Phân tích tình hình tài chính và một số định hướng nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty thương mại dịch vụ và xây dựng hải phòng

  • 94 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất cung
ứng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ trên thị trường với mục đích đem lại lợi
nhuận.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một
lượng vốn nhất định bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên
dùng khác. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng
vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín
dụng và chấp hành luật pháp. Việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ
giúp các nhà doanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng
hoạt động tài chính, xác định đầy đủ đúng đắn nguyên nhân mức độ ảnh hưởng
của các nhân tố đến tình hình tài chính. Từ đó có những giải pháp hữu hiệu để
ổn định và tăng cường tình hình tài chính.
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều
bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh, bởi vậy nhiều đối tượng quan tâm
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau.
Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần chủ động về hoạt động sản
xuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng. Điều này đã đặt ra
cho các doanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi đáp ứng kịp thời với những thay
đổi tồn tại và tiếp tục phát triển. Bởi vậy chủ doanh nghiệp phải có những đối
sách thích hợp, nhằm tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả. Nếu như vậy việc cung ứng sản xuất và
tiêu thụ được tiến hành bình thường, đúng tiến độ sẽ là tiền đề đảm bảo cho hoạt
động tài chính có hiệu quả và ngược lại việc tổ chức huy động nguồn vốn kịp
thời, việc quản lý phân phối và sử dụng các nguồn vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện
tối đa cho hoạt động SXKD được tiến hành liên tục và có lợi nhuận cao. Do đó
để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược của mình các doanh nghiệp
cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thông
qua các báo cáo tài chính để từ đó phát triển mặt tích cực, mặt hạn chế của hoạt
động tài chính, tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng đến các mặt này,
từ đó đề xuất được các biện pháp cần thiết để cải tiến hoạt động tài chính tạo
tiền đề để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Như vậy phân tích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin
quan trọng nhất cho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn
có của doanh nghiệp, xem xét khả năng và thế mạnh trong sản xuất kinh doanh
mà còn thông qua đó xác định được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, tìm
ra những bước đi vững chắc, hiệu quả trong một tương lai gần. Việc phân tích
tài chính là một công cụ quan trọng cho công tác quản lý của chủ doanh nghiệp
nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung.
Không nằm ngoài những đối tượng xem xét kể trên Công ty Thương mại
dịch vụ và xây dựng Hải Phòng là một doanh nghiệp kinh tế độc lập, có tình
hình tài chính rất đáng được quan tâm như nguồn vốn chủ ở hữu thấp, các khoản
phải trả cao, chi phí lãi vay cao, khả năng thanh toán nhanh kém.
Sau một thời gian đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinh
doanh ở Công ty Thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng cho thấy hiệu quả
sử dụng vốn của công ty cần phải được nâng cao đặc biệt là nguồn vốn chủ sở
hữu . Do đó phân tích tình hình tài chính có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng qua
đó có thể tìm ra những phương hướng mang tính đề xuất và những biện pháp khả
thi nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đồng vốn của xí nghiệp góp phần
làm cho xí nghiệp đứng vững phát triển trong cơ chế thị trường.
Xuất phát từ ý nghĩa cơ bản về lý luận và thực tiễn của việc phân tích tài
chính với mong muốn được kết hợp giữa kiến thức quý báu thu được từ học tập,
những kinh nghiệm bổ ích được tiếp thu qua đợt thực tập tốt nghiệp tại Công ty
Thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng, cùng với sự hướng dẫn tận tình
của cô giáo Trần Thị Ngọc Lan em đã lựa chọn đề tài “Phân tích tình hình tài
chính và một số định hướng nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty
Thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng” làm đồ án tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận đồ án tốt nghiệp được chia làm 4 chương
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
Chương 3: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
Chương 4: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG
HẢI PHÒNG.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
I.1- TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI:
1.1. Khái niệm và bản chất của tài chính doanh nghiệp thương mại:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp không chỉ là mối quan tâm của các
doanh nghiệp thương mại sau mỗi quá trình kinh doanh mà còn là điểm chú ý
nhất của các đối tượng khác trong nền kinh tế thị trường. Bởi lẽ tài chính không
chỉ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà nó còn cho
thấy được quy mô, cách thức kinh doanh, kết quả kinh doanh cũng như khả năng
phát triển hay suy thoái của mỗi doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp chính là
tài chính của các tổ chức sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, nó là một
khâu trong hệ thống tài chính, là cái gốc của nền tài chính Quốc gia, Chính tại
doanh nghiệp - cá thể của nền kinh tế - các quá trình tạo lập và chu chuyển vốn
diễn ra đồng thời với nó là quá trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và phân phối kết
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các quá trình, hoạt động này được
tạo lập và được phản ánh trên cơ sở các mối quan hệ kinh tế phát sinh của doanh
nghiệp.
Vậy tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong
phân phối các nguồn lực tài chính Quốc gia nhằm hình thành và sử dụng những
quỹ tiền tệ của doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh và các yêu cầu khác
của xã hội. Nếu chỉ xét trong phạm vi một doanh nghiệp thì tài chính doanh
nghiệp là một bộ phận cấu thành các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, nó còn
có mối liên hệ hữu cơ và quan hệ qua lại với các mặt hoạt động kinh tế khác.
Mối liên hệ này phản ánh sự tác động gắn bó thường xuyên giữa phân phối với
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phân phối vừa phản ánh kết quả của sản xuất và
trao đổi, lại vừa là điều kiện để sản xuất và trao đổi có thể tiến hành bình thường
và liên tục.
Như vậy, tài chính doanh nghiệp qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
sẽ tạo ra những điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp đầy đủ tư liệu sản xuất, sức
lao động để doanh nghiệp không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh của mình.
Và ngược lại kết quả sản xuất kinh doanh cũng tác động trở lại tìnhhình tài
chính doanh nghiệp bởi để có được nguồn vốn thường xuyên nhằm đáp ứng mọi
nhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp thì công việc sản xuất kinh doanh phải được
tiến hành ổn định và liên tục. Điều này thể hiện rất rõ ràng khi giá thành và chi
phí lưu thông giảm do tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư và chi phí khác
sẽ tạo khả năng tích luỹ và giảm bớt nhu cầu tiền tệ của doanh nghiệp. Tuy
nhiên ta cũng cần phải phân biệt tài chính doanh nghiệp với khả năng tài chính
của doanh nghiệp. Khả năng tài chính của doanh nghiệp chính là tiền và các quỹ
tiền tệ và các quỹ tiền tệ mà doanh nghiệp hiện có và có khả năng huy động
được để đáp ứng cho các nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói một
cách khác đó chính là mục tiêu trước mắt, mục tiêu trực tiếp của tài chính doanh
nghiệp. Tài chính doanh nghiệp không phải là tiền hoặc là các quỹ tiền tệ nói
chung mà chính tiền chỉ là phương tiện cho hoạt động tài chính nói chung và
cho hoạt động tài chính doanh nghiệp nói riêng. Nhờ có nó mà các doanh nghiệp
thực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi, tính toán và so sánh
trên cơ sở thước đo là đồng tiền. Mặt khác tài chính doanh nghiệp phải được vận
dụng một cách năng động và đo lường hiệu quả toàn bộ các hoạt động sản xuất
kinh doanh của từng doanh nghiệp một cách chính xác và trung thực, đáp ứng
lại sự quan tâm của các đối tượng của doanh nghiệp trong nền kinh tế.
1.2.Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp có nhiệm vụ nắm vững tình hình kiểm soát vốn
SXKD hiện có về mặt hiện vật và giá trị, nắm vững sự biến động vốn nhu cầu
vốn trong từng khâu, từng thời gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản
lý và thực hiện có hiệu quả.
Tài chính doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức khai thác và động viên kịp
thời các nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho quá trình SXKD, không để cho vốn bị
ứ đọng và sử dụng kém hiệu quả. Để làm điều kiện này tài chính doanh nghiệp
phải thường xuyên giám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn vay và tự có của
doanh nghiệp, làm sao với lưng vốn nhất định phải tạo ra một lượng lợi nhuận
lớn trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có.
1.3. Chức năng của tài chính doanh nghiệp:
Mỗi một thành viên, một đơn vị trong nền kinh tế đều mang một hoặc một
số chức năng nhất định. Xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế hay của đơn vị đó,
khi muốn hoạt động có hiệu quả thì phải thực hiện tốt, đầy đủ và thực hiện một
cách sáng tạo những chức năng, nhiệm vụ của mình. Một là đối với doanh
nghiệp là một thực thể của nền kinh tế, được tổ chức một cách chặt chẽ, khoa
học thì việc thực hiện chức năng, chủ yếu là chức năng tài chính, là một yêu cầu,
một đòi hỏi bắt buộc không chỉ từ bên ngoài mà còn cả trong nội bộ của doanh
nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp mang hai chức năng trọng yếu, chức năng phân
phối và chức năng giám đốc. Tuy là hai chức năng riêng biệt nhưng chúng luôn
luôn có mối liên hệ biện chứng, chúng tác động lẫn nhau trong một phạm vi nào
đó, giúp đỡ cho nhau. Qua tìm hiểu hai chức năng này ta càng có thể thấy rõ
điều đó hơn.
1.3.1. Chức năng phân phối:
Phân phối là một thuộc tính phản ánh bản chất của tài chính doanh nghiệp,
nó vốn có trong phạm trù tài chính doanh nghiệp. Tuy nhiên khi nói đến chức
năng ta càng cần phân biệt việc thực hiện chức năng đó trong công việc tài chính
doanh nghiệp. Nói đến chức năng phân phối là nói đến biểu hiện khả năng khách
quan của doanh nghiệp, nói đến chủ đề phân phối các nguồn tài chính, đến đối
tượng phân phối của tài chính doanh nghiệp, đến kết quả của quá trình phân
phối đó. Còn khi đề cập tới việc thực hiện chức năng thì phải nói đến con người
vận dụng chức năng đó trong thực tiễn như thế nào.
Trong phạm vi chức năng phân phối, hoạt động của tài chính bao gồm 3
nhóm lớn:
- Phân phối các nguồn tài chính để hình thành vốn kinh doanh của doanh
nghiệp. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng của chức năng phân phối bởi nó
quyết định đến kết quả, tiến trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp do một doanh nghiệp muốn hoạt động được cần phải có vốn. Đối với
doanh nghiệp Nhà nước, ngoài nguồn tài chính được ngân sách cấp khi thành lập
hoặc cấp bổ sung hàng năm thì doanh nghiệp còn có một nguồn tài chính khác.
Đó là nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp sau một quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh có lãi hoặc do nhận đóng góp tham gia liên doanh của các đơn
vị khác để đáp ứng cho nhu cầu vốn kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Đối với các Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty tư
nhân thì ngoài nguồn vốn tự đóng góp và vốn tự bổ sung ra thì Công ty đó
không có nguồn vốn nào khác nữa. Muốn tăng thêm vốn thì các Công ty này chỉ
còn cách kêu gọi các cổ đông đóng góp thêm hoặc đi vay của Ngân hàng...
- Hoạt động phân phối hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đã huy
động được để hình thành các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, các tài chính của
doanh nghiệp như tài sản cố định, tài sản lưu động ..., hoặc để đầu tư ... ở khâu
này yếu tố hiệu quả sử dụng vốn được đặt lên hàng đầu. Việc bố trí tỷ trọng hợp
lý giữa tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp phải tuỳ thuộc vào
từng loại hình doanh nghiệp, việc bổ sung vào các quỹ tiền tệ còn phải tuỳ thuộc
vào nhu cầu và tình hình tổ chức của doanh nghiệp thời gian tới ... Do vậy với
chức năng phân phối nguồn vốn của mình, tài chính doanh nghiệp phải xác định
được cơ cấu vốn hợp lý. Tuy nhiên có được một cơ cấu vốn hợp lý không phải
đơn giản, một phần là do lượng vốn của doanh nghiệp biến động thường xuyên
được bổ sung thêm do làm ăn có lãi hoặc bị giảm bớt neéu làm ăn thua lỗ, một
phần khác là do hoàn cảnh và điều kiện kinh doanh cũng thường xuyên biến đối.
Mặc dù vậy mỗi ngành kinh doanh cũng đều đưa ra một tiêu chuẩn chung nhất.
Đối với ngành kinh doanh thương mại thì do đặc điểm riêng có của hoạt động
kinh doanh, cơ cấu vốn hợp ký là tỷ trọng vốn lưu động phải lớn hơn vốn cố
định. Tỷ trọng này lớn hơn bao nhiêu thì còn phải tuỳ thuộc vào tình hình đặc
điểm nghiệp vụ kinh doanh và điêù kiện hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Hoạt động phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Sau mỗi kỳ kinh doanh, doanh nghiệp đều thực hiện công việc phân
phối hoặc phân phối lại kết quả hoạt động kinh doanh (nếu doanh nghiệp đã tiến
hành phân phối trước theo kết quả dự tính). Kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp thể hiện thông qua doanh nghiệp, qua lợi nhuận sau khi trừ chi phí và
được phân bổ theo quy định của Nhà nước. Đầu tiên là các khoản nộp cho ngân
sách Nhà nước, các khoản góp vào quỹ, lãi chia cho cổ đông (nếu là Công ty cổ
phần).
Tóm lại, chức năng phân phối là chức năng chủ yếu của tài chính doanh
nghiệp, nó xoay quanh nhiệm vụ cơ bản là làm cơ sở cho công tác và tổ chức
hoạch định tài chính của nhà quản trị tài chính của Công ty đó.
1.3.2. Chức năng giám đốc:
Nếu chức năng phân phối đưa ra biện pháp để tổ chức hoạch định tài chính
thì chức năng giám đốc lại chính là biện pháp để kiểm tra giám sát tính mục
đích, tính hiệu quả của chức năng phân phối. Nó được định nghĩa như là một
khả năng khách quan sử dụng tài chính doanh nghiệp như một công cụ kiểm tra,
giám đốc hiệu quả quá trình phân phối các nguồn tài chính để hình thành và sử
dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Vậy theo định nghĩa trên thì chức năng giám đốc của tài chính doanh
nghiệp là một chức năng khách quan mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng
tiền được thực hiện đối với quá trình phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập
thành các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo mục đích đã định. Hàng ngày hoặc
hàng kỳ quyết toán, doanh nghiệp luôn phải theo dõi sát sao hệ thống tiền tệ của
mình, hay nói cách khác công cụ của chức năng giám đốc là tiền tệ. Nhà tài
chính doanh nghiệp sử dụng công cụ đó để thực hiện chức năng giám đốc thông
qua các chỉ tiêu kinh tế tài chính của mọi hoạt động của doanh nghiệp mình.
Qua việc kiểm tra giám đốc đó thì phải tìm ra các ưu nhược điểm của quá trình
phân phối và sử dụng vốn của doanh nghiệp để nghiên cứu đưa ra biện pháp tốt
nhất thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Một điểm cuối đáng ghi nhận trong nội dung chức năng giám đốc của tài
chính doanh nghiệp bởi vì đây chính là công việc giám đốc thông qua các chỉ
tiêu giá trị. Tài chính là một phạm trù giá trị sử dụng đồng tiền làm thước đo nên
muốn giám đốc được bằng đồng tiền thì phải thực hiện được quy luật giá trị và
các nội dung của giám đốc tài chính như: giám đốc nguồn vốn, quá trình chu
chuyển vốn và hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc quá trình hình thành và sử dụng
tiền tệ, quá trình thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về kinh tế tiền
tệ ...
Vậy, qua tìm hiểu về hai chức năng phân phối và giám đốc của tài chính
doanh nghiệp ta càng thấy rõ mối liên quan mật thiết giữa chúng, thấy được sự
nâng đỡ, phụ thuộc lẫn nhau giữa giám đốc và phân phối. Để thực hiện tốt chức
năng phân phối thì chức năng giám đốc cũng phải được chú ý, đề cao và ngược
lại. Phân phối chỉ hợp lý nếu giám đốc có hiệu quả và giám đốc chỉ được nâng
cao nếu phân phối luôn được thực hiện tốt.
1.4. Vai trò của tài chính doanh nghiệp:
Các chức năng của tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong thực tế qua
các hoạt động của con người. Do vậy việc thực hiện nó phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố mà trước hết là cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường. Tiếp theo đó là chế độ hạch toán kế toán và quản lý tài chính của Nhà
nước, yếu tố thị trường tài chính và trình độ quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp giữ nhiệm vụ trọng
yếu. Tuy nhiên ta có thể thấy tài chính doanh nghiệp có 4 vai trò lớn:
+ Đảm bảo vốn và nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp qua việc
thực hiện hai chức năng nêu trên. Nó là điều kiện để cho hoạt động sản xuất
kinh doanh được thực hiện thuận lợi theo mục đích đã định hoặc thông qua tổ
chức khai thác nguồn vốn và sử dụng vốn.
+ Vai trò là đòn bẩy kinh tế: nhờ có các công cụ tài chính như đầu tư, lãi
suất, cổ tức, lãi tức, giá bán, tiền lương, tiền thưởng mà tài chính doanh nghiệp
trở thành biện pháp kích thích đầu tư, nâng cao năng suất lao động của doanh
nghiệp, kích thích tiêu dùng, kích thích quá trình sản xuất kinh doanh và điều
tiết sản xuất kinh doanh.
+ Vai trò kích thích tiết kiệm và kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao. Nhờ
có tài chính tiền tệ hoá tất cả các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp thông qua
các chỉ tiêu bằng tiền trên các sổ sách kế toán mà ta có thể phân tích, giám sát
kiểm tra được quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực
hiện được chế độ tiết kiệm, giảm chi phí, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát
triển từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
+ Vai trò cuối cùng: tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm
tra và giám sát mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp.
1.5 Vốn và cấu thành vốn của doanh nghiệp:
Ta có thể thấy các vấn đề của tài chính doanh nghiệp đều xoay quanh vấn
đề là vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Vậy trước khi đi sâu tìm hiểu về
quản trị tài chính ta cũng phải biết rõ về vốn, các loại vốn của doanh nghiệp.
Vốn chính là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản của doanh nghiệp, gồm tài
sản lưu động và tài sản cố định. Các tài sản này được biểu hiện dưới hai hình
thái: vật chất và giá trị. Dưới hình thái vật chất, các tài sản của doanh nghiệp bao
gồm: những công cụ, dụng cụ, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, hàng hoá ... Còn
dưới hình thái giá trị, hay nói rõ hơn là dưới thước đo tiền tệ thì giá trị tài sản
của doanh nghiệp sẽ được đánh giá và mang một lượng giá trị nào đó. Tài sản
của doanh nghiệp được chia làm hai phần. Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền
của tất cả các tài sản lưu động của doanh nghiệp, còn vốn cố định là biểu hiện
bằng tiền của tất cả các tài sản cố định. Tài sản lưu động là những tài sản có tốc
độ và thời gian chu chuyển dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Do đó
các loại vốn cũng mang đặc điểm của những tài sản mà nó biểu hiện. Vì chu
chuyển nhanh nên vốn lưu động được bù đắp một cách nhanh chóng còn vốn cố
định luôn phải được phân bổ khấu hao làm nhiều lần trong nhiều kỳ kinh doanh.
Dựa trên đặc điểm các loại vốn của doanh nghiệp ta có thể thấy được rằng
tính chất và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp sẽ quyết định cơ cấu vốn của
doanh nghiệp. Thật vậy, trong một doanh nghiệp sản xuất thì khối lượng tài sản
cố định như máy móc, thiết bị ... nhiều nên tỷ trọng vốn cố định rất lớn. Doanh
nghiệp thương mại thì lại khác, do đặc điểm kinh doanh là mua để chuyển bán,
số lượng là tài sản lưu động đầu tư cho mua hàng hoá là rất nhiều và chiếm tỷ
trọng rất lớn, nhiều khi tới 70-80% tổng tài sản của doanh nghiệp. Do đó sẽ
không có một chuẩn mực nào cho cơ cấu vốn trong doanh nghiệp mà vẫn đề
chính ta cần xem xét ở đây là sự tài trợ cho các nguồn vốn của doanh nghiệp có
được vững vàng không, lấy từ nguồn nào sự phân bổ loại vốn đã phù hợp với
tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa ... Một trong những
nguyên tắc cơ bản của tài trợ vốn đó là doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dài
hạn để hình thành tài sản cố định và nguồn vốn ngắn hạn để hình thành tài sản
lưu động. Cách tài trợ này mang lại cho doanh nghiệp sự ổn định và an toàn về
mặt tài chính. Do vậy phải hết sức tránh điều này.
Trong doanh nghiệp thương mại, ta đã biết rằng tỷ trọng vốn lưu động luôn
chiếm đa số trong tổng tài sản của doanh nghiệp đó nên một nghiên cứu thêm về
nó là rất cần thiết. Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng
do đó vốn lưu động của doanh nghiệp cũng tuần hoàn liên tục và traỉ qua rất
nhiều các giai đoạn biến đổi hình thái biểu hiện, từ tiền tệ đến hiện vật và từ hiện
vậy trở lại thành tiền tệ. Sự vận động của nó được thể hiện chính bằng công tác
T-H-T’, chứa trong nó chính là quá trình vận động và chu chuyển của hàng hoá.
Quá trình này mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp để từ đó doanh nghiệp tiếp
tục tái sản xuất mở rộng. Do vậy vốn lưu động chính là yếu tố quan trọng góp
phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Việc sử dụng vốn lưu động
hợp lý cho phép doanh nghiệp có khả năng khai thác tối đa năng lực làm việc
của tài sản lưu động, góp phần làm giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp. Mặt khác, nó còn góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triển
vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.6. Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích hoạt động tài chính doanh
nghiệp:
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là xem xét kiểm tra đối chiếu
và so sánh số liệu về tài chính hình thành vơí quá khứ. Thông qua việc phân tích
hoạt động tài chính, người sử dụng thông tin (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, các
nhà cho vay tín dụng, các nhà cung cấp vật tư hàng hoá, dịch vụ và các nhóm
người quan tâm). Có thể đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các luồng tiền
mặt vào ra và tình hình sử dụng vốn kinh doanh tình hình khả năng thanh toán
cũng như khả năng tiềm năng hiệu quả sản xuất kinh doanh, rủi ro trong tương
lai của doanh nghiệp.
* Mục tiêu phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp:
Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đều
bình đẳng trước pháp luật như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, khác
hàng.... Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính trên mỗi một góc độ
khác nhau, song nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra các dòng tiền
mặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi tức tối đa. Vì vậy phân
tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu chủ yếu
sau:
- Thứ nhất: Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thông
tin hữu ích cho chủ doanh nghiệp các đối tượng khác như các nhà đầu tư, hội
đồng quản trị doanh nghiệp, các nhà cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên và
những người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp họ có quyết định đúng đắn
khi ra các quyết định đầu tư, quyết định cho vay.
- Thứ hai: Phân tích tài chính phải cung cấp những thông tin về tình hình sử
dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn, khả năng sinh lời cho các chủ doanh
nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin tài
chính khác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền mặt
vào ra và tình hình sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh tình hình và khả năng
thanh toán của doanh nghiệp. Giúp cho doanh nghiệp thấy rõ những tồn tại để có
biện pháp hữu hiệu khắc phục và phát huy những thành tichs đã đạt được.
- Thứ bai: Phân tích tài chính phải cung cấp những thông tin về nguồn vốn
chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, khả năng
tiêu thụ sản phẩm, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các
khoản nợ của doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất kinh doanh và các điều kiện
khác giúp cho chủ doanh nghiệp dự đoán chính xác quá trình tổ chức sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm.
Các mục tiêu trên đây có quan hệ mật thiết với nhau và nó góp phần cung
cấp thông tin nền tảng quan trọng giúp những người sử dụng ra quyết định lựa
chọn phương án sản xuất kinh doanh và đánh giá thực trạng tiềm năng của
doanh nghiệp.
* Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính:
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh
doanh, do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến
tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu
đều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh.
Hoạt động tài chính là nội dung chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh
doanh, các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tìnhhình các mặt hoạt động của
doanh nghiệp, các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình các mặt hoạt
động của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu kinh tế. Những báo cáo này do kế toán
soạn thảo định kỳ, nhằm mục đích cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tài
chính của doanh nghiệp cho người cần sử dụng chúng. Các thông tin có được
đều phải qua phân tích các bao cáo tài chính kế toán.
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp cho các nhà quản
lý doanh nghiệp và cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng của hoạt động
tài chính xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng
của từng nhân tố đến tình hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các
báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các
phương pháp công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm giúp ngươì sử dụng thông tin
từ các góc độ khác nhau vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát lại, vừa xem
xét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp để nhận biết phán đoán,
dự báo và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.
1.7. Phương pháp phân tích:
Khi phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp cần sử dụng nhiều phương
pháp khác nhau như:
- Phương pháp chi tiết (chi tiết theo các bộ phận, cấu thành chỉ tiêu, chi tiết
theo thời gian)
- Phương pháp so sánh xác định số gốc để so sánh, xác định điều kiện để so
sánh và xác định mục tiêu để so sánh.
- Phương pháp loại trừ (xác định ảnh hưởng của từng nhân tố)
- Phương pháp liên hệ (liên hệ cân đối, liên hệ trực tiếp)
Có nhiều phương pháp phân tích tài chính nhưng trên thực tế tại các doanh
nghiệp người ta đang sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp theo tỷ lệ
* Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được dùng để xác định xu hướng phát triển và mức
độ biến động của các chỉ tiêu kinh tế.
Sử dụng phương pháp này cần đảm bảo các điều kiện có thể so sánh được
của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian và thời gian, nội dung, tính
chất và đơn vị tính toán) và theo mục đích tính chất mà:
- Xác định so sánh, gốc so sánh được chọn là gốc về mặt không gian, thời
gian.
- Kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch.
- Giá trị so sánh có thể được chọn là số tuyệt đối hoặc tương đối bình quân.
Trong nội dung so sánh gồm:
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu
hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp thấy được tình hình tài chính năm
kế hoạch được cải thiện hay xấu đi để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới, đánh
giá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
+ So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy được mức độ phấn đấu
của doanh nghiệp.
+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số trung bình ngành và các
doanh nghiệp cùng ngành khác để thấy được tình hình tài chính của doanh
nghiệp mình tốt hay không tốt, được hay chưa được.
+ So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng số
so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nihều kỳ để thấy được sự biến đổi
về cả số lượng tương đối và số lượng tuyệt đối của khoản mục nào đó qua các
niên độ kế toán liên tiếp.
* Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp dựa trên ý nghĩa chuẩn mực, các tỷ lệ của đại lượng tài chính
trong quan hệ tài chính. Sự biến đối các tỷ lệ đương nhiên là sự biến đổi các đại
lượng tài chính. Về nguyên tắc phương pháp tỷ lệ yêu cầu xác định được các
mức các giới hạn để nhận xét đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ
sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu sẽ được
phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo các
mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanh
toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động
kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời.
1.8. Tài liệu để phân tích tình hình tài chính:
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp người ta phân tích
phải sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau. Trong đó tài liệu quan trọng nhất được
sử dụng đó là các báo cáo tài chính trong hệ thống báo cáo tài chính doanh
nghiệp được quy định theo QĐ1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995.
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động SXKD
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Báo cáo thuyết minh, báo cáo tài chính và tình hình cụ thể của doanh
nghiệp.
Báo cáo tài chính rất hữu ích đối với việc quản lý doanh nghiệp, là nguồn
thông tin chủ yếu đối với người ngoài doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là báo
cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tình
hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành vốn, tình hình tài chính cũng như
kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
I.2- NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP:
Chuẩn mực dùng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay
chưa tốt là những chỉ tiêu trung bình của ngành. Nếu một doanh nghiệp có các
chỉ tiêu tài chính phù hợp với mức trung bình ngành được gọi là chuẩn thì tình
hình tài chính được đánh giá là ổn định và vững chắc.
Nội dung phân tích hoạt động tài chính ở doanh nghiệp tập trung vào các
vấn đề sau:
- Đánh giá khái quát tình hình hoạt động tài chính doanh nghiệp thông qua
việc phân tích các báo cáo kế toán.
- Phân tích tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
- Phân tích các tỷ suất nhằm phản ánh tình hình hiệu quả và khả năng sinh
lợi của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân tích tốc độ chu chuyển của vốn lưu động.
2.1. Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp:
Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấp một cách
tổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không
khả quan. Điều đó cho phép chủ doanh nghiệp thấy rõ thực chất của quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh và dự đoán được khả năng phát triển hay chiều
hướng suy thoái của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó có những giải pháp hữu hiệu
để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp trước hết cần căn cứ
vào các số liệu đã phản ánh trên bảng cân đối kế toán để so sánh tổng số tài sản
(Vốn) và tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp thì chưa thể thấy rõ tình hình tài
chính của doanh nghiệp được. Vì vậy c
ần phải phân tích các mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối kế
toán.
a, Phân tích tình hình phân bổ tài sản
Theo quan điểm luân chuyển vốn thì toàn bộ tài sản của doanh nghiệp bao
gồm 2 loại cơ bản: TSCĐ loại B và TSLĐ loại A được hình thành chủ yếu là
nguồn vốn của các chủ sở hữu.
Rõ ràng các khoản mục riêng biệt trên, phần tài sản của bảng cân đối kế
toán thường không có nhiều ý nghĩa, song giữa các khoản mục và các nhóm
khoản mục cùng với sự biến động phát sinh lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng,
qua đó đánh giá tính thích hợp của sự biến động.
Để phân tích sự phân bố tài sản cần lập bảng phân tích tình hình phân bổ
vốn, bảng phân tích này không những cung cấp những thông tin về sự tăng lên
hay giảm đi cả về số tuyệt đối và số tương đối của mỗi loại tài sản mà còn cho
biết cơ cấu của từng loại trong tổng số. Từ đó có thể đánh giá được mức độ hợp
lý hay chưa hợp lý của việc phân bổ vốn và dựa vào đây để nhận định xu hướng
biến động trong tương lai của từng khoản mục.
Phân tích kết cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số vốn cuối kỳ so với đầu
năm còn phải xem xét từng khoản vốn (Tài sản) của doanh nghiệp chiếm trong
tổng số để thấy được mức độ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình kinh doanh để xem xét tỷ trọng từng
khoản vốn (Tài sản) chiếm trong tổng số là cao hay thấp. Nếu là doanh nghiệp
sản xuất phải có lượng dự trữ về nguyên vật liệu đầy đủ với nhu cầu sản xuất,
nếu là doanh nghiệp thương mại phải có lượng hàng hoá đủ để cung cấp cho nhu
cầu bán ra kỳ tới. Đối với khoản nợ phải thu tỷ trọng càng cao thể hiện doanh
nghiệp bị chiếm dụng nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Ngoài ra khi nghiên cứu đánh giá sự phân bổ cuả TSCĐ và đầu tư dài hạn
trong tổng tài sản cần kết hợp sự biến động của nó với tỷ suất đầu tư để phân
tích chính xác rõ ràng hơn, qua đó có thể đánh giá xem xét doanh nghiệp sử
dụng hợp lý và hiệu quả TSCĐ hay không, quy mô ấy có đủ đảm bảo cho
SXKD trong thời gian tới hay chưa. Nói chung TSCĐ trong tổng số tài sản phản
ánh tiềm lực ở hiện tại và tương lai gần.
Tỷ suất đầu tư được xác định bằng công thức
TSCĐ + Đầu tư dài hạn
Tỷ suất đầu tư = x 100%
Tổng số tài sản
Phân tích tình hình phân bổ vốn của doanh nghiệp chỉ là đáp ứng yêu cầu
của việc đánh giá khái quát, nên cũng không thể đi sâu để đánh giá một cách tỷ
mỉ được. Với cách nhìn của các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư thông qua
bảng cân đối kế toán sẽ có những giải pháp tốt hơn trong việc sắp xếp phân bổ
vốn của doanh nghiệp mình hợp lý hơn, tối ưu hơn. Do đó ngoài việc xem xét
tình hình phân bổ vốn của các chủ doanh nghiệp, kế toán trưởng, các nhà đầu tư,
các đối tượng quan tâm khác cần phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm đánh giá
được khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tự
chủ, chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp phải
đương đầu.
b, Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Đối với nguồn hình thành tài sản, khi phân tích cần xem xét tỷ trọng từng
loại chiếm trong tổng số cũng như xu hướng biến động của chúng nhằm đánh
giá mức độ chủ của doanh nghiệp trong kinh doanh. Điều đó được phản ánh thể
hiện qua việc xác định tỷ suất tự tài trợ.
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tự tài trợ = x 100%
Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tự tài trợ càng cao thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chính
hay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng tốt. Nhưng để có thể phân tích chi
tiết hơn cần lập bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn. Qua bảng phân tích cơ cấu
nguồn vốn có thể biết được sự tăng lên hay giảm xuống của tổng nguồn vốn
cũng như những bộ phận hợp thành tổng đó, nợ phải trả và nguồn CSH giữa đầu
năm và cuối năm. Hơn thế nữa ta còn xác định được cơ cấu của từng loại vốn
quỹ trong tổng số để đánh giá tài chính của doanh nghiệp là khoẻ hay yếu.
Ngoài tỷ suất tự tài trợ, khi phân tích cơ cấu nguồn vốn cần kết hợp so sánh
tỷ số nợ và hệ số nợ dài hạn:
+ Tỷ số nợ dùng để đo lường sự góp vốn của doanh nghiệp so với vốn vay,
nó được tính bằng thương số giữa số nợ và tổng nguồn vốn
Tổng nợ phải trả (A)
Tỷ số nợ = x 100%
Tổng nguồn vốn
+ Hệ số nợ dài hạn: Phản ánh toàn bộ lượng vay nợ dài hạn chiếm trong
tổng số nguồn vốn
Tổng số vay nợ dài hạn
Hệ số nợ dài hạn =
Tổng nguồn vốn
Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo hạn lớn hơn 1 năm. Trong
khoản thời gian đó, khoản vốn vay này được sử dụng như vốn vay thường xuyên
(Vốn CSH) do vậy phần tài sản được hình thành bằng vốn vay dài hạn rõ ràng
có hệ số an toàn cao hơn phần tài sản được hình thành bằng vốn vay ngắn hạn.
Các chủ doanh nghiệp vẫn ưa thích tài sản của mình có được từ nguồn dài hạn
và sau đó họ mong muốn cho hệ số nợ dài hạn lớn hơn hệ số nợ ngắn hạn.
Cuối cùng trong quá trình phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh
nghiệp cần xem xét lại chỉ tiêu vốn luân chuyển (Vốn hoạt động thuần). Vốn
luân chuyển có thể được hiểu là số tiền chênh lệch của tài sản lưu động với nợ
ngắn hạn. Vốn luân chuyển phản ánh tài sản hiện hành được tài trợ từ các nguồn
lâu dài mà không đòi hỏi sự chi trả trong thời gian ngắn.
Vốn luân chuyển = TSCĐ - Nợ ngắn hạn
Tóm lại: Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấp
cho ta những thông tin khái quát nhất, xem xét tình hình tài chính của doanh
nghiệp có khả quan hay không khả quan. Tuy nhiên để thấy rõ bản chất tài chính
của doanh nghiệp cần đi sâu phân tích những nội dung bên trong của nó như tình
hình các khoản phải thu, các khoản phải trả, khả năng thanh toán, hiệu quả sử
dụng tài sản.
2.2 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp phải duy trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để đáp ứng kịp
thời các khoản nợ ngắn hạn và duy trì các loại tồn kho để đảm bảo quá trình sản
xuất kinh doanh thuận lợi.
Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh chất
lượng công tác tài chính.
* Phân tích tình hình công nợ
Để biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay không tốt cần
phải xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào. Nếu tình hình
tài chính tốt, doanh nghiệp sẽ ít công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, ít đi