Pháp luật về kiểm soát bán hàng đa cấp ở việt nam

  • 96 trang
  • file .pdf
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT BÁN HÀNG ĐA CẤP
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Quang
HÀ NỘI - 2014
2
Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn
cøu khoa häc cña riªng t«i. C¸c sè liÖu, vÝ dô vµ
trÝch dÉn trong luËn v¨n ®¶m b¶o ®é tin cËy,
chÝnh x¸c vµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc
cña luËn v¨n ch­a tõng ®­îc ai c«ng bè trong bÊt
kú c«ng tr×nh nµo kh¸c.
T¸c gi¶ luËn v¨n
TrÇn ThÞ Thu
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ 6
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT BÁN HÀNG ĐA CẤP
1.1. Bán hàng đa cấp và vấn đề kiểm soát bán hàng đa cấp 6
1.1.1. Khái quát về bán hàng đa cấp 6
1.1.2. Khái quát về kiểm soát bán hàng đa cấp 13
1.2. Pháp luật về kiểm soát bán hàng đa cấp 16
1.2.1. Khái niệm pháp luật về kiểm soát bán hàng đa cấp 16
1.2.2. Nguyên tắc kiểm soát bán hàng đa cấp 18
1.2.3. Nội dung của pháp luật về kiểm soát bán hàng đa cấp 20
1.3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật kiểm soát bán hàng 22
đa cấp
1.3.1. Những nhân tố bên trong 22
1.3.2. Những nhân tố bên ngoài 23
1.4. Kinh nghiệm pháp luật một số quốc gia về kiểm soát bán 24
hàng đa cấp
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM 34
SOÁT BÁN HÀNG ĐA CẤP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Thực trạng bán hàng đa cấp và nhu cầu cần kiểm soát bằng 34
pháp luật ở Việt Nam hiện nay
2.2. Các chủ thể kiểm soát bán hàng đa cấp - quyền và nghĩa vụ 36
theo quy định pháp luật
4
2.3. Hợp đồng trong bán hàng đa cấp - công cụ chủ yếu để kiểm 43
soát bán hàng đa cấp
2.4. Nhà nước với vai trò điều tiết chủ yếu trong kinh tế thị 48
trường về vấn đề kiểm soát bán hàng đa cấp
2.5. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp 50
2.6. Một số vấn đề bất cập của pháp luật về kiểm soát bán hàng 54
đa cấp - nguyên nhân và định hướng hoàn thiện
2.6.1. Những bất cập phát sinh từ các quy định về điều kiện cấp 54
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp (quy
định về tiền kiểm)
2.6.2. Những bất cập phát sinh từ các quy định điều chỉnh quá trình 58
hoạt động của doanh nghiệp sau khi đã được cấp giấy chứng
nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp (quy định về hậu kiểm)
2.6.3. Những bất cập khác 62
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM 71
SOÁT BÁN HÀNG ĐA CẤP
3.1. Về mặt quan điểm xây dựng chính sách quản lý hoạt động 71
bán hàng đa cấp
3.2. Về giải pháp cụ thể 72
3.2.1. Điều chỉnh sửa đổi nhóm các quy định về "tiền kiểm" 72
3.2.2. Điều chỉnh sửa đổi nhóm các quy định quản lý liên quan đến 75
điều chỉnh quá trình hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp
3.2.3. Điều chỉnh sửa đổi các quy định khác 78
KẾT LUẬN 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHĐC : Bán hàng đa cấp
NPP : Người phân phối
6
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế nước nhà phát triển mạnh mẽ và hội nhập
kinh tế quốc tế thì việc lựa chọn những phương thức kinh doanh hiệu quả và phù
hợp là vô cùng quan trọng. Đã có rất nhiều những mô hình, phương thức kinh
doanh mới du nhập vào Việt Nam nhưng việc lựa chọn được mô hình, phương
thức hiệu quả, phù hợp với đặc điểm tính chất của nền kinh tế Việt Nam lại
không hề dễ dàng. Những năm gần đây, người ta hay nhắc tới "marketing đa
cấp", "kinh doanh theo mạng" hay "bán hàng đa cấp" như một phương thức
kinh doanh mới hiệu quả nhưng cũng không ít người cho rằng phương thức
kinh doanh đó không phù hợp tại Việt Nam. Xuất hiện trên thế giới từ những
năm 70 của thế kỷ mới nhưng do mới du nhập vào Việt Nam nên bán hàng đa
cấp (BHĐC) đã vấp phải không ít sự phản đối của người tiêu dùng. Mặc dù
bản chất ngành nghề không sai, nhưng do một số công ty vì lợi nhuận đã cố
tình làm sai lệch mô hình này, khiến Chính phủ, các cơ quan ban ngành và
người dân hoài nghi về tính hiệu quả của nó.
Bán hàng đa cấp đã du nhập vào Việt Nam được khoảng 14 năm. Dù
không còn xa lạ đối với thị trường Việt Nam, song BHĐC vẫn còn mới mẻ
trong kinh nghiệm quản lý kinh tế của Nhà nước và trong khoa học pháp lý.
Trước khi có hành lang pháp lý cho phương thức kinh doanh này, việc phát
triển BHĐC ở Việt Nam diễn ra khá lộn xộn và thường theo hình thức kinh
doanh bất chính. Từ năm 2005 đến nay, khi chính thức có Luật Cạnh tranh và
Nghị định số 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động BHĐC, hoạt động này
đã chính thức được pháp luật điều chỉnh. Việc ban hành các văn bản pháp lý
điều chỉnh hoạt động này đã khẳng định thái độ của Nhà nước ta là thừa nhận
tính hợp pháp của hoạt động BHĐC. Đồng thời, các văn bản pháp luật nói
trên cũng thiết kế một cơ chế quản lý riêng biệt đối với hoạt động này. Cơ chế
7
này bao gồm ba bộ phận cơ bản là: tiêu chuẩn hóa các điều kiện của doanh
nghiệp tổ chức BHĐC và người tham gia; quy định thủ tục cấp giấy chứng
nhận đăng ký tổ chức BHĐC; xác định các hành vi BHĐC vi phạm pháp luật
và trách nhiệm của người vi phạm. Tuy nhiên, những nhận thức từ phía các cơ
quan quản lý nhà nước về bản chất kinh tế - pháp lý của hoạt động này chưa
thực sự đầy đủ và tại thời điểm ban hành Luật Cạnh tranh, chúng ta chưa có
kinh nghiệm trong việc quản lý nên còn tồn tại nhiều lúng túng trong việc xây
dựng và áp dụng pháp luật. Sự chậm chân trong việc quản lý đã tạo điều kiện
cho một số kẻ lợi dụng sự cả tin để lừa đảo người dân, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tính trong sạch của phương thức BHĐC. Thực tế hoạt động của
BHĐC tại Việt Nam hiện nay vẫn còn là một vấn đề nhức nhối với cơ quan
quản lý. Lợi dụng kẽ hở của pháp luật, các công ty BHĐC bất chính đã lừa
đảo chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng của hàng trăm nghìn người dân, từ những
người tri thức, những người đã có kinh nghiệm làm việc lâu năm ở các cơ
quan, doanh nghiệp, các sinh viên đại học cho đến những người dân vùng sâu
vùng xa. Thực trạng đó làm nổi lên làn sóng bức xúc trong nhân dân, xuất
hiện những ý kiến trái chiều về ngành kinh doanh này. Một số người cho rằng
đây là ngành kinh doanh lừa đảo, gian dối, thậm chí còn cho rằng BHĐC
không phù hợp với Việt Nam hay nên cấm tuyệt đối phương thức kinh doanh
này ở nước ta. Một số người khác hiểu biết hơn thì cho rằng BHĐC là phương
thức ưu việt. Thực tế lộn xộn như hiện nay là do các doanh nghiệp bất chính
làm ăn phi pháp làm biến tướng đi mà thôi.
Trong bối cảnh nói trên, việc nghiên cứu pháp luật về kiểm soát
BHĐC ở Việt Nam hiện nay là có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về BHĐC nói chung được rất nhiều nhà nghiên cứu Luật
học quan tâm, trong đó đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này
ở Việt Nam. Tất cả các công trình này đều đã nêu ra được bản chất pháp lý
8
của BHĐC và BHĐC bất chính. Tuy nhiên, các bài viết về vấn đề này chủ yếu
mới dừng lại ở các bài báo, tạp chí, báo mạng, khóa luận tốt nghiệp đại học
hay được đề cập một phần trong các công trình nghiên cứu về cạnh tranh
không lành mạnh mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề
kiểm soát BHĐC. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về
BHĐC bao gồm: Luận văn Thạc sĩ "Một số vấn đề pháp lý về bán hàng đa
cấp ở Việt Nam" của tác giả Đoàn Văn Bình (2006), Đại học Luật Hà Nội;
Khóa luận tốt nghiệp "Một số nội dung pháp lý về bán hàng đa cấp ở Việt
Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh (2010), Đại học Luật Hà
Nội; Khóa luận tốt nghiệp "Những vấn đề pháp lý về hoạt động bán hàng đa
cấp ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Hằng (2011), Đại học Luật Hà Nội;
Khóa luận tốt nghiệp "Bán hàng đa cấp bất chính theo pháp luật cạnh tranh
Việt Nam" của tác giả Nghiêm Xuân Tuyên (2011), Đại học Luật Hà Nội và
một số bài báo, tạp chí chuyên ngành cũng như rất nhiều công trình nghiên
cứu về vấn đề cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có đề cập đến vấn đề
BHĐC bất chính.
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ thì vấn đề pháp luật về kiểm soát BHĐC
cũng chưa được nhiều công trình nghiên cứu. Do đó, luận văn này sẽ đề cập
đến các vấn đề có liên quan đến pháp luật về kiểm soát BHĐC. Dự định
nghiên cứu của mình, học viên sẽ làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản liên quan
đến hoạt động BHĐC và kiểm soát BHĐC; thực trạng những quy định pháp
luật về kiểm soát BHĐC, trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng, giải pháp
hoàn thiện pháp luật về BHĐC và vấn đề kiểm soát BHĐC ở Việt Nam.
3. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Với việc tìm hiểu, phân tích các vấn đề liên quan đến pháp luật về
kiểm soát BHĐC ở Việt Nam, luận văn sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về kiểm soát BHĐC với cái nhìn tổng quan từ đó giúp người đọc thấy được
những hạn chế nổi cộm nhất còn tồn đọng trong các quy định pháp luật hiện
9
nay và sự cần thiết phải hoàn thiện vấn đề này. Mục đích cuối cùng của việc
nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật về kiểm soát BHĐC ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu trên, học viên dự kiến phạm vi
nghiên cứu sẽ chỉ tập trung chủ yếu vào sáu vấn đề nổi cộm nhất trong các
quy định pháp luật về kiểm soát BHĐC, bao gồm: thực trạng của hoạt động
BHĐC và nhu cầu cần kiểm soát bằng pháp luật ở Việt Nam hiện nay; các
chủ thể trong hoạt động kiểm soát BHĐC - quyền và nghĩa vụ; hợp đồng
trong BHĐC - công cụ chủ yếu để kiểm soát BHĐC; Nhà nước với vai trò
điều tiết chủ yếu trong kinh tế thị trường về vấn đề kiểm soát BHĐC; doanh
nghiệp BHĐC; một số vấn đề bất cập của pháp luật về kiểm soát BHĐC,
nguyên nhân và định hướng hoàn thiện. Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề như
đã nêu trên, tác giả sẽ đưa ra kiến nghị về phương hướng và giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về các vấn đề đã được đề cập.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên nền tảng cơ sở lý luận về pháp luật về
BHĐC ở Việt Nam và vấn đề kiểm soát hoạt động BHĐC, thông qua đó làm
rõ các vấn đề lý thuyết được đặt ra trong luận văn.
Đề tài sẽ được triển khai nghiên cứu với phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, lịch sử, so
sánh, thống kê, khảo sát thực tiễn và chuyên gia... để hoàn thành luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về pháp luật về kiểm
soát BHĐC. Với kết quả đạt được, tác giả hy vọng góp phần làm rõ thêm về
mặt lý luận của phương thức BHĐC và vấn đề kiểm soát BHĐC, vai trò của
hoạt động kiểm soát BHĐC, rà soát và đánh giá lại toàn bộ các quy định có
10
liên quan tới quản lý hoạt động BHĐC tại Việt Nam; đánh giá và chỉ ra được
những bất cập nảy sinh từ bản thân các quy định hiện hành; đánh giá và chỉ ra
được những khó khăn phát sinh trong quá trình thực thi, một số vấn đề mới
phát sinh trong thực tiễn cần bổ sung các quy định pháp lý để điều chỉnh kịp
thời qua đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật quản lý hoạt động
BHĐC tại Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về kiểm soát bán hàng đa cấp và pháp luật về
kiểm soát bán hàng đa cấp.
Chương 2: Thực trạng các quy định pháp luật về kiểm soát bán hàng
đa cấp ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát bán hàng đa
cấp ở Việt Nam.
11
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT BÁN HÀNG ĐA CẤP
1.1. BÁN HÀNG ĐA CẤP VÀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT BÁN HÀNG ĐA CẤP
1.1.1. Khái quát về bán hàng đa cấp
1.1.1.1. Khái niệm bán hàng đa cấp
Bán hàng đa cấp là thuật ngữ dùng để chỉ một phương thức tiếp thị sản
phẩm, là hoạt động kinh doanh bán hàng trực tiếp đến tay người tiêu dùng, họ
có thể trực tiếp mua hàng tại công ty (hoặc qua một nhà phân phối (NPP) duy
nhất) mà không phải thông qua các đại lý hay cửa hàng bán lẻ. Cụ thể hơn,
việc lưu hành, bán và phân phối sản phẩm (nói cách khác là tiêu thụ hàng
hóa) được thực hiện qua một cơ cấu nhiều tầng bao gồm những cá nhân riêng
biệt hoạt động độc lập. Những cá nhân này không phải là người lao động của
công ty, họ là đối tác phân phối hàng hóa cho công ty đóng vai trò như những
đại lý, giới thiệu sản phẩm và thu hút khách hàng thông qua những kết quả sử
dụng của bản thân và những người quen biết và có khoản thu nhập nhất định.
Ngoài ra, họ còn giúp đỡ những người khác cùng tham gia doanh nghiệp
BHĐC (Multi Level Marketing), hướng dẫn họ cách xây dựng mạng lưới
phân phối viên của riêng mình, mạng lưới đó thường được gọi là downline
(tuyến dưới) [30]. Nhờ vậy, hình thức bán hàng này tiết kiệm được rất nhiều
chi phí từ việc quảng cáo, khuyến mại, tiền sân bãi, kho chứa, vận chuyển
hàng hóa và số tiền này được dùng để trả thưởng cho NPP và nâng cấp, cải
tiến sản phẩm tiếp tục phục vụ người tiêu dùng.
Bán hàng đa cấp cùng với bán hàng đơn cấp (Single Level Marketing) -
nhân viên tiếp thị bán lẻ sản phẩm trực tiếp cho người tiêu dùng và hưởng hoa
hồng trên số lượng sản phẩm do chính mình tiêu thụ được) tạo thành hai hình
thức bán hàng trực tiếp cơ bản. Thuật ngữ "Multi Level Marketing" tại Việt
12
Nam được dịch ra tiếng Việt với nhiều tên gọi khác nhau nhau như "Kinh
doanh theo mạng (Network Marketing)", "Kinh doanh đa cấp", "Bán hàng đa
cấp", "Tiếp thị đa tầng"...trong đó tên gọi "Bán hàng đa cấp" là tên gọi thông
dụng nhất.
Ở Việt Nam BHĐC được chính thức công nhận theo pháp luật Việt
Nam kể từ khi khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh (2004) đưa ra định nghĩa về
phương thức này. Theo đó, thuật ngữ Multi Level Marketing được dịch là
"Bán hàng đa cấp" được định nghĩa là một phương thức bán hàng trực tiếp,
trong đó việc lưu hành, bán và phân phối sản phẩm (nói cách khác là tiêu thụ
hàng hóa) được thực hiện qua một cơ cấu nhiều tầng bao gồm những cá nhân
riêng biệt hoạt động độc lập. Luật Cạnh tranh cũng chỉ rõ BHĐC là phương
thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:
Một là, việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua
mạng lưới người tham gia BHĐC gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau.
Hai là, hàng hóa được người tham gia BHĐC tiếp thị trực tiếp cho
người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm
khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của
người tham gia.
Ba là, người tham gia BHĐC được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng
hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người
tham gia cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đã được
doanh nghiệp BHĐC chấp thuận.
Khái niệm về BHĐC cũng được đề cập trong Nghị định 42/2014/NĐ-CP
ngày 14/05/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động BHĐC (thay thế Nghị
định 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động
BHĐC). Cụ thể, tại Điều 3 đã định nghĩa: "Kinh doanh theo phương thức đa
cấp là hình thức kinh doanh thông qua mạng lưới người tham gia gồm nhiều
cấp, nhiều nhánh khác nhau, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng,
13
tiền thưởng và các lợi ích kinh tế khác từ hoạt động kinh doanh của mình và
của mạng lưới do mình xây dựng".
1.1.1.2. Đặc điểm của hoạt động bán hàng đa cấp
Từ nghiên cứu khái niệm và bản chất của hoạt động BHĐC, có thể rút
ra một số đặc điểm của phương thức BHĐC như sau:
Thứ nhất, BHĐC là hoạt động kinh doanh bán hàng trực tiếp đến tay
người tiêu dùng thông qua phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa. Đặc điểm
này cũng được khẳng định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 42/2014/NĐ-CP.
Trước hết chúng ta khẳng định đây là phương thức bán lẻ hàng hóa, nói cách
khác thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng doanh nghiệp tổ chức
BHĐC sẽ thiết lập được mối quan hệ mua bán sản phẩm trực tiếp với người
tiêu dùng mà không cần tốn các chi phí, khoản đầu tư, thành lập, duy trì mạng
lưới phân phối dưới dạng cửa hàng giới thiệu sản phẩm hoặc đại lý phân phối
theo pháp luật thương mại. Doanh nghiệp BHĐC thường là doanh nghiệp trực
tiếp sản xuất hàng hóa được tiếp thị và bán lẻ bằng phương thức đa cấp hoặc
cũng có thể là doanh nghiệp phân phối hàng hóa do doanh nghiệp khác sản
xuất, do vậy, thông qua phương thức BHĐC người tiêu dùng có cơ hội mua
được những sản phẩm từ chính gốc, tránh những rủi ro có thể phát sinh trong
quá trình phân phối như nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, giá cả không
trung thực.
Thứ hai, doanh nghiệp BHĐC tiếp thị hàng hóa thông qua những
người tham gia được tổ chức ở nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau. Có thể nói,
người tham gia BHĐC là những cộng tác viên trong việc tiếp thị và bán lẻ
hàng hóa cho doanh nghiệp và được gọi là NPP. Trong hoạt động của mình,
NPP thực hiện việc giới thiệu và bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng
mà không qua một cửa hàng hay đại lý nào. NPP ở đây không phải là đại lý
phân phối sản phẩm cho doanh nghiệp theo quy định của Luật thương mại,
không là cửa hàng tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp thành lập. Như vậy, khi
14
giới thiệu và bán lẻ sản phẩm, bản thân doanh nghiệp có hàng hóa không phải
là người trực tiếp thiết lập quan hệ với người tiêu dùng mà việc bán hàng
được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia, cho nên doanh nghiệp
BHĐC không có mối quan hệ trực tiếp với khách hàng. NPP cũng không phải
nhân viên của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp không phải chịu trách
nhiệm về hành vi của người tham gia trước khách hàng tiêu thụ sản phẩm.
Trách nhiệm của doanh nghiệp chỉ giới hạn trong phạm vi chất lượng sản
phẩm và các thông tin liên quan đến sản phẩm do họ công bố.
Hàng hóa được NPP tiếp thị tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu
dùng, hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của
doanh nghiệp hay của NPP (Điểm b khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh). Họ
trực tiếp gặp gỡ người tiêu dùng để giới thiệu và bán lẻ sản phẩm và do đó, họ
không phải đăng ký kinh doanh khi tham gia BHĐC. Mỗi người tham gia
BHĐC được tổ chức một mạng lưới phân phối mới và việc này phải được sự
đồng ý của doanh nghiệp. Chính vì vậy, số người tham gia ở cấp sau luôn
nhiều hơn so với cấp trước nó, làm cho phương thức kinh doanh này tạo ra
một hệ thống phân phối theo hình tháp. Trong hoạt động của mình, NPP thực
hiện việc giới thiệu và bán hàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng mà không
qua một cửa hàng hay đại lý nào cả. Hoạt động của hệ thống đa cấp được tổ
chức thành mạng lưới nhiều cấp, cấp dưới luôn có người tham gia nhiều hơn
cấp trên. Trong quan hệ nội bộ của một mạng lưới, người tham gia ở cấp trên
có vai trò tổ chức và điều hành hoạt động của những người trong mạng lưới
cấp dưới mình. Như vậy phương thức kinh doanh này đã tạo ra một hệ thống
phân phối theo hình tháp.
Thứ ba, người tham gia BHĐC được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng,
lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng của mình và của người tham gia khác
trong mạng lưới do họ tổ chức ra. Cách thức phân chia lợi ích như trên không
chỉ kích thích người tham gia tích cực tiêu thụ hàng hóa mà còn kích thích họ
15
tích cực tạo lập hệ thống phân phối cấp dưới. Khoản lợi nhuận hoa hồng của
các NPP sẽ phụ thuộc vào khoản tiền chênh lệch giá trị khi họ lấy hàng hóa từ
doanh nghiệp với giá sỉ và bán ra với giá lẻ đã được công ty ấn định và số hoa
hồng trích từ phần trăm hoa hồng của những người tham gia ở cấp dưới do
mình xây dựng nên.
Đặc điểm của hoạt động BHĐC có thể thấy rõ hơn khi so sánh với các
hình thức phân phối, tiêu thụ hàng hóa truyền thống như bán buôn, bán lẻ, đại
lý hay nhượng quyền thương mại… Cụ thể như sau:
Thứ nhất, quyền sở hữu hàng hóa trong hoạt động BHĐC do NPP nắm
giữ khi hàng hóa được chuyển giao cho họ, mặc dù trong quan hệ BHĐC,
người tham gia BHĐC có thể trả lại hàng hóa trong một số trường hợp. Đặc
điểm này phân biệt rõ nét với hoạt động bán hàng thông qua đại lý khi mà
quyền sở hữu hàng hóa vẫn do bên giao đại lý nắm giữ.
Thứ hai, trong BHĐC, về nguyên tắc, giá bán hàng hóa cho người tiêu
dùng là giá ban đầu do doanh nghiệp ấn định, người tham gia BHĐC không
có quyền bán sản phẩm với giá cao hơn. Đặc điểm này phân biệt với hình
thức bán buôn vì hàng hóa từ đại lý bán buôn sẽ qua các đại lý bán lẻ mới có
thể đến tay người tiêu dùng nên giá hàng hóa thường bị đẩy lên cao do các
khâu trung gian có quyền hưởng hoa hồng trên phần chênh lệch giá.
Thứ ba, các NPP trong mạng lưới BHĐC được quyền sở hữu hàng hóa
và tuyển dụng thêm người tuyến dưới, mở rộng mạng lưới phân phối của công
ty. Điều này không thể có ở hoạt động bán lẻ hàng hóa.
Thứ tư, đối với hoạt động BHĐC thì chủ thể tham gia BHĐC chỉ có
thể là cá nhân, đối tượng trong hợp đồng BHĐC chỉ là sản phẩm của doanh
nghiệp BHĐC, các phân phối viên trong mạng lưới BHĐC chỉ cần đáp ứng
yêu cầu cung cấp sản phẩm đúng với thông tin được doanh nghiệp công bố về
giá cả, chất lượng, công dụng. Họ hoạt động nhân danh chính mình chứ
không hoạt động dưới danh nghĩa của công ty. Đặc điểm này phân biệt rõ nét
16
với hoạt động nhượng quyền thương mại vì chủ thể tham gia nhượng quyền
thương mại có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, đối tượng trong hợp đồng ký
kết giữa các bên nhượng quyền là toàn bộ quyền thương mại của bên nhượng
quyền (bao gồm tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, bí mật kinh doanh,
phương thức quản lý, tổ chức hệ thống bán hàng…), hoạt động của hệ thống
nhượng quyền thương mại phải đảm bảo tính đồng bộ. Điều đó tức là tất cả
các bên nhượng quyền đều phải kinh doanh dưới một tên chung (nhân danh
bên nhượng quyền), hệ thống cửa hàng được thiết kế giống nhau và hàng hóa
cung cấp cũng phải giống nhau cả về chất lượng lẫn giá cả.
Có thể thấy rằng, hoạt động kinh doanh BHĐC thể hiện sự tự do trong
kinh doanh về cả phương diện kinh tế và phương diện pháp lý. Về phương
diện kinh tế, hoạt động BHĐC thể hiện sự tự do trong việc quyết định cách
thức bán hàng hóa của doanh nghiệp và NPP, cách thức trả thưởng và tiền hoa
hồng, cách xây dựng mạng lưới phân phối để tiêu thụ hàng hóa một cách có
hiệu quả nhất. Về góc độ pháp lý, hoạt động BHĐC thể hiện ý chí tự do định
đoạt của các chủ thể tham gia hoạt động BHĐC thông qua quyền tự do kinh
doanh đã được pháp luật thừa nhận, doanh nghiệp được quyền kinh doanh
những hàng hóa và dịch vụ mà pháp luật cho phép và tự do giao kết hợp đồng
với các NPP trên cơ sở pháp luật để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp.
1.1.1.3. Vai trò của hoạt động bán hàng đa cấp
Bán hàng đa cấp đã được nhận định là phương thức tiếp cận người
tiêu dùng hữu hiệu nhất những năm 90 trên tạp chí "Business" - một tạp chí
kinh doanh hàng đầu của Mỹ. Cho đến ngày nay, người ta vẫn không thể phủ
nhận đây là một ngành kinh doanh hiệu quả và nhiều triển vọng.
Thứ nhất, BHĐC tạo nên thay đổi lớn về thương mại. Cụ thể, thay vì
đi siêu thị hay đến tận các cửa hàng mua sắm theo kiểu truyền thống, giờ đây
với sự ra đời của loại hình BHĐC, người tiêu dùng đang dần chuyển sang
17
mua sắm qua internet, qua catalogue, qua tivi... Và BHĐC với mô hình kinh
doanh BHĐC đang ngày càng đóng vai trò lớn trong sự thay đổi này. BHĐC
giúp các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí quảng cáo, thuê mặt bằng, kho bãi,
vận chuyển... Đồng thời, nó còn là một phương thức tiếp cận khách hàng hiệu
quả trong thời buổi người tiêu dùng vô cùng bận rộn hiện nay.
Thứ hai, BHĐC cung cấp hàng hóa chất lượng cao, giá cả phù hợp
cho xã hội. Hiện nay, BHĐC đang phát triển mạnh ở 125 nước trên khắp các
châu lục, với hơn 30.000 công ty lớn đã áp dụng phân phối hàng hóa theo mô
hình BHĐC. Các công ty BHĐC phân phối rất nhiều các mặt hàng khác nhau
như: thời trang, đồ trang sức, sản phẩm vệ sinh gia đình, sản phẩm dinh
dưỡng, hóa mỹ phẩm... Hầu hết các sản phẩm của các công ty BHĐC lớn và
nổi tiếng hiện nay đều có nguồn gốc hữu cơ, được thử nghiệm lâm sàng, được
cấp bằng sáng chế và kiểm nghiệm. Mặt khác, vì các doanh nghiệp BHĐC
không phải tốn chi phí cho quảng cáo, thuê kho bãi, lưu thông hàng hóa....
nên giá cả hàng hóa của các doanh nghiệp này thường rất "mềm" và cạnh
tranh với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác. So với các doanh
nghiệp kinh doanh theo kiểu truyền thống thì các doanh nghiệp BHĐC loại bỏ
được các khâu trung gian, tiết kiệm được chi phí trong quá trình lưu thông,
phân phối hàng hóa. Đối với hình thức kinh doanh truyền thống thì sản phẩm
muốn đến tay người tiêu dùng thì thường phải trải qua nhiều bước, nhiều công
đoạn. Một sản phẩm xuất xưởng, hoặc nhập khẩu về trước hết sẽ được phân
phối đến các đại lý khu vực - đại lý bán sỉ - rồi đến các cửa hàng bán lẻ,
những người mua hàng đơn thuần sẽ mua hàng trực tiếp tại các cửa hàng bán
lẻ. Thông thường các khâu này chiếm từ 20% - 30% giá bán ra của một sản
phẩm. Bên cạnh đó doanh nghiệp kinh doanh truyền thống còn phải bỏ ra một
khoản chi phí lớn cho quảng cáo, tiếp thị, tuyên truyền và khuyến mãi sản
phẩm. Như vậy chi phí mà các doanh nghiệp kinh doanh truyền thống bỏ ra
cho quảng cáo là rất lớn cùng với việc tăng giá ở mỗi khâu trung gian đã đẩy
18
giá thành tăng sản phẩm tăng lên rất nhiều. Nhưng đối với phương thức
BHĐC thì các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí quảng cáo một cách tối đa, họ
không cần phải chi một số tiền khổng lồ để "lôi kéo" khách hàng. Sản phẩm
từ doanh nghiệp sẽ được phân phối trực tiếp đến tay người tiêu dùng không
qua khâu trung gian nào, cũng như không tốn chi phí cho quảng cáo. Vì thế
giá cả sản phẩm của các doanh nghiệp BHĐC thường mềm hơn và có tính
cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác.
Thứ ba, BHĐC giải quyết việc làm cho xã hội. BHĐC có khả năng tạo
cơ hội việc làm cho mọi đối tượng, giải quyết nhiều công ăn việc làm, nâng
cao thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống. Đối với những ngành nghề khác
để được làm việc trong các doanh nghiệp thì người lao động phải đáp ứng
những điều kiện nhất định như vốn, bằng cấp, trình độ, kinh nghiệm… Còn
tham gia mạng lưới BHĐC thì chỉ cần họ có nhiệt huyết sau đó sẽ được công
ty đào tạo miễn phí, trang bị những kiến thức liên quan về BHĐC. Do đó từ
những người nội trợ đến học sinh, sinh viên đều có thể tranh thủ thời gian
nhàn rỗi của mình để BHĐC tăng thêm thu nhập. Thực tế trong thời gian qua
đã có số lượng đông đảo người tham gia BHĐC với rất nhiều thành phần
trong xã hội. Theo thống kê của WFDSA (Liên đoàn Bán hàng trực tiếp thế
giới) năm 2010 thì tổng số người tham gia trong ngành BHĐC trên thế giới đã
lên tới hơn 75 triệu người [22].
1.1.2. Khái quát về kiểm soát bán hàng đa cấp
Kiểm soát nói chung được hiểu là vấn đề xem xét các hành vi, yếu tố
trái với quy tắc, luật lệ, kỷ luật,…và xem xét nhằm phát hiện và ngăn chặn
các hành vi vi phạm quy định. Kiểm soát BHĐC nói riêng là hoạt động của
các chủ thể bao gồm nhà nước, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, NPP,
người tiêu dùng nhằm mục đích phát hiện và ngăn chặn các hành vi BHĐC vi
phạm pháp luật thông qua hệ thống các quy định và chế tài trong lĩnh vực
BHĐC. Trong đó, Nhà nước và các cơ quan quản lý kiểm soát hoạt động
19
BHĐC của các doanh nghiệp và NPP sao cho các hoạt động được thực hiện
theo đúng khuôn khổ pháp luật, các doanh nghiệp BHĐC thì kiểm soát hoạt
động của các NPP sao cho các hoạt động được thực hiện theo đúng quy định
của bản thân doanh nghiệp và quy định của pháp luật, đồng thời kiểm soát
hoạt động của các doanh nghiệp BHĐC khác để tránh các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực BHĐC. Các NPP thì kiểm soát hoạt động của
các doanh nghiệp để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho chính mình và những
người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp, người tiêu dùng thì
kiểm soát hoạt động BHĐC của các doanh nghiệp và NPP để đảm bảo quyền
lợi của chính họ không bị xâm phạm bởi những hành vi tiêu cực từ phía các
doanh nghiệp và các NPP.
Có những bước phát triển tích cực sau hơn 12 năm xuất hiện tại Việt
Nam, nhưng khi nhắc tới BHĐC, vẫn còn không ít người cho rằng đây là hình
thức 'lừa đảo' bởi lẽ bên cạnh những doanh nghiệp kinh doanh chân chính,
vẫn còn không ít doanh nghiệp và cả NPP lợi dụng phương thức kinh doanh
này để thu lợi bất chính, gây thiệt hại cho cả người tham gia và người tiêu
dùng. Đặc biệt, những vụ việc liên tiếp xảy ra gần đây như Công ty Agel sụp
đổ hay MB24, Công ty cổ phần Đầu tư Tâm Mặt Trời và Công ty cổ phần
Đầu tư thương mại dịch vụ Cộng Đồng Việt bị khởi tố vì có hành vi kinh
doanh lừa đảo, lại càng tác động tiêu cực đến mô hình BHĐC chân chính.
Phần lớn các công ty đều có công ty nước ngoài núp bóng và chỉ đạo, đồng
thời cung cấp hàng hóa, chi phí quảng cáo, tiếp thị. Cách thức kinh doanh phổ
biến là không có trách nhiệm, sẵn sàng đóng cửa chuyển địa điểm, lập doanh
nghiệp mới. Phương thức kinh doanh này phức tạp về cách tổ chức nên việc
kiểm soát hệ thống phân phối đa cấp trở nên rất khó khăn, rất dễ bị lợi dụng
để phục vụ mưu đồ lừa đảo. Hình thức kinh doanh thường dùng là lấy hàng
hóa để che đậy hành vi lừa đảo của mình. Các doanh nghiệp bán hàng theo
phương thức BHĐC thường bán các sản phẩm không phổ biến. Để được tham
20
gia hệ thống (cộng tác viên, NPP, hợp tác viên…), người tiêu dùng phải bỏ ra
số tiền rất lớn để mua quyền được trở thành NPP bán sản phẩm và bảo trợ
người khác tham gia dưới hình thức mua sản phẩm với giá rất cao so với giá
trị thực từ gấp 5- 6 lần đến gấp 40- 50 lần. Do vậy, sản phẩm không thể bán
cho người tiêu dùng mà chủ yếu chỉ bán cho những NPP mới, vì có mua sản
phẩm mới được tham gia hệ thống. Người tiêu dùng phải bỏ ra số tiền lớn đi
mua giá trị ảo quá cao so với giá trị thực của sản phẩm và cũng chính những
người này tham gia mạng lưới tuyên truyền sản phẩm có tác dụng mơ hồ, tự
cho là chữa bách bệnh. Để bán được nhiều sản phẩm, chiêu dụ được nhiều
NPP, các công ty kinh doanh theo phương thức BHĐC bất chính thường tổ
chức các buổi thuyết trình ấn tượng, được hưởng hoa hồng cao từ 5- 40%, có
tiền bạc, nhà cửa, kim cương… mục đích là đánh vào lòng tham của những
người muốn làm giàu mà không cần phải cực nhọc [36].
Đây là một thủ thuật kinh doanh BHĐC bất chính "đã tạo ra một tầng
lớp dịch vụ ảo, không tạo ra của cải cho xã hội. doanh trái đạo đức không thể
chấp nhận được. Nếu không được ngăn chặn sẽ gây hậu quả nặng nề cho xã
hội không chỉ về mặt kinh tế mà cả trên sức khỏe con người" [36].
Sự biến tướng của kinh doanh đa cấp cũng như những phức tạp trong
quản lý ngành kinh doanh này đang gây hệ lụy xấu cho phương thức BHĐC
tại Việt Nam. Cho dù tiềm năng của phương thức này là rất lớn, như theo
nguồn tin từ Bộ Công thương, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ
tiêu dùng trong 6 tháng đầu năm đạt gần 1.500 tỉ đồng, tăng 10,73% so với
cùng kỳ năm 2013 song thực trạng này khiến các doanh nghiệp BHĐC dễ bị
hiểu lầm, đánh đồng với các doanh nghiệp BHĐC bất chính. Hiện nay, ở Việt
Nam, rất nhiều người dân bị lừa đảo chiếm đoạt tiền, trong đó, chủ yếu là học
sinh sinh viên, những người không có công việc ổn định. Gần đây, đối tượng
bị nhắm đến là người dân vùng sâu, vùng xa, nơi thông tin không được tiếp
cận đầy đủ, kịp thời. Điều đó khiến cho dư luận hết sức bất bình. Rất nhiều
21