (nhất là đối với các ngành xuất khẩu dịch
vụ: Du lịch, tài chính – ngân hàng, bảo hiểm…). Đối với hàng hóa xuất khẩu
từ các khu chế xuất của Việt Nam vào chính thị trường Việt Nam thì khi đó,
thị trường nội địa có thể coi là một thị trường xuất khẩu hàng hóa đối với
hàng hóa của các khu chế xuất.
Tuy nhiên, trên cơ sở tài liệu thực tế có được tại cơ quan thực tập, cũng
như kiến thức của bản thân, chuyên đề của em chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu
thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam giới hạn ở những thị trường
nước ngoài.
1.3.2. Phân loại thị trường xuất khẩu hàng hóa.
Có nhiều tiêu thức phân loại thị trường xuất khẩu hàng hóa, theo em, có
các tiêu thức sau:
Căn cứ vào vị trí địa lý: Thị trường châu lục (Châu Mỹ, Châu Âu, Châu
Á…); thị trường khu vực (thị trường ASEAN, Bắc Mỹ, Trung Đông, Tây Phi,
Nam Á…); thị trường nước và vùng lãnh thổ (Đài Loan, Hồng Kông, Mỹ..)
SV: Nguyễn Thị Hồng Liên Lớp TM 47A