Pháp luật về hoat động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở việt nam

  • 93 trang
  • file .pdf
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN MẠNH THƯỜNG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG
CHO VAY ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bì a
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY ĐTCK CỦA 5
NHTM
1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM 5
1.2 Phân loại cho vay của NHTM 7
1.3 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của 10
NHTM
1.3.1 Khái niệm về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của NHTM 10
1.3.2 Những đặc điểm của hoạt động cho vay ĐTCK 14
1.4 Vai trò của hoạt động cho vay ĐTCK 15
1.5 Các nguyên tắc của hoạt động cho vay ĐTCK 18
1.6 Nội dung pháp luật về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM 20
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO 26
VAY ĐTCK CỦA NHTM Ở VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM ở Việt Nam 26
2.2 Thực trạng các quy đị nh pháp luật về hoạt động cho vay ĐTCK của 29
NHTM ở Việt Nam
2.2.1 Về điều kiện cho vay đầu tư chứng khoán 29
2.2.2 Về trình tự, thủ tục cho vay đầu tư chứng khoán 32
2.3 Về chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động cho 36
vay đầu tư chứng khoán
2.3.1 Về chủ thể tham gia hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán 36
2.3.2 Về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động cho vay đầu 40
tư chứng khoán
2.3.2.1 Về quyền và nghĩa vụ của bên cho vay 40
2.3.2.2 Về quyền và nghĩa vụ của bên đi vay 42
2.4 Thời hạn và phương thức cho vay ĐTCK 44
2.4.1 Thời hạn cho vay ĐTCK 44
2.4.2 Phương thức cho vay ĐTCK 45
2.5 Hợp đồng tín dụng trong hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán 45
2.5.1 Nội dung của hợp đồng tí n dụng 45
2.5.2 Hiệu lực của hợp đồng tí n dụng 47
2.5.3 Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng 49
2.6 Quản lý nhà nước trong hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán 56
2.6.1 Vai trò của quản lý Nhà nước đối với hoạt động cho vay ĐTCK 56
2.6.2 Thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước 58
2.6.3 Các biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động cho vay ĐTCK 61
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN 68
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHO VAY ĐTCK CỦA NHTM Ở VIỆT
NAM
3.1. Cơ sở đưa ra giải pháp 68
3.2. Một số kiến nghị cụ thể 72
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 72
3.2.2 Tăng cường việc giám sát thị trường tài chính để tăng tính minh bạch, 79
ngăn ngừa nguy cơ xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CK : Chứng khoán
TTCK: Thị trường chứng khoán
ĐTCK: Đầu tư chứng khoán
UBCK: Ủy ban chứng khoán
NHNN: Ngân hàng nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
TCTD: Tổ chức tí n dụng
Quy chế 1627: Quy chế cho vay của tổ chức tí n dụng đối với khách hàng (Ban
hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngà y 31/12/2001 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước )
Chỉ thị 03: Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN ngày 28/5/2007 về kiểm soát quy mô,
chất lượng tín dụng và cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán.
Quyết đị nh 03: Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN ngày 1/2/2008 về việc cho
vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày 11 tháng 7 năm 1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Hai năm sau đó,
Thị trường chứng khoán Việt Nam mới chính thức thực hiện phiên giao dịch đầu
tiên vào ngày 28 tháng 7 năm 2000. Là một thị trường non trẻ và quy mô khá
nhỏ so với các nước nhưng qua mười năm hoạt động, thị trường chứng khoán
Việt Nam đã chứng tỏ vai trò là một kênh dẫn vốn rất quan trọng cho hoạt động
đầu tư, sản xuất. Tuy nhiên, bản thân những kênh thu hút vốn cho thị trường
chứng khoán, trong đó có hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của các ngân
hàng thương mại Việt Nam thì chưa phải đã thực sự được khai thông.
Thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán trong thời gian qua cho
thấy, nhu cầu vay và cho vay đầu tư chứng khoán ở Việt Nam là khá lớn. Đơn cử
như năm 2007, thời điểm trước khi hạn mức cho vay đầu tư chứng khoán được
áp dụng, hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán diễn ra rất sôi động và là động
lực quan trọng đối với sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam. Chỉ
số Vn Index đã đạt tới mức đỉnh cao nhất là 1.170,67 điểm vào ngày 12 tháng 3
năm 2007. Tháng 10 năm 2010, thời điểm mà thị trường chứng khoán được hỗ
trợ mạnh bởi các đòn bẩy tài chính, có những phiên thanh khoản đạt mức kỷ lục
lên tới hơn 9000 tỷ đồng/phiên trên cả hai sàn. Điều đó chứng tỏ, sự tăng trưởng
của thị trường chứng khoán Việt Nam phụ thuộc khá lớn vào các đòn bẩy tài
chính. Bản thân khả năng tài chính của các nhà đầu tư chứng khoán là hữu hạn,
vì vậy, họ có nhu cầu vay tiền của ngân hàng để đầu tư. Về phía ngân hàng thì
hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán cũng là một kênh có thể thu nhiều lợi
nhuận.Tuy nhiên, không phải lúc nào cung và cầu trong lĩnh vực cho vay đầu tư
chứng khoán cũng có thể gặp nhau một cách dễ dàng do gặp phải những rào cản
1
pháp luật. Ngày 28/5/2007, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban
hành Chỉ thị số 03/2007/CT-NHNN về kiểm soát quy mô, chất lượng tín dụng và
cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán. Chỉ thị này đã khống chế dư nợ vốn
cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư, kinh doanh chứng khoán ở mức
dưới 3% (ba phần trăm) tổng dư nợ tín dụng của tổ chức tín dụng. Quy định này
đã gặp rất nhiều phản ứng của các nhà đầu tư và cả các ngân hàng thương mại vì
nó đã ngăn chặn một nguồn tiền quan trọng cung cấp cho thị trường chứng
khoán. Ngày 01/02/2008, Thống đốc Ngân hàng nhà nước tiếp tục ban hành
Quyết định số 03/2008/QĐ-NHNN về việc cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá để
đầu tư và kinh doanh chứng khoán. Theo quyết định mới, tổng dư nợ cho vay,
chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư và kinh doanh chứng khoán không vượt quá
20% (hai mươi phần trăm) vốn điều lệ của tổ chức tín dụng. Quyết định này tiếp
tục bị coi là một rào cản khiên cưỡng của pháp luật đối với hoạt động cho vay
đầu tư chứng khoán.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã phản ứng tiêu cực với quy định ở
hai văn bản pháp luật kể trên. Chỉ số Vn Index mất điểm, thanh khoản trên cả hai
sàn đều sụt giảm. Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm
2008 - 2009, các quy định về hạn chế cho vay đầu tư chứng khoán được coi là
một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm của thị trường chứng khoán
Việt Nam trong một thời gian khá dài.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu pháp luật về hoạt động cho vay chứng
khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam nhằm phân tích những điểm hợp lý
cũng như những bất cập của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực này và đưa ra
những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện pháp luật là một vấn đề cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài này ở Việt Nam
Liên quan đến đề tài này, hiện có một số công trình nghiên cứu sau đây:
2
- TS. Lê Thị Thu Thủy (2002), Pháp luật về cầm cố tài sản vay vốn ngân
hàng, Tạp chí nghiên cứu lập pháp (số 11);
- TS. Lê Thị Thu Thủy (2004), Tài sản cầm cố vay vốn ngân hàng, Tạp
chí khoa học pháp lý (số 4);
- PGS.TS Trần Ngọc Thơ (2007), Chỉ thị 03 làm cho thị trường chứng
khoán ảm đạm - Báo điện tử laodong.com.vn ngày 5/7;
- Nguyễn Hà (2007), Khống chế cho vay chứng khoán – Cú sốc mang tên
hành chính, báo điện tử vietnamnet .vn ngày 12/9;
- ThS. Nguyễn Thị Anh Đào (2009), Sự tham gia của các ngân hàng
thương mại cổ phần vào thị trường chứng khoán Việt Nam – Đề tài cấp trườn g -
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Những công trình nghiên cứu, bài viết trên chỉ đề cập đến một vài khía
cạnh của hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán chứ không phải là những công
trình nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống. Hiện nay chưa có công trình
nghiên cứu pháp luật chuyên sâu và mang tính tổng thể về vấn đề này. Vì vậy,
việc nghiên cứu đề tài này một mặt đảm bảo tính cấp thiết, mặt khác đảm bảo
tính mới cho một luận văn khoa học.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt
động cho vay đầu tư chứng khoán của NHTM , có đối chiếu với pháp luật nước
ngoài; trên cơ sở đó , đề tài phân tích những bất cập , hạn chế của pháp luật hiện
hành và đề xuất phương hướng h oàn thiện pháp luật về hoạt động cho vay
ĐTCK của NHTM ở Việt Nam.
4. Mục đích nghiên cứu
3
Đề tài có mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn
pháp luật về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại ở
Việt Nam hiện nay và đưa ra những kiến giải khoa học về vấn đề này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là phép biện chứng duy vật. Phương
pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài bao gồm: phân tích, tổng hợp, so
sánh, thống kê, lịch sử, xã hội học v.v…
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 03 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cho vay đầu tư chứng khoán của
ngân hàng thương mại;
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động cho vay đầu tư chứng
khoán của ngân hàng thương mại ở Việt Nam;
- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại
ở Việt Nam.
4
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY
ĐẦU TƢ CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là hoạt động phổ biến trong đời sống thương mại. Một số tài liệu
có định nghĩa về khái niệm “cho vay” nhưng giữa các tài liệu, nội hàm của khái
niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa: “cho vay là sự chuyển vốn dưới
hình thái tiền tệ hay hiện vật của một tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là chủ nợ
hay người cho vay) cho một tổ chức hoặc cá nhân (gọi chung là con nợ hay
người đi vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả vốn
và phải trả thêm một khoản lãi gọi là lợi tức”. [25]
Định nghĩa này chưa hoàn toàn chính xác khi cho rằng hoạt động cho vay
luôn có yếu tố lãi suất. Trên thực tế , lãi suất chỉ áp dụng trong đa số chứ không
phải trong tất cả các trường hợp cho vay , ví dụ như trong hoạt động cho vay giữa
các cá nhân thì có thể không có lãi suất .
Theo từ điển Wikipedia, khái niệm “cho vay” được đồng nhất với khái
niệm “tín dụng”. Từ điển này định nghĩa: “Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc
một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay)
trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn
thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt động này làm phát sinh một
khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ”. [29]
Đây cũng là định nghĩa chưa chính xác, bởi lẽ nội hàm của khái niệm “cho
vay” hẹp hơn so với nội hàm của khái niệm “tín dụng”. Theo khoản 14 – Điều 4
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ
chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản
5
tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài
chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Như vậy, cho vay chỉ là một nghiệp vụ của hoạt động cấp tín dụng nên không thể
đồng nhất khái niệm “cho vay” với khái niệm “tín dụng”.
Khoản 16 – Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 định nghĩa: “ Cho vay
là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách
hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất
định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Với việc xác đị nh tài sản cho vay là “một khoản tiền” thì đị nh nghĩ a này
chỉ thích hợp với hoạt động cho vay của NHTM . Đối với hoạt động cho vay
ngoài ngân hàng thì ngoài việc cho vay tiền , các chủ thể còn có thể cho vay bằng
các tài sản khác.
Theo tôi, khái niệm “cho vay” có thể được định nghĩa như sau : Cho vay là
việc một bên (gọi là bên cho vay hay chủ nợ ) chuyển nhượng quyền sở hữu một
khoản tiền hoặc tài sản khác cho bên kia (gọi là bên đi vay hay con nợ) trên
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (nếu có).
Hoạt động cho vay của NHTM có những đặc thù nhất định . Để có thể đưa
ra khái niệm chí nh xác về hoạt động này , chúng ta cần xem xét các đặc điểm của
hoạt động cho vay của NHTM . Theo tôi, hoạt động này có những đặc điểm cơ
bản sau:
- Về chủ thể : chủ thể của hoạt động cho vay thường bao gồm hai bên là
bên cho vay (là các NHTM ) và bên đi vay (là các tổ chức , cá nhân có nhu cầu
vay vốn). Trong một số trường hợp, có thể có sự tham gia của bên thứ ba , ví dụ
như bên bảo lãnh .
- Về tài sản cho vay : tài sản cho vay là một khoản tiền , số tiền vay nhiều
hay í t là do thỏa thuận giữa NHTM với khách hàng căn cứ vào nhu cầu củ a các
6
bên, khả năng cho vay của NHTM , khả năng trả nợ của khách hàng và quy định
của pháp luật . Đây là sự khác biệt giữa hoạt động cho vay của NHTM so với các
hoạt động cho vay khác , đối với các hoạt động cho vay khác thì tài sản cho vay
không nhất thiết là một khoản tiền mà có thể là một tài sản khác .
- Về lãi suất : NHTM là một chủ thể kinh doanh hoạt động vì mục tiêu lợi
nhuận, vì thế, khi cho vay , NHTM luôn yêu cầu bên đi vay phải trả l ãi suất cho
khoản tiền vay . Mức lãi suất do các bên thỏa thuận căn cứ vào quy đị nh của pháp
luật tại thời điểm cho vay . Đây là một sự khác biệt nữa giữa hoạt động cho vay
của NHTM với các hoạt động cho vay ngoài ngân hàng , hoạt động cho vay ngoài
ngân hàng có thể có lãi suất hoặc không .
- Về biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng : để bảo đảm an toàn cho hoạt
động của mì nh , khi cho khách hàng vay tiền , các NHTM thường yêu cầu khách
hàng phả i thực hiện các biện pháp bảo đảm việc trả lại tiền vay . Trong đó , phổ
biến nhất là biện pháp cầm cố , thế chấp và bảo lãnh , ngoài ra , trong một số í t
trường hợp thì biện pháp tí n chấp cũng có thể được áp dụng . Trong khi đó , đối
với các hoạt động cho vay ngoài ngân hàng thì không nhất thiết phải có các biện
pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng .
Với những đặc điểm đã phân tí ch ở trên , có thể đưa ra khái niệm về hoạt
động cho vay của NHT M như sau: Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động
mà trong đó, bên cho vay là các NHTM chuyển nhượng quyền sở hữu một khoản
tiền cho bên đi vay trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
1.2 Phân loại cho vay của NHTM
Hoạt động cho vay của NHTM khá đa dạng. Việc phân loại cho vay của
NHTM có thể căn cứ vào các tiêu chí như phương thức, mục đích, thời hạn cho
vay… Cụ thể như sau:
7
- Căn cứ vào phương thức cho vay
Theo Quy chế cho vay của tổ chức tí n dụng đối với khách hà ng (Ban hành
theo Quyết đị nh số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước ), tổ chức tín dụng thỏa thuận với khách hàng vay việc áp
dụng các phương thức cho vay , bao gồm:
+ Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực
hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định
và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định.
+ Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án
đầu tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ
chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
+ Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo
nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm
bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín
dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức
tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn
mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy
8
rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho
vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân
theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát
hành và sử dụng thẻ tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán.
+ Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm.
- Căn cứ vào thời hạn cho vay:
Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận
trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng . Thời hạn cho vay
được chia làm nhiều mức :
+ Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng;
+ Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
đến 60 tháng;
+ Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở
lên.
- Căn cứ vào mục đí ch sử dụng vốn vay
Mặc dù mục đí ch sử dụng vốn vay rất đa dạng nhưng có thể chia làm hai
loại cơ bản :
+ Vay tiền để kinh doanh : Chủ thể vay vốn là các doanh nghiệp , nhà đầu
tư, họ vay tiền để phục vụ cho hoạt động kinh doanh . Đây là một hành vi thương
mại vì mục tiêu lợi nhuận . Để có thể vay tiền của NHTM , họ phải đưa ra phương
9
án kinh doanh cụ thể để các ngân hàng thẩm định . Ngân hàng chỉ cho vay nếu họ
thấy rằng , phương án kinh doanh của khách hàng là khả thi . Trường hợp ngược
lại, ngân hàng sẽ từ chối cho vay .
+ Vay tiền để tiêu dùng : Chủ thể vay tiêu dùng chủ yếu là các hộ gia đình
và các cá nhân . Họ vay tiền không vì mục đích kinh doanh mà vì mục đích tiêu
dùng như mua nhà ở , mua xe ô tô, đi du học…
Trong môi trường cạnh tranh của nền kinh tế thị trường , để thu hút khách
hàng, các ngân hàng luôn nghiên cứu để đưa ra các sản phẩm tín dụng cụ thể phù
hợp với từng đối tượng khách hàng . Việc kết hợp các phương thức , mục đích ,
thời hạn vay tiền ... bằng nhiều cách khác nhau sẽ cho ra đời những sản phẩm tín
dụng khác nhau.
1.3 Khái niệm , đặc điểm của hoạt động cho vay đầu tƣ chứng khoán
của NHTM
1.3.1 Khái niệm về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của NHTM
Hiện nay chưa có một định nghĩa riêng về hoạt động cho vay ĐTCK của
NHTM. Căn cứ vào khái niệm “cho vay” và các đặc điểm của hoạt động cho vay
ĐTCK, có thể đưa ra định nghĩa về hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM như
sau:
Cho vay đầu tư chứng khoán là một hoạt động tín dụng , theo đó , các
NHTM chuyển nhượng quyền sở hữu một khoản tiền cho các nhà ĐTCK với mục
đí ch đầu tư chứng khoán trong một thời hạn nhất định trên nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi.
Để tránh nhầm lẫn, cần phân biệt hoạt động cho vay ĐTCK của NHTM
với nghiệp vụ repo CK, cho vay CK và giao dịch mua CK ký quỹ của các công
ty CK.
10
- Repo CK (repurchase order) là giao dịch mua hoặc bán lại chứng khoán
có kỳ hạn được sử dụng trên thị trường tài chính. Đây là loại hình giao dịch mà
nhà đầu tư có thể mua và bán CK của chính mình trong một khoảng thời gian
thỏa thuận nhất định với công ty CK. Hiểu một cách đơn giản, giao dịch repo là
việc nhà đầu tư đi vay tiền và dùng CK để thế chấp.
Việc Repo CK được thực hiện như sau: Nếu nhà đầu tư có cổ phiếu chưa
được niêm yết trên sàn và đang cần tiền thì có thể mang đến công ty CK để repo.
Cổ phiếu mang đi repo phải có tên trong danh sách cổ phiếu mà công ty CK chấp
nhận repo. Nếu cổ phiếu của nhà đầu tư được chấp nhận thì công ty sẽ làm một
hợp đồng có thời hạn 3 tháng, 6 tháng, hoặc một năm, đồng thời nhà đầu tư phải
làm giấy chuyển nhượng cổ phiếu này sang tên công ty CK theo đúng thời hạn
ghi trên hợp đồng. Điều này có nghĩa là nhà đầu tư sẽ bán số cổ phiếu cho công
ty CK trong thời hạn đó. Khi hết hạn, nhà đầu tư mang tiền đến thanh lý hợp
đồng, công ty CK sẽ làm giấy chuyển nhượng sang tên lại cho nhà đầu tư. Nhà
đầu tư phải trả lại số tiền bằng giá công ty mua ban đầu cộng với lãi suất cho vay
tùy theo thời hạn repo. [30]
- Cho vay CK của CTCK - hay còn gọi là bán khống (short sales) - là một
nghiệp vụ do các công ty CK thực hiện . Theo đó, nhà đầu tư vay CK của công
ty CK để bán. Sau một thời gian, khách hàng sẽ phải mua loại CK đã vay trên
TTCK để trả lại cho công ty CK.
Khi thực hiện giao dịch này, nhà đầu tư mong đợi giá sẽ giảm trong tương
lai, khi đó họ sẽ mua được chứng khoán với giá thấp hơn và trả cho công ty CK.
Khoản chênh lệch là lợi nhuận của nhà đầu tư, song nếu CK tăng giá thì sẽ bị lỗ.
Bán khống có thể gây ra tình trạng giảm giá CK trong ngắn hạn và tăng giá trong
dài hạn. Vì khi đến hạn, nhà đầu tư phải mua CK để hoàn trả số chứng khoán đã
bán khống trước đó. [27]
11
Trên thế giới , việc bán khống chứng khoán được thực hiện khá phổ biến ở
các nước có thị trường chứng khoán phát triển . Ở Việt Nam hiện nay , các công
ty chứng khoán chưa được phép thực hiện nghiệp vụ này do chưa có văn bản quy
đị nh cụ thể .
- Mua ký quỹ (margin purchase ) là một nghiệp vụ của giao dịch ký quỹ
(margin trading ). Theo đó , khi mua chứng khoán , nhà đầu tư chỉ cần có một
phần tiền trong tổng giá trị số chứng khoán đặt mua, phần còn lại do công ty
chứng khoán cho vay. Sau khi giao dịch được thực hiện, số chứng khoán đã mua
được công ty chứng khoán giữ lại làm tài sản thế chấp cho khoản vay. Khi nhà
đầu tư có nhu cầu bán chứng khoán , công ty chứng khoán sẽ thực hiện lệnh bán
chứng khoán và thu về phần vốn đã cho nhà đầu tư vay gồm cả gốc lẫn lãi. Nhà
đầu tư tiến hành giao dịch mua ký quỹ trong trường hợp họ kỳ vọng giá chứng
khoán sẽ tăng lên trong tương lai . [26]
Ở Việt Nam , các công ty CK đã cho nhà đầu tư CK mua ký quỹ t ừ khá
lâu, cho dù nhà nước chưa có văn bản quy đị nh cụ thể về nghiệp vụ này . Ngày 1
tháng 6 năm 2011, Bộ tài chí nh đã ban hành Thông tư số 74/2011/TT-BTC
hướng dẫn về giao dị ch chứng khoán , trong đó có quy đị nh : “Công ty chứng
khoán được thực hiện giao dịch ký quỹ sau khi đã báo cáo với UBCKNN”.
Nhưng hiện tại , chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ này . Ủy ban
Chứng khoán đã công bố dự thảo quy chế hướng dẫn thực hiện giao dịch mua ký
quỹ chứng khoán và sẽ chính thức ban hành quy chế này trong một tương lai
không xa.
Sự khác biệt giữa hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của ngân hàng
thương mại với các hoạt động Repo chứng khoán , cho vay chứng khoán và giao
dịch mua ký qu ỹ chứng khoán thể hiện ở những điểm cơ bản sau đây :
12
Tiêu chí Cho vay
Repo CK Cho vay CK Mua ký quỹ
so sánh ĐTCK
Do các công
Do các NHTM Do các công ty Do các công ty
1. Chủ thể ty CK thực
thực hiện CK thực hiện CK thực hiệ n
hiện
Sử dụng tiền
2. Mục đích bán CK để đầu Để đầu tư
Để đầu tư CK Để đầu tư CK
tư CK hoặc vì CK
mục đích khác
Chưa có quy
Hiện tại, các
đị nh (theo dự
NHTM chỉ cho
Ngắn hạn (tối Chưa có quy kiến của
3. Thời hạn vay ngắn hạn
đa là 1 năm) đị nh UBCK thì thời
(tối đa là 1
hạn tối đa là 6
năm)
tháng)
Các loại chứng
Các loại CK Các loại CK
4. Tài sản khoán, giấy tờ Các loại CK đã
chưa niêm yết đã niêm yết
bảo đảm có giá hoặc các niêm yết
tài sản khác
Trả nợ vay
Trả nợ vay Mua lại cổ Trả nợ vay
5. Nghĩa vụ (chứng
(tiền vay) phiếu (tiền vay)
khoán)
Bảng so sánh trên cho thấy , mặc dù có nhiều nét tương đồng , nhưng hoạt
động cho vay ĐTCK của NHTM cũng có nhiều đặc đi ểm khác biệt , giúp phân
13
biệt nó với các hoạt động repo CK , cho vay CK và mua ký quỹ của các công ty
CK.
1.3.2 Những đặc điểm của hoạt động cho vay ĐTCK
Ở Việt Nam, cho vay ĐTCK là một hoạt động tín dụng bình thường của
các NHTM. Hoạt động này có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng : Đối tượng của hợp đồng cho vay
ĐTCK là một khoản tiền . Số tiền vay phụ thuộc vào số lượng CK , giá trị CK mà
nhà đầu tư muốn mua trên TTCK .
- Thứ hai, về mục đích vay tiền: Khi đưa ra một sản phẩm tín dụng, các
NHTM luôn hướng tới một nhóm đối tượng khách hàng nào đó và gắn với mục
đích nhất định trong việc sử dụng tiền vay. Đối với hoạt động cho vay ĐTCK,
nhà đầu tư chỉ được sử dụng tiền vay để mua CK. Tất nhiên, các nhà đầu tư cũng
có thể cầm cố CK để vay tiền của NHTM và sử dụng vào các mục đích khác,
nhưng hoạt động đó không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này.
- Thứ ba, về tài sản bảo đảm tiền vay: Để đảm bảo an toàn cho hoạt động
của mình, trong đa số trường hợp, các NHTM đều yêu cầu khách hàng khi vay
tiền thì phải có tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Cho vay ĐTCK là hoạt
động chứa đựng rủi ro cao nên tất cả các NHTM đều yêu cầu khách hàng phải
có tài sản bảo đảm tiền vay. Tài sản bảo đảm tiền vay có thể là các loại CK, giấy
tờ có giá hoặc các tài sản khác.
- Thứ tư, về lãi suất: Cho vay ĐTCK luôn luôn có lãi suất. Đây là một
hành vi thương mại, người đi vay và người cho vay đều vì mục tiêu lợi nhuận, vì
thế, khi vay tiền đầu tư CK, các nhà đầu tư phải trả một khoản lãi suất cho ngân
hàng. Trong hầu hết các trường hợp, các NHTM không dành bất kỳ một sự ưu
đãi đáng kể nào về lãi suất cho các nhà đầu tư CK. Thậm chí, lãi suất cho vay
ĐTCK còn cao hơn so với mặt bằng lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác
14
- Thứ năm, về hạn mức cho vay: Do giá cả của các loại CK, đặc biệt là các
cổ phiếu công ty và chứng chỉ quỹ thường xuyên biến động, có thể giảm giá khá
nhanh, khi tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ là các loại CK thì để hạn chế rủi ro,
các NHTM thường chỉ cho vay thấp hơn thị giá của các loại CK được mang ra
cầm cố. Mỗi NHTM có một quy định về giới hạn cho vay tối đa khác nhau. Vào
những năm 2006 - 2007 - thời kỳ bùng nổ của TTCK và cũng là thời kì hoàng
kim của hoạt động cho vay ĐTCK - có NHTM cho vay tới 60% thị giá của loại
CK thế chấp. Trong thời điểm hiện tại , tỷ lệ này chỉ còn khoảng 30% đến 40%.
- Thứ sáu, về thời hạn cho vay: Cũng vì lý do TTCK thường biến động,
giá các loại CK có thể thay đổi trong một thời gian ngắn, vì vậy, các NHTM
không cho vay trung , dài hạn đối với các khoản vay ĐTCK . Hiện nay , các
NHTM thường cho vay với thời hạn tối đa là 12 tháng. Thời hạn cho vay như
vậy là tương đối ngắn , chỉ thích hợp với các nhà đầu tư thích “lướt sóng” , theo
đó, họ chỉ nắm giữ CK trong một thời gian ngắn rồi sẽ bán đi khi đạt được lợi
nhuận kỳ vọng . Đối với những nhà đầu tư dài hạn , việc đi vay tiền của NHTM
để đầu tư CK không phải là một giải pháp tối ưu .
1.4 Vai trò của hoạt động cho vay ĐTCK
Cho vay ĐTCK là một nghiệp vụ được áp dụng phổ biến ở hầu hết các
nước. Ở những quốc gia có thị trường tài chính phát triển, đây là nghiệp vụ
không thể thiếu. Hoạt động này đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển
của TTCK, tuy nhiên, hoạt động này cũng chứa đựng nhiều rủi ro mà nếu không
không có các biện pháp dự phòng thì nó có thể ảnh hưởng tiêu cực tới TTCK và
nền kinh tế đất nước. Vai trò của hoạt động cho vay ĐTCK thể hiện trên một số
phương diện sau:
- Đối với TTCK: Việc NHTM cho các nhà đầu tư vay tiền để ĐTCK đã
góp phần tăng tính thanh khoản cho thị trường và giúp thị trường tăng trưởng.
15
Hoạt động cho vay ĐTCK đặc biệt quan trọng đối với thị trường sơ cấp. Khi các
doanh nghiệp chào bán chứng khoán lần đầu ra công chúng (IPO) hoặc phát
hành thêm chứng khoán để thu hút vốn thì chính các nhà đầu tư CK là người
mua các loại chứng khoán đó. Trong khi vốn tự có của các nhà đầu tư là hữu
hạn, nếu không được hỗ trợ bởi nguồn vốn vay từ các NHTM, các nhà đầu tư
khó có khả năng hấp thụ được hết các loại CK do doanh nghiệp phát hành. Khi
đó, việc phát hành CK của các doanh nghiệp có nguy cơ bị thất bại. Thực tế
TTCK Việt Nam cho thấy, vào những thời điểm thị trường được hỗ trợ bởi các
đòn bẩy tài chính (chủ yếu là cho vay đầu tư chứng khoán) thì thị trường tăng
trưởng mạnh và ngược lại, mỗi khi NHNN đưa ra các quy định hạn chế cho vay
ĐTCK thì đều làm thị trường mất điểm, thanh khoản giảm sút. Vì thế, ở một khía
cạnh nhất định, có thể nói rằng hoạt động cho vay ĐTCK có vai trò kích thích
TTCK phát triển.
- Đối với các NHTM : Là một chủ thể kinh doanh , các NHTM sẵn sàng
“mở hầu bao” cho khách hàng vay tiền nếu như họ thấy rằng việc cho vay là
tương đối an toàn và mang lại lợi nhuận . Hoạt động cho vay ĐTCK có thể mang
lại cho các NHTM một khoản lợi nhuận đáng kể. Trên thực tế, lãi suất cho vay
ĐTCK thường cao hơn so với lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác nên các
NHTM cũng mong muốn được thực hiện nghiệp vụ này.
- Đối với các nhà đầu tư: Khi tham gia vào TTCK, họ kỳ vọng sẽ thu được
lợi nhuận. Một số nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư cá nhân, có nhiều hạn chế về
năng lực tài chính. Với mong muốn tối đa hóa lợi nhuận, các nhà đầu tư sẵn sàng
sử dụng các đòn bẩy tài chính, trong đó có nghiệp vụ repo, mua ký quỹ, bán
khống chứng khoán và phổ biến nhất là đi vay tiền để ĐTCK. Vào những năm
2006 – 2007, rất nhiều nhà đầu tư vay tiền để ĐTCK và thu được nhiều lợi
nhuận. Mặc dù sau đó có một số nhà đầu tư bị phá sản do TTCK suy giảm trong
16