Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở việt nam thực trạng và giải pháp

  • 98 trang
  • file .pdf
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CCT : Chi cục thuế
GTGT : Giá trị gia tăng
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) lần đầu tiên được Quốc hội khóa IX
thông qua ngày 10/5/1997 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1999. Việc
quy định thuế GTGT thay cho thuế doanh thu là một bước cải cách quan trọng
trong hệ thống chính sách thuế của Việt Nam. Tính đến nay, Luật đã trải qua
nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Gần đây nhất, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII,
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 03/6/2008 đã thông qua Luật
thuế GTGT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009. Kể từ khi ban hành cho
đến nay, thuế GTGT luôn thu hút sự quan tâm đặc biệt của xã hội, của các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức, cá nhân.
Thuế GTGT là một sắc thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hóa, dịch vụ. Điểm nổi bật của thuế GTGT là khắc phục được nhược điểm thu
trùng lắp, chồng chéo qua nhiều khâu của thuế doanh thu. Khấu trừ là một đặc
trưng cơ bản của thuế GTGT, qua cơ chế này các doanh nghiệp cũng thường
lợi dụng để thực hiện những hành vi gian lận để chiếm đoạt tiền của Nhà
nước thông qua việc khấu trừ và hoàn thuế.
Tại Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ có
quy định một giải pháp trong lĩnh vực hoàn thuế GTGT là: "tạm hoàn 90% số
thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa xuất khẩu trong trường hợp
doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoàn tiếp 10%
khi có chứng từ thanh toán" [12].
Những chủ trương này của Nhà nước về hoàn thuế GTGT nhằm tác
động và bảo đảm tính công bằng, bình đẳng cho các chủ thể nộp thuế; kích
thích hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ; kích thích hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế đất nước nói chung. Hiệu
1
quả tích cực từ thuế GTGT cho thấy: thu ngân sách nhà nước tăng nhiều so
với thuế doanh thu; hoạt động sản xuất, kinh doanh nội địa đã ngày càng phát
triển mạnh mẽ, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ khi xuất khẩu.
Hoàn thuế GTGT là một chế định hết sức tiến bộ của Luật thuế
GTGT. Tuy nhiên thời gian qua, lợi dụng những chủ trương, chính sách
khuyến khích của Nhà nước, hàng loạt các hành vi vi phạm như: gian lận
trong lập hồ sơ hoàn thuế, mua bán hóa đơn, chứng từ, xuất khẩu khống hàng
hóa… nhằm chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT diễn ra ngày càng tinh vi, phức
tạp, không ngừng gia tăng về tính chất và mức độ vi phạm của các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế và tổ chức, cá nhân đối với các quy định về hoàn
thuế GTGT của Nhà nước. Những vi phạm này, đã hạn chế ưu điểm tích cực
từ chính sách hoàn thuế GTGT, gây thiệt hại không nhỏ đến việc thu ngân
sách nhà nước từ thuế. Đồng thời, làm giảm niềm tin của các tổ chức, cá
nhân, doanh nghiệp làm ăn chân chính đối với chính sách thuế của nước ta.
Thực tiễn này đòi hỏi các nhà luật học cần phải tiếp tục nghiên cứu,
hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hoàn thuế GTGT để chính sách này công
bằng, bình đẳng hơn cho xã hội, cho các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế,
tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước.
Chính những lý do kể trên, đã giúp học viên mạnh dạn chọn đề tài:
"Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam - Thực trạng và giải
pháp" làm luận văn thạc sĩ.
Với đề tài này, học viên mong muốn được tiếp tục nghiên cứu pháp
luật về hoàn thuế GTGT, qua đó phân tích, đánh giá thực trạng nhằm tìm ra
những hạn chế, bất cập và đưa ra các giải pháp về hoàn thuế GTGT ở Việt
Nam, góp phần làm rõ chính sách thuế GTGT của Chính phủ.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, đã có nhiều đề tài tập trung tìm hiểu và nghiên cứu các vấn
đề xung quanh các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT. Với tư cách là cơ
2
quan quản lý nhà nước về thuế, Bộ Tài chính - Tổng Cục thuế cũng đã tiến
hành những nghiên cứu các quy định của các nước về hoàn thuế GTGT trước
khi áp dụng chính sách hoàn thuế GTGT ở nước ta, cụ thể nghiên cứu về:
Thực tiễn tại Pháp khi áp dụng Chỉ thị 2008/9/EC về các phương thức
hoàn thuế GTGT cho các công ty thành lập tại một nước thành viên. Các quy
định chính đã được quy định ở Đạo Luật tài chính 2010 của Pháp (Mục 102),
quy định về nguyên tắc nộp đơn và thủ tục hoàn thuế GTGT.
Báo cáo khảo sát về hoàn thuế GTGT của Đức khi quy định về thủ tục
hoàn thuế GTGT tại Đức áp dụng cho các doanh nhân Đức trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh.
Thực tiễn áp dụng quy chế hoàn lại tiền thuế GTGT cho hàng hóa và
dịch vụ đủ tiêu chuẩn hoàn thuế GTGT đối với các doanh nghiệp, tổ chức,
hay hiệp hội trong hoạt động kinh doanh tại Đài Loan…
Đồng thời, nhiều hội thảo của Cục Thuế các tỉnh, thành phố ở Việt
Nam đã được tổ chức nhằm tháo gỡ và giải quyết các vướng mắc trong thực
tiễn áp dụng hoàn thuế GTGT ở từng địa phương.
Trong giới luật học, nhiều tác giả lựa chọn pháp luật về hoàn thuế
GTGT là đề tài nghiên cứu ở góc độ lý luận, cũng như nhiều bài viết mang
tính nghiên cứu trao đổi của các chuyên gia pháp lý đăng trên các tạp chí
chuyên ngành, cụ thể: Luận văn thạc sỹ luật học năm 2006 của Bùi Công
Quang về đề tài "Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá
trị gia tăng ở Việt Nam"; Bài viết của Nguyễn Văn Tuyến năm 2008 tại Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp điện tử về "Một số ý kiến trao đổi, bình luận về dự
án luật thuế thu nhập doanh nghiệp và dự án luật thuế giá trị gia tăng"; Bài
viết của Lê Thị Thu Thủy năm 2008 tại Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
về "Luật thuế giá trị gia tăng nên sửa đổi theo hướng nào" v.v…
Luận văn "Pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam - Thực
trạng và giải pháp" sẽ là một trong những đề tài tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu
3
chuyên sâu về thực trạng vấn đề hoàn thuế GTGT ở Việt Nam và pháp luật về
vấn đề này.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về hoàn thuế GTGT
ở Việt Nam, kết hợp đối chiếu với các quy định pháp luật về hoàn thuế GTGT
ở một số nước trên thế giới. Luận văn sẽ đánh giá thực trạng và chỉ ra những
hạn chế, bất cập hiện hành trong pháp luật về hoàn thuế GTGT, trên cơ sở đó
đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về hoàn thuế
GTGT ở Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu
Mặc dù các quy phạm của Luật thuế GTGT nói chung và hoàn thuế
GTGT nói riêng gắn chặt với các phạm trù kinh tế, nhưng với góc độ của một
luận văn thạc sĩ luật học, học viên chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định pháp
luật, các quan điểm, chính sách pháp luật có liên quan đến hoàn thuế GTGT ở
Việt Nam.
Các khái niệm xuất hiện trong luận văn tốt nghiệp luật học này được
dừng ở mức độ sử dụng kết quả nghiên cứu của các học giả và các nhà kinh tế
học, để phục vụ tốt hơn cho việc tiếp cận các quy định pháp luật hiện hành về
hoàn thuế GTGT.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phân tích, so sánh,
tổng hợp, đánh giá, khảo sát, thống kê… để làm rõ các nội dung nghiên cứu
trong đề tài.
5. Những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu các vấn đề liên quan đến
pháp luật hoàn thuế GTGT ở Việt Nam. Luận văn phân tích và làm sáng tỏ
4
thực trạng pháp luật về hoàn thuế GTGT, trên cơ sở đó nêu ra những điểm
hạn chế, bất cập hiện nay trong thực tiễn áp dụng pháp luật về hoàn thuế
GTGT và đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về
vấn đề này ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng và
pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng
ở Việt Nam.
5
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHẤU TRỪ,
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ PHÁP LUẬT
VỀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, KHẤU TRỪ
VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thuế giá trị gia tăng
* Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Thuật ngữ "Thuế giá trị gia tăng" tiếng Pháp là "Tax sur la Valuer
Ajourtée" (viết tắt là TVA), tiếng Anh là :Value Added Tax: (viết tắt là GTGT).
Thuế GTGT lần đầu tiên được đề xuất áp dụng vào năm 1918 bởi một
nhà kinh tế người Đức Carld Rilordrich Sienvens. Tuy nhiên, nước đầu tiên trên
thế giới áp dụng thuế GTGT là nước Pháp, luật thuế GTGT của nước này được
ban hành ngày 10/4/1954 và Nghị định hướng dẫn thi hành ngày 30/4/1955.
Việc áp dụng thuế GTGT ở Pháp là kết quả của quá trình cải tổ hệ thống thuế
mà trọng tâm là việc tăng cường và hoàn thiện các loại thuế gián thu.
Ngày 11/4/1967, Hội đồng các Bộ trưởng sáu nước thành viên ban đầu
của Cộng đồng kinh tế Châu Âu đã có chỉ thị về việc hài hòa cân đối hệ thống
thuế doanh thu của các nước thành viên và khuyến nghị các nước thành viên
thống nhất thực hiện thuế GTGT trước ngày 01/01/1970.
Năm 1968, nước Đức chính thức áp dụng thuế GTGT để thay thế thuế
doanh thu cũ nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi là thuế doanh thu. Năm 1969, Hà
Lan đưa luật thuế GTGT vào áp dụng.
Thái Lan áp dụng thuế GTGT kể từ ngày 01/01/1992. Thuế kinh
doanh trước đây áp dụng ở Thái Lan bị coi là phức tạp và phiền hà, chủ yếu
6
tác động trong lĩnh vực sản xuất. Trong một số trường hợp, còn làm tăng giá
thành hàng hóa lên đến xấp xỉ 35% đã làm hạn chế sức tiêu thụ và xuất khẩu
của hàng hóa. Sau khi áp dụng thuế GTGT thì hàng hóa Thái Lan đã có
những lợi thế cạnh tranh rất lớn so với hàng hóa các nước khác trong khu vực.
Nhìn chung, các quốc gia thuộc khối Liên minh châu Âu, châu Phi,
châu Mỹ La tinh và một số quốc gia châu Á đã áp dụng thuế GTGT. Tính đến
nay, đã có khoảng hơn 130 quốc gia áp dụng thuế GTGT, các quốc gia khác
cũng đang trong thời kỳ nghiên cứu loại thuế này.
Đặc biệt, Mỹ là một nước có nền kinh tế phát triển nhưng lại không áp
dụng thuế GTGT. Theo cấu trúc pháp luật của Mỹ, ngoài hệ thống pháp luật
thuế chung cho toàn Liên bang thì mỗi Bang lại có hệ thống pháp luật thuế
riêng của mình. Nếu đặt ra thuế GTGT trên toàn Liên bang thì phải cộng thêm
thuế GTGT toàn Liên bang vào phần thuế thu ở từng bang, đây là vấn đề rất
phức tạp và khó thực hiện. Thuế doanh thu ở Mỹ chỉ đánh trên khâu bán lẻ,
do đó về nguyên tắc không có việc đánh thuế trùng lặp. Mỹ hiện đã áp dụng
công nghệ tin học tiên tiến vào phục vụ công tác quản lý thuế. Mặt khác,
người dân Mỹ lại rất tự giác thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ trong mua
bán nên cơ quan thuế dễ dàng đối chiếu chính xác, thuận tiện giữa doanh thu
và chi phí của các đối tượng nộp thuế. Vì vậy, không có sự thu thuế trùng lặp
tại nước Mỹ. Trong quá trình quản lý thuế, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về
thuế GTGT một cách quy mô, nghiêm túc nhưng đến nay, Chính phủ Mỹ vẫn
quyết định không áp dụng thuế GTGT tại nước Mỹ.
Trước khi thuế GTGT xuất hiện thì thuế doanh thu được các quốc gia
trên thế giới áp dụng nhằm điều tiết tiêu dùng xã hội. Căn cứ để tính thuế
doanh thu là doanh thu chịu thuế. Tuy nhiên, trong doanh thu chịu thuế đã bao
gồm cả thuế doanh thu ở khâu sản xuất, kinh doanh trước đó nên thuế doanh
thu ở các khâu trước đã trở thành chi phí sản xuất, kinh doanh ở khâu sau.
Quy định này, dẫn đến tình trạng thuế đánh trùng trên thuế, làm tăng giá vốn
7
hàng hóa, dịch vụ, hàng hóa nội địa đã khiến người tiêu dùng phải chịu với
mức giá cao đồng thời giảm tính cạnh tranh của hàng hóa, không kích thích
được hàng hóa xuất khẩu. Nhược điểm trùng lặp thuế không còn phù hợp đối
với nền kinh tế hiện đại. Thuế GTGT ra đời là sự thay thế hợp lý, mang tính
tất yếu khách quan.
Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT lần đầu tiên được Quốc hội khóa IX
thông qua ngày 10/5/1997 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1999. Tính đến
nay, Luật đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Gần đây nhất, tại kỳ họp thứ 3
Quốc hội khóa XII, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 03/6/2008
đã thông qua Luật thuế GTGT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009.
Tại Điều 2, Luật thuế GTGT của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số
13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 quy định: "Thuế giá trị gia tăng là thuế tính
trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng" [29].
Như vậy, thuế GTGT được coi là một loại thuế tiêu dùng và là thuế
gián thu nhằm đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nhưng được thu
ở khâu bán hàng. Nói một cách khác, thuế GTGT là sắc thuế áp dụng đối với
giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ ở tất cả các khâu từ sản xuất, lưu
thông đến tiêu dùng. Đặc biệt, thuế GTGT đánh vào khâu cuối cùng (khâu
tiêu dùng) sẽ bằng tổng giá trị các lần đánh thuế của các khâu trước đó.
Dưới góc độ pháp lý, thuế GTGT là nghĩa vụ tài chính theo đó người
chịu thuế phải nộp một phần thu nhập của mình cho nhà nước, thông qua
hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Trong thực tế, phần đông các chủ thể có
nghĩa vụ nộp thuế GTGT không tự nguyện nộp thuế nếu như nhà nước không
ràng buộc họ bằng các nghĩa vụ pháp lý bắt buộc. Vì vậy, những nội dung cơ
bản về thuế GTGT đã được quy định trong Luật thuế GTGT năm 2008,
gồm 4 chương, 12 điều.
8
* Đặc điểm thuế GTGT
Đặc điểm của thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào giá trị
tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trên bình diện rộng. Tính gián thu của thuế
GTGT được thể hiện qua đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế là hai chủ
thể hoàn toàn khác nhau. Mặt khác, sắc thuế này cũng mang bản chất liên
hoàn và có tính trung lập kinh tế cao, mang những đặc tính cơ bản, đặc trưng
của một sắc thuế khoa học, tiên tiến như: tính lũy thoái, điều tiết hành vi tiêu
dùng hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, đặc điểm chính, chủ yếu của thuế GTGT
là: Thuế GTGT là sắc thuế gián thu đánh trên bình diện rộng, thuế GTGT gắn
liền với chế độ sổ sách kế toán và hóa đơn chứng từ.
- Thuế GTGT là sắc thuế gián thu đánh trên bình diện rộng
Thuế GTGT được coi là một sắc thuế gián thu tiêu biểu. Thuế GTGT
không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một
cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa, dịch vụ. Tính gián thu thể hiện dưới
góc độ pháp lý là quan hệ tay ba giữa nhà nước - người sản xuất, kinh doanh
(nộp thuế) - người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ (chịu thuế).
Về nguyên tắc, người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế
nên việc đánh thuế GTGT vào khâu tiêu dùng là đủ. Hiểu một cách đơn giản
nhất thì quan hệ nghĩa vụ thuế GTGT là quan hệ giữa người có quyền (Nhà
nước) với người có nghĩa vụ (người tiêu dùng). Thế nhưng, trong quan hệ
thuế GTGT, ngoài hai chủ thể này còn xuất hiện một loại chủ thể đặc biệt là
(đối tượng nộp thuế). Tuy về lý thuyết không có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà
nước, nhưng đối tượng nộp thuế lại giữ vị trí hết sức quan trọng, nhiều khi có
tính quyết định trong quan hệ thuế GTGT. Đối tượng nộp thuế thường thay
mặt nhà nước thu hộ thuế GTGT của người tiêu dùng. Trong thực tế, chúng ta
nhận thấy tần suất xuất hiện của loại chủ thể - đối tượng nộp thuế - thường
xuyên hơn và xuất hiện nhiều hơn loại chủ thể - Người tiêu dùng.
9
Theo nguyên lý của thuế gián thu, pháp luật thuế GTGT cần phải xác
định rõ người chịu thuế để đảm bảo tính điều tiết tiêu dùng của thuế GTGT.
Nếu phải chờ đến khâu tiêu dùng cuối cùng mới thu thuế sẽ làm chậm quá
trình tập trung nguồn lực xã hội cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến chi
tiêu của nhà nước, hơn nữa, việc phân biệt hành vi chuyển giao tài sản hoặc
cung cấp dịch vụ là phải tính thuế GTGT. Cách thức quy định này được áp
dụng phổ biến ở nhiều nước nhằm san sẻ một phần trách nhiệm thu thuế cho
cơ sở kinh doanh.
Trường hợp xác định là hành vi tiêu dùng trung gian thì số thuế sẽ
được tự động chuyển vào giá bán hàng cho người mua ở giai đoạn sau. Việc
đánh thuế vào hành vi sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
không những giúp nhà nước huy động kịp thời nguồn thu cho ngân sách mà
còn nâng cao trách nhiệm của người nộp thuế trong việc thực hiện nghiêm
chỉnh chế độ sổ sách kế toán, hóa đơn, chứng từ.
Chủ thể thứ ba - đối tượng nộp thuế - thay mặt nhà nước trực tiếp tính
thuế và thu thuế GTGT khi bán hàng. Người mua hàng thanh toán tiền hàng
và thuế GTGT theo hóa đơn GTGT do người bán hàng lập. Sau đó, người nộp
thuế có nghĩa vụ nộp lại số thuế đã thu được từ người chịu thuế cho nhà nước.
Để nâng cao tính hiệu quả trong quản lý hoạt động thu nộp thuế, hạn chế hành
vi gian lận thuế GTGT. Nhà nước coi người nộp thuế là đối tượng quản lý
thuế và quy định các điều kiện đối với người nộp thuế như: đăng ký kinh
doanh, đăng ký mã số thuế, đảm bảo các cơ sở vật chất, nhân sự…
Theo quy định của pháp luật thuế GTGT ở nước ta hiện nay, đối
tượng nộp thuế rất rộng, bao gồm: tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu
thuế GTGT. Với những đối tượng buôn bán nhỏ lẻ thì việc áp dụng thuế
GTGT gặp nhiều khó khăn, bởi thực tế họ không đáp ứng được đòi hỏi khắt
khe về sổ sách, hóa đơn, chứng từ. Hơn nữa, với đối tượng này, phương pháp
10
tính thuế được áp dụng là phương pháp tính trực tiếp trên GTGT đã dẫn đến
tình trạng bất bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT.
Người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng hàng hóa, dịch
vụ thuộc diện chịu thuế GTGT. Hành vi tiêu dùng cuối cùng đã đưa hàng hóa,
dịch vụ thoát khỏi quá trình lưu thông trên thị trường. Người tiêu dùng là một
khái niệm rất rộng, họ có thể là cá nhân, tổ chức, hay cơ quan nhà nước.
Người nộp thuế cũng có thể trở thành người tiêu dùng nếu họ có hành vi tiêu
dùng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế. Luật thuế GTGT nước ta hiện nay không có
quy định nào giới hạn người tiêu dùng. Chính vì vậy, thuế GTGT thuộc loại
thuế tiêu dùng đánh trên bình diện rộng.
- Thuế GTGT gắn liền với chế độ sổ sách kế toán và hóa đơn, chứng từ
Thuế GTGT là sắc thuế có đòi hỏi nghiệp vụ kế toán rất khắt khe
trong hệ thống các sắc thuế hiện hành. Xuất phát từ bản chất của thuế GTGT
là đánh vào GTGT của hàng hóa, dịch vụ. Muốn xác định GTGT không có
cách gì khác chủ thể nộp thuế GTGT phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ sổ
sách kế toán, hóa đơn, chứng từ.
Thuế GTGT năm 2008, có một hệ thống hóa đơn, biểu mẫu chứng từ
đồ sộ. Các hóa đơn, chứng từ ghi nhận thuế GTGT được quy định rất chặt chẽ
cả về hình thức lẫn cách thức sử dụng. Nếu cơ sở kinh doanh không có trình
độ kế toán nhất định, sẽ không thể thực hiện tốt chế độ kê khai trong quá trình
quản lý, kê khai, nộp thuế GTGT.
Với mỗi loại hình kinh doanh lại có loại hóa đơn sử dụng riêng, cụ
thể: Đối với các cơ sở kinh doanh thì nộp thuế theo phương pháp tính trực
tiếp trên GTGT thì sử dụng loại hóa đơn thông thường. Đối với mỗi hoạt
động kinh doanh thương mại khác nhau, pháp luật thuế GTGT sẽ yêu cầu một
loại hình hóa đơn cụ thể như: Đối với mua bán hàng nông, lâm, thủy sản qua
sơ chế sẽ sử dụng hóa đơn thu mua hàng nông, lâm, thủy sản...
11
Thuế GTGT được ghi nhận trên hóa đơn, chứng từ, căn cứ vào hóa
đơn, chứng từ của các nhà sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm lập sổ, sách kế
toán theo quy định pháp luật. Người nộp thuế được khấu trừ số thuế đầu vào
đã nộp, do đó, tổng số thuế ở các công đoạn của quá trình sản xuất, lưu thông
sản phẩm luôn bằng giá bán cuối cùng nhân với thuế suất.
Hóa đơn, chứng từ lại giữ vai trò hết sức quan trọng trong quá trình thu,
nộp thuế GTGT. Nếu thuế GTGT tách rời khỏi hóa đơn, chứng từ thì sẽ không
thể triển khai thực hiện được trên thực tế. Trong một đất nước mà các cơ sở kinh
doanh không thực hiện tốt chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ thì thuế GTGT ở
nước đó không thể phát huy được hết những tác dụng tích cực vốn có.
Những ưu điểm của thuế GTGT như khuyến khích đầu tư, xuất khẩu
hàng hóa, trung lập kinh tế... chỉ được bảo đảm khi ý thức tự giác chấp hành
pháp luật thuế của người dân được nâng cao, cơ chế tự kiểm soát của thương
trường tiên tiến, thuận lợi và việc sử dụng hóa đơn, chứng từ khi bán hàng
hóa, dịch vụ đã trở thành thói quen của người tiêu dùng.
Việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hóa đơn, chứng từ và chế
độ sử dụng hóa đơn, chứng từ là một nội dung quan trọng của pháp luật thuế
GTGT nhằm xây dựng ý thức tự giác sử dụng hóa đơn, chứng từ trong đại bộ
phận dân chúng. Trước thời điểm Luật thuế GTGT chính thức có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/01/2009, thì Chính phủ đã có những bước nghiên cứu, thử
nghiệm, cũng như chuẩn bị về nhân sự, cơ sở vật chất, mặt bằng nghiệp vụ kế
toán. Vì vậy, xét trên các phương diện này cho thấy, thuế GTGT đã góp phần
thúc đẩy các cơ sở sản xuất, kinh doanh chấp hành nghiêm chỉnh quy định lập
sổ, sách kế toán, quản lý hóa đơn, chứng từ.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm về khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng
* Khái niệm về khấu trừ và hoàn thuế GTGT:
Tại Khoản 1, điểm a, Điều 10 luật thuế GTGT quy định: "Số thuế giá
trị gia tăng phải nộp theo phương pháp khấu trừ thuế bằng số thuế giá trị gia
12
tăng đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ" [29]. Theo quy định tại
Khoản 1, Điều 7 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/12/2008
thì: "Số thuế giá trị gia tăng phải nộp tính theo phương pháp khấu trừ bằng
số thuế giá trị gia tăng đầu ra (-) số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ" [11].
Khấu trừ thuế là căn cứ quan trọng trong việc hoàn thuế GTGT hiện nay.
Tại chương III, Điều 10, Nghị định số 123/2008/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
luật thuế GTGT của Việt Nam quy định về hoàn thuế GTGT như sau: "Việc
hoàn thuế giá trị gia tăng thực hiện theo quy định tại Điều 13 Luật Thuế giá
trị gia tăng..." [11].
Tại Điều 52, Luật thuế giá trị gia tăng của nước Cộng hòa Serbia được
đăng trong "Công báo" số 84/2004 ngày 24/7/2004 và số 86/2004 ngày
30/7/2004 quy định: "Nếu số thuế đầu vào cao hơn số tiền nợ thuế, người nộp
thuế giá trị gia tăng được hoàn trả phần thuế chênh lệch…" và "hoàn trả thuế
giá trị gia tăng trong vòng 15 ngày đối với người nộp thuế chủ yếu thực hiện
cung cấp hàng hóa ở nước ngoài" 51.
Tại Điều 24, Luật Thuế GTGT của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào ngày 16/01/2007 quy định về hoàn thuế GTGT như sau: "… đối với các
nhà khai thác kinh doanh có thu nhập doanh nghiệp xuất phát từ hoạt động
sản xuất trong nước hoặc hoạt động xuất khẩu, nếu gia tăng giá trị thuế đầu
vào thì được khấu trừ không hoàn toàn trong tháng, chỉ có tỷ lệ xuất khẩu sẽ
được hoàn thuế giá trị gia tăng …" 47 và "hoàn thuế giá trị gia tăng được
thực hiện khi có văn bản của cấp có thẩm quyền về thuế…" 47.
Như vậy, hoàn thuế GTGT được hiểu là việc cơ quan quản lý thuế có
thẩm quyền hoàn trả lại cho đối tượng số tiền thuế GTGT đã nộp thừa hoặc
chưa được khấu trừ hết. Việc hoàn thuế GTGT được thực hiện theo yêu cầu
của các chủ thể khi họ đáp ứng đủ các điều kiện hoàn thuế GTGT theo quy
định của pháp luật.
13
Ở nước ta, Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn về thuế hiện
hành không đưa ra khái niệm, định nghĩa cụ thể về hoàn thuế GTGT. Tuy
nhiên, có thể xem xét khái niệm hoàn thuế GTGT dưới các góc độ khác
nhau, cụ thể:
Xét dưới góc độ kinh tế - tài chính, hoàn thuế GTGT là việc nhà nước
hoàn trả lại cho doanh nghiệp một khoản tiền thuế nhất định đúng bằng với số
thuế doanh nghiệp đã nộp khi doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện theo quy
định của pháp luật.
Xét dưới góc độ nghiệp vụ thuế thì hoàn thuế GTGT chỉ đơn thuần là
một biện pháp kỹ thuật trong công tác hành thu thuế.
Xét dưới góc độ pháp lý thì hoàn thuế là quyền của đối tượng nộp thuế
được nhà nước trả lại một khoản tiền thuế nhất định khi có đơn yêu cầu của
doanh nghiệp và doanh nghiệp chứng minh thỏa mãn các điều kiện pháp luật
quy định. Hơn nữa hoàn thuế GTGT còn là một chế định pháp luật mà nội
dung của nó là tập hợp các quy phạm pháp luật quy định về các trường hợp
được hoàn thuế, điều kiện hoàn thuế, đối tượng được hoàn thuế, thẩm quyền
ra quyết định hoàn thuế và trình tự, thủ tục hoàn thuế…
Đây là những quan điểm về hoàn thuế GTGT nhìn từ những góc độ
khác nhau trong quá trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý
cho thấy hoàn thuế GTGT là việc nhà nước hoàn trả lại một khoản tiền nhất
định cho đối tượng nộp thuế khi họ thỏa mãn các điều kiện pháp luật quy định.
Như vậy, hoàn thuế là việc hoàn trả lại số tiền thuế nộp thừa cho tổ
chức, cá nhân nộp thuế khi:
+ Tổ chức, cá nhân nộp thuế có số tiền thuế đã nộp lớn hơn số tiền
thuế phải nộp.
+ Tổ chức, cá nhân nộp thuế có số tiền thuế được hoàn theo quy định
của pháp luật về thuế GTGT.
14
Mặt khác, quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối sản phẩm là chu
trình kinh tế có sự tham gia của nhiều chủ thể. Cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ
là người nộp hộ thuế GTGT nên việc hoàn thuế GTGT là một nghiệp vụ rất
quan trọng của thuế GTGT. Phạm vi đối tượng nộp thuế GTGT rộng, việc
hoàn thuế GTGT cũng diễn ra trên phạm vi rất rộng, bao hàm nhiều quan hệ
phức tạp và có sự liên hoàn giữa các đối tượng nộp thuế.
Vì thế, hoàn thuế GTGT được hiểu là trường hợp đặc biệt của khấu trừ
thuế nên hoàn thuế chỉ đặt ra đối với đối tượng nộp thuế theo phương thức
khấu trừ thuế. Các cơ sở kinh doanh trong ba tháng liên tục trở lên (không
phân biệt niên độ kế toán) có số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết sẽ được
hoàn lại. Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của
thời gian xin hoàn thuế. Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hóa, dịch vụ
xuất khẩu, nếu có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu
có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ bán trong nước thì cũng
được tính vào số thuế được hoàn trong tháng.
Về nguyên tắc, nếu trong thời kỳ nộp thuế mà thuế đầu vào được khấu
trừ không hết thì sẽ phát sinh quyền hoàn thuế. Như vậy, qua phân tích ở trên,
có thể hiểu: Hoàn thuế là hệ quả của hành vi khấu trừ thuế đầu vào, nếu số
thuế đầu vào được khấu trừ không hết thì nhà nước có nghĩa vụ hoàn thuế
cho doanh nghiệp, tức trả lại số thuế nộp thừa cho doanh nghiệp trong kỳ đó.
Nếu Nhà nước không hoàn lại kịp thời số tiền thừa này thì coi như Nhà nước
chiếm dụng vốn của doanh nghiệp. Số tiền này thuộc quyền sở hữu của doanh
nghiệp, Nhà nước chỉ là người nắm giữ tạm thời khi chưa xác định được số
tiền doanh nghiệp phải nộp là bao nhiêu.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 7 Nghị định số 123/2008/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 08/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của luật thuế GTGT của Việt Nam quy định về hoàn thuế GTGT quy định:
Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia
tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng.
15
Thuế giá trị gia tăng ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng bằng giá tính
thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất
thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đó [11].
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu
trừ thuế, khi bán hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế của hàng hóa, dịch
vụ bán ra. Khi lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi
rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua hàng hóa, dịch
vụ phải thanh toán. Trường hợp hóa đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá
chưa có thuế và thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra thì phải tính trên giá
thanh toán ghi trên hóa đơn, chứng từ.
Thuế GTGT đầu vào (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT
mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Số thuế GTGT ghi trên chứng từ
nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho
phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với cá nhân, tổ
chức nước ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình
thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ
đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào
giá đã có thuế GTGT và phương pháp tính được nêu tại Điểm k, Khoản 1,
Điều 7 Luật thuế GTGT 2008 (Giá chưa có thuế giá trị gia tăng = Giá thanh
toán chia cho 1+ thuế suất của hàng hóa, dịch vụ (%)), để xác định giá chưa
có thuế và thuế GTGT đầu vào được khấu trừ.
Chẳng hạn như trong kỳ, công ty B thanh toán dịch vụ đầu vào được
khấu trừ là loại được dùng chứng từ đặc thù:
Tổng giá trị thanh toán là 150 triệu đồng (giá đã có thuế GTGT), dịch
vụ này chịu thuế là 10%, số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ được tính như
sau: Giá chưa có thuế GTGT = 150 triệu đồng chia cho (/) (1 + 10%).
16
* Đặc điểm của khấu trừ và hoàn thuế GTGT
Đặc điểm của phương pháp khấu trừ thuế là chỉ áp dụng đối với cơ sở
kinh doanh thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và đăng ký
nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế.
Chế định hoàn thuế GTGT thể hiện ưu điểm của Luật thuế GTGT so
với Luật thuế doanh thu, khắc phục hiện tượng thuế đánh trùng lặp từ khâu
sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Hoàn thuế GTGT hỗ trợ tích cực đến xuất
khẩu hàng hóa, dịch vụ do mức thuế suất 0% cho một số hàng hóa xuất khẩu.
Vì vậy, hoàn thuế GTGT có những đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất: Chủ thể được hoàn thuế GTGT là đối tượng nộp thuế
GTGT theo quy định của pháp luật. Tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định số
123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT quy định: "Người nộp thuế giá
trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu
thuế giá trị gia tăng và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị
gia tăng" [11]. Như vậy, chỉ những tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu
thuế GTGT mới là đối tượng được hoàn thuế GTGT.
Thực chất của việc hoàn thuế là việc Nhà nước trả lại đối tượng nộp
thuế một khoản tiền thuế tương ứng với số tiền thuế mà chủ thể đó đã nộp
thừa. Như vậy, cá nhân, tổ chức thuộc diện nộp thuế GTGT mà chưa hoàn
thành nghĩa vụ thuế nộp thuế với Nhà nước thì cũng không có quyền yêu cầu
hoàn thuế GTGT.
Thứ hai: Tổ chức, cá nhân đã thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, đó là
chuyển quyền sở hữu một khoản tiền nhất định (tiền thuế) vào ngân sách Nhà
nước. Tuy nhiên, sau đó tổ chức, cá nhân căn cứ vào quy định hiện hành về
hoàn thuế GTGT, nếu phù hợp các quy định này, thì tổ chức, cá nhân sẽ nộp
đơn tới cơ quan thuế có thẩm quyền để yêu cầu được hoàn trả số tiền thuế.
17
Xét về bản chất thì hoàn thuế GTGT là việc chuyển quyền sở hữu
(một giá trị nhất định) từ Nhà nước sang cho các tổ chức, cá nhân thỏa mãn
các điều kiện được hoàn thuế. Việc hoàn thuế được thực hiện bằng một quyết
định hành chính của cơ quan thuế có thẩm quyền.
Thứ ba: Căn cứ để được xét và chấp nhận cho hoàn thuế GTGT đó là
bộ hồ sơ hoàn thuế GTGT. Hồ sơ hoàn thuế GTGT phải do chính chủ thể nộp
thuế GTGT lập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhằm chứng minh sự thỏa
mãn các điều kiện được xét và chấp nhận hoàn thuế. Hồ sơ hoàn thuế GTGT
được quy định cụ thể tại Điều 58 Luật quản lý thuế 2006 và Mục I phần G
trong Thông tư số 60/2007/TT-BTC ban hành ngày 14/6/2007 hướng dẫn thi
hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ban hành ngày 25/5/2007 của Chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế năm 2006.
Thứ tư: Nguồn tài chính để thực hiện hoàn thuế GTGT được trích lập
từ số tiền thuế GTGT đã thu, gọi là quỹ hoàn thuế GTGT. Quỹ này do cơ
quan tài chính thành lập và sử dụng vào mục đích hoàn thuế GTGT cho người
nộp thuế theo quy định của pháp luật. Những quy định cụ thể về quỹ hoàn
thuế GTGT được Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể.
1.2. CÁC NGUYÊN TẮC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Luật thuế GTGT năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành không
có quy định cụ thể về nguyên tắc hoàn thuế GTGT. Tuy nhiên, qua thực tiễn
áp dụng pháp luật trong việc giải quyết hồ sơ xin hoàn thuế GTGT của các cơ
quan thuế có thẩm quyền, có thể thấy được một số nguyên tắc cơ bản sau đây
trong việc hoàn thuế GTGT:
Nguyên tắc quan trọng trong hoàn thuế GTGT là chỉ hoàn thuế GTGT
đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế GTGT.
Theo quy định tại điểm 1.2b Khoản 1, Mục III, phần B Thông tư số
129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một
18
số điều của Luật thuế GTGT và hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP
thì thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ được xác định như sau:
Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn
GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất,
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Số thuế GTGT ghi trên chứng
từ nộp thuế của hàng hóa nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho
phía nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài
kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào là loại được dùng chứng từ
đặc thù ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì cơ sở được căn cứ vào
giá đã có thuế và phương pháp tính nêu tại Điểm 1.10, Mục I, phần B Thông
tư 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính để xác định giá
không có thuế và thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp hóa đơn ghi sai mức thuế suất GTGT mà các cơ sở kinh
doanh chưa tự điều chỉnh, cơ quan thuế kiểm tra, phát hiện thì xử lý như sau:
Đối với cơ sở kinh doanh mua hàng hóa, dịch vụ: Nếu thuế suất
GTGT ghi trên hóa đơn mua vào cao hơn thuế suất đã được quy định tại các
văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì khấu trừ thuế đầu vào theo
thuế suất quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT.
Trường hợp xác định được bên bán đã kê khai, nộp thuế theo đúng
thuế suất ghi trên hóa đơn thì được khấu trừ thuế đầu vào theo thuế suất ghi
trên hóa đơn nhưng phải có xác nhận của cơ quan thuế trực tiếp quản lý người
bán. Nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hóa đơn thấp hơn thuế suất quy định
tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì khấu trừ thuế đầu vào
theo thuế suất ghi trên hóa đơn.
Về nguyên tắc, chỉ hoàn thuế cho các cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ chịu thuế GTGT khi họ đã thực hiện xong nghĩa vụ thuế và có đủ các điều
kiện luật định về hoàn thuế GTGT.
19