Phân tích tình hình hoạt động của công ty xây dựng công trình và thương mại giao thông vận tải

  • 65 trang
  • file .doc
CHƯƠNG I: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH - MỘT YẾU TỐ QUAN
TRỌNG TRONG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP.
I. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm:
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất xuất kinh doanh
và có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tất cả các hoạt
động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối
với quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó trước khi lập kế hoạch tài chính doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu báo cáo tài chính của kỳ thực hiện. Các báo cáo tài
chính được soạn thảo theo định kỳ phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện về tình
hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quả kinh doanh...bằng các chỉ tiêu giá trị,
nhằm mục đích thông tin về kết quả và tình hình tài chính của doanh nghiệp cho
người lãnh đạo và bộ phận tài chính doanh nghiệp thấy được thực trạng tài chính
của đơn vị mình, chuẩn bị căn cứ lập kế hoạch cho kỳ tương lai.
Tuy vậy, tất cả các số liệu của kỳ thực hiện là những tài liệu có tính chất lịch
sử và chưa thể hiện hết những nội dung mà người quan tâm đòi hỏi. Vì vậy người
ta phải dùng kỹ thuật phân tích để thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu, giúp cho
các nhà kế hoạch dự đoán và đưa ra các quyết định tài chính cho tương lai, bằng
cách so sánh, đánh giá xem xét xu hướng dựa trên các thông tin đó.
Phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm các phương pháp và công cụ cho
phép thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý doanh
nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của doanh nghiệp,
giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết định quản lý
phù hợp.
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các
báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các
phương pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng thông tin từ các
góc độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một
cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp
2. Các bước tiến hành phân tích tài chính trong doanh nghiệp
2.1.Thu thập thông tin:
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và
thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự
đoán tài chính. Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên
ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin về số
lượng và giá trị... trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo
cáo tài chính doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng. Do vậy,
phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp.
2.2.Xử lý thông tin:
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu
thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu,
ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu
phân tích đã đặt ra: xử lý thông tin là quá trình xắp xếp các thông tin theo những
mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên
nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.
2.3.Dự đoán và quyết định:
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề cần thiết để người
sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định tài chính.
Thông tin có giá trị nhất đối với các nhà sử dụng báo cáo tài chính là những
gì sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó, các tỷ số có được do phân tích tài chính sẽ giúp
những nhà sử dụng báo cáo dự đoán tương lai bằng cách so sánh, đánh giá và phân
tích xu thế. Các quyết định tài chính được đặt trên cơ sở nền tảng của công tác
hoạch định. Công tác này thường có hai mức: cấp chiến lược và cấp chiến thuật.
Hoạch định chiến lược xác định tuyến kinh doanh, các hoạt động dài hạn và các
chính sách tài chính của doanh nghiệp. Các kế hoạch chiến thuật có hiệu lực trong
thời gian ngắn hơn và thường ảnh hưởng trong lĩnh vực nhỏ hơn của doanh nghiệp
so với các quyết định chiến lược. Phân tích tài chính doanh nghiệp là trọng tâm của
cả hoạch định chiến lược và chiến thuật.
II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
Phân tích tài chính doanh nghiệp chính là để đạt mục đích cao nhất là đánh
giá thực trạng tài chính và tiềm năng của doanh nghiệp từ đó giúp những người ra
quyết định dự đoán và lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu.
Trong hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau, đều bình đẳng trước
pháp luật trong việc lựa chọn ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Do vậy sẽ có nhiều
đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: Chủ doanh
nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng...kể cả các cơ quan Nhà nước và
những người làm công, mỗi đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính của doanh
nghiệp trên các góc độ khác nhau:
1. Đối với bản thân doanh nghiệp:
 Đối với các chủ Chủ doanh nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp:
Đối với các chủ doanh nghiệp và những người quản lý doanh nghiệp thì mục
tiêu hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng tài trợ. Một doanh nghiệp
nếu làm ăn thua lỗ liên tục thì các nguồn lực sẽ cạn kiệt và sẽ buộc phải đóng cửa,
một doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ cũng sẽ dẫn đến chỗ
phải phá sản. Bên cạnh đó, Chủ doanh nghiệp và những người quản lý doanh
nghiệp còn quan tâm đến các mục tiêu khác như: Nâng cao chất lượng sản phẩm,
tạo công ăn việc làm, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường... Do ở trong doanh
nghiệp nên các chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý có thông tin đầy đủ và hiểu rõ
về doanh nghiệp, họ có lợi thế để phân tích tài chính tốt nhất. Việc phân tích tài
chính giúp cho họ trong nhiều vấn đề như: Hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp có hiệu quả không, có đạt lợi nhuận không, tương lai sẽ có nhiều
triển vọng hay khó khăn; Khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn ra sao; vốn
được huy động từ những nguồn nào và đầu tư vào đâu để thu lợi nhuận cao nhất...
 Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp:
Như chúng ta đã biết lương là khoản thu nhập chính của những người làm
công. Ngoài ra, theo quy định doanh nghiệp luôn luôn giữ một phần được gọi là cá
nhân người hưởng lương góp cho doanh nghiệp.Như vậy, người hưởng lương buộc
phải quan tâm tới tình hình tài chính công ty vì đó cũng chính là tình hình tài chính
của họ. Cách quan tâm của người hưởng lương tới tình hình tài chính của doanh
nghiệp cũng chính là phân tích tài chính.
2. Đối với các chủ nợ:
Các chủ nợ bao gồm các Ngân hàng, các doanh nghiệp cho vay, ứng trước
hay bán chịu. Họ phân tích tài chính chủ yếu là để quan tâm đến khả năng thanh
toán nợ của doanh nghiệp đi vay. Đối với các khoản vay ngắn hạn thì người cho
vay đặc biệt quan tâm tới khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Tức là khả
năng ứng phó của các doanh nghiệp đôí với món nợ này khi đến hạn. Còn đối với
các khoản nợ dài hạn thì người cho vay phải tin chắc khả năng hoàn trả và khả
năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và lãi lại phụ thuộc vào chính
khả năng sinh lời đó. Việc phân tích tài chính thay đổi theo bản chất và thời hạn
của khoản vay nhưng dù cho đó là vay dài hạn hay ngắn hạn thì người cho vay đều
quan tâm đến cơ cấu tài chính biểu hiện mức độ mạo hiểm của doanh nghiệp đi
vay. Như vậy, trước khi chấp nhận cho vay, người cho vay phải phân tích tài chính
của doanh nghiệp vì việc phân tích đó sẽ giúp họ trong các vấn đề như: Doanh
nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn hay không, tổng nợ của doanh
nghiệp so với tổng tài sản của doanh nghiệp là cao hay thấp, nguồn vốn chủ sở hữu
so với tổng nguồn vốn của doanh nghiệp như thế nào, khả năng sinh lợi của doanh
nghiệp...
Từ những nghiên cứu đó xem xét có nên cho vay hay không, và nếu cho vay
thì hạn mức là bao nhiêu, thời hạn thanh toán khoản vay trong bao lâu. Không mấy
ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy doanh nghiệp không đảm bảo chắc
chắn khoản vay đó có thể và sẽ được thanh toán ngay khi đến hạn.
3. Đối với nhà đầu tư :
Đây là các doanh nghiệp và các cá nhân quan tâm trực tiếp đến tính toán các
giá trị của doanh nghiệp và họ đã giao vốn cho doanh nghiệp và có thể phải chịu rủi
ro. Thu nhập của họ là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Hai yếu
tố này chịu ảnh hưởng của lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư lớn
thường dựa vào các nhà chuyên môn - những người chuyên phân tích tài chính,
chuyên nghiên cứu về kinh tế, tài chính - để phân tích và làm rõ triển vọng của
doanh nghiệp cũng như đánh giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Đối với các nhà đầu
tư hiện tại cũng như nhà đầu tư tiềm năng, thì mối quan tâm trước hết của họ là
việc đánh giá những đặc điểm đầu tư của doanh nghiệp. Các đặc điểm đầu tư của
một doanh vụ có tính đến các yếu tố rủi ro, sự hoàn lại, lãi cổ phần hoặc tiền lời, sự
bảo toàn vốn, khả năng thanh toán vốn, sự tăng trưởng và các yếu tố khác. Mối
quan hệ giữa giá trị hiện hành của một tờ chứng khoán (cổ phiếu hay trái phiếu) đối
với giá trị chờ đợi trong tương lai của nó, về cơ bản, có liên quan đến sự đánh giá
các cơ hội đầu tư của doanh nghiệp. Các nhà đầu tư quan tâm tới sự an toàn về đầu
tư của họ thông qua tình hình được phản ánh trong điều kiện tài chính của doanh
nghiệp và tình hình hoạt động của nó, đặc biệt chính sách lãi cổ phần của doanh
nghiệp thường là mối quan tâm chủ yếu của các nhà đầu tư.
Mặt khác, các nhà đầu tư cũng quan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp. Để
đánh giá thu nhập bình thường của nó, họ quan tâm tới tiềm năng tăng trưởng, các
thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đã giành được những nguồn tiềm năng gì
và như thế nào, đã sử dụng chúng ra sao, cơ cấu vốn của doanh nghiệp là gì, những
rủi ro và may mắn nào doanh nghiệp cần đảm bảo cho các nhà đầu tư cổ phần,
doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính nào không. Các đánh giá đầu tư cũng liên quan
tới việc dự đoán thời gian, độ lớn và những điều không chắc chắn của những quyết
toán tương lai thuộc doanh nghiệp. Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng quan tâm tới việc
điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý trong doanh nghiệp.
Những thông tin về công tác quản lý đòi hỏi những nguồn nào và sử dụng những
nguồn ấy dưới sự giám sát của công tác quản lý như thế nào cũng có thể tác động,
ảnh hưởng tới các quyết định đầu tư.
4. Đối với các cơ quan chức năng:
Các cơ quan chức năng bao gồm các cơ quan cấp cao trực thuộc Bộ, cơ quan
thuế, thanh tra tài chính ...
Các cơ quan này sử dụng báo cáo tài chính do các doanh nghiệp gửi lên để
phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp đó với mục tiêu kiểm tra, giám sát tình
hình hoạt động kinh doanh, xem họ có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước hay
không, xem họ có kinh doanh đúng luật không. Đồng thời sự giám sát này còn giúp
cho các cơ quan có thẩm quyền có thể hoạch định chính sách một cách phù hợp, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất có hiệu quả.
Trên đây đã nêu lên các vấn đề chứng tỏ tầm quan trọng của phân tích tài
chính đối với các thành phần khác nhau có liên quan tới doanh nghiệp. Trước đây
việc phân tích tài chính trong các doanh nghiệp ở Nước ta còn ít được quan tâm,
chú ý do các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, nền kinh tế kém phát
triển. Gần đây, cùng với việc hoàn thiện luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp phát triển cả về số lượng lẫn qui mô nên việc phân tích tài chính đã
được các doanh nghiệp quan tâm hơn. Mặt khác quá trình mở cửa hội nhập kinh tế
giữa Nước ta với khu vực và thế giới cũng sẽ dẫn tới việc cạnh tranh gay gắt giữa
các doanh nghiệp trong nước với nhau và giữa các doanh nghiệp trong nước với
các doanh nghiệp nước ngoài. Do vậy muốn tồn tại và đứng vững được trên thương
trường các doanh nghiệp bắt buộc phải chú trọng vào việc phân tích tài chính để
xác định rõ những ưu điểm, lợi thế cũng như những hạn chế của doanh nghiệp
mình và các đối thủ cạnh tranh để từ đó có chiến lược sản xuất kinh doanh phù hợp.
III. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG
DOANH NGHIỆP.
1. Nguồn thông tin:
Phân tích tài chính giúp cho những người quản lý tài chính đánh giá một cách
chính xác thực trạng tài chính của doanh nghiệp, nắm rõ những thế mạnh cũng như
những hạn chế của doanh nghiệp và từ đó có những chiến lược, kế hoạch về tài
chính cho tương lai. Muốn thực hiện phân tích tài chính cần phải có những thông
tin hay nói cách khác thông tin là yếu tố không thể thiếu được trong phân tích tài
chính của một doanh nghiệp. Để cho việc phân tích tài chính của một doanh nghiệp
có kết quả, giúp cho việc dự đoán, hoạch định chính xác thì đòi hỏi các thông tin sử
dụng để phân tích phải chính xác, phù hợp với quá trình phân tích. Nếu những
thông tin sử dụng trong phân tích tài chính của một doanh nghiệp không chính xác
sẽ dẫn đến những kết quả phân tích sai lệch ảnh hưởng đến những quyết định của
nhà quản lý và do vậy ảnh huởng tới tình hình tài chính của doanh nghiệp. Chính vì
vậy khi phân tích tài chính của một doanh nghiệp cần phải quan tâm tới nguồn
thông tin, tính chính xác của những thông tin và phải chọn những nguồn thông tin
phù hợp với quá trình phân tích.
Nói đến thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp người ta
thường nhắc tới 2 nguồn thông tin là: Nguồn thông tin nội bộ doanh nghiệp và
nguồn thông tin bên ngoài.
1.1. Các nguồn thông tin nội bộ doanh nghiệp:
Những thông tin nội bộ doanh nghiệp thường được sử dụng để phân tích tài
chính là : Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ...
* Bảng cân đối kế toán:
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết tình hình tài
chính của doanh nghiệp tại những thời điểm nhất định dưới hình thức tiền tệ . Đây
là một báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ
sở hữu, quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán phản ánh hai nội dung cơ bản là tài sản và nguồn vốn.
Phần tài sản phản ánh qui mô và cơ cấu các loại tài sản hiện có đến thời điểm lập
báo cáo thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp. Về mặt pháp lý, phần tài
sản thể hiện tiềm lực mà doanh nghiệp có quyền pháp lý , sử dung lâu dài, gắn với
mục đích thu được các khoản lợi nhuận. Phần nguồn vốn phản ánh nguồn vốn được
huy động vào sản xuất kinh doanh. Về pháp lý, nguồn vốn cho thấy trách nhiệm
của doanh nghiệp về tổng số vốn đã đăng kí kinh doanh với nhà nước, số tài sản đã
hình thành bằng nguồn vốn vay ngân hàng, vốn vay đối tượng khác, cũng như trách
nhiệm phải thanh toán với người lao động, cổ đông, nhà cung cấp, trái chủ, Ngân
sách ...
Bảng cân đối kế toán là tài liệu quan trọng bậc nhất giúp cho nhà phân tích
nghiên cứu, đánh giá một cách khái quát tình hình và kết quả kinh doanh, khả năng
cân bằng tài chính, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của
doanh nghiệp.
* Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp cho biết tình hình
tài chính của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định, phản ánh tóm lược các
khoản doanh thu, chi phí , kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh
nghiệp, kết quả hoạt động kinh doanh ( sản xuất kinh doanh , đầu tư tài chính, hoạt
động bất thường). Bên cạnh đó, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh còn cho biết
tình hình thực hiện đối với nhà nước của doanh nghiệp trong thời kì đó.
Dựa vào số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng thông tin có
thể kiểm tra, phân tích và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong kì, so sánh với kì trước và doanh nghiệp khác để nhận biết khái quát hoạt
động trong kì và xu hướng vận động.
* Báo cáo lưu chuyển tiền tệ :
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính được lập ra để trả lời những
câu hỏi liên quan đến luồng tiền vào ra trong doanh nghiệp, tình hình trả nợ hay
đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp những thông tin về những luồng vào ra
của tiền và coi như tiền, những khoản đầu tư ngắn hạn có tính chất lưu động cao có
thể nhanh chóng và sẵn sàng chuyển đổi thành một khoản tiền biết trước, ít chịu rủi
ro về giá trị do những sự thay đổi về lãi suất. Những luồng vào, ra của tiền và
những khoản coi như tiền được tổng hợp thành ba nhóm: Lưu chuyển tiền tệ từ
hoạt động kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư, lưu chuyển tiền tệ từ
hoạt động tài chính. Nó có thể được lập ra theo một trong hai phương pháp: trực
tiếp hoặc gián tiếp.
1.2. Các nguồn thông tin bên ngoài doanh nghiệp:
Để đánh giá một cách chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp thì
ngoài các nguồn thông tin nội bộ của doanh nghiệp, các nhà quản trị doanh nghiệp
cũng rất quan tâm tới các thông tin liên quan đến môi trường xung quanh của
doanh nghiệp.
Đó là những thông tin có liên quan đến các chính sách của các cơ quan quản
lý cấp trên chẳng hạn như Tổng công ty đối với doanh nghiệp. Một doanh nghiệp
trực thuộc Tổng công ty có thể chỉ là phụ thuộc về mặt hành chính hoặc phụ thuộc
cả về mặt hành chính lẫn tài chính. Đối với những doanh nghiệp hạch toán độc lập
chỉ phải chịu sự quản lý của Tổng công ty về mặt tài chính, họ tự hạch toán kinh
doanh, tự gánh chịu mọi thua lỗ cũng như hưởng lãi nhưng nhiệm vụ chủ yếu là để
phục vụ cho Tổng công ty do vậy họ cần phải quan tâm đến các chính sách, cơ chế
của Tổng công ty. Đối với những doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, Tổng công ty
thực hiện chế độ quản lý trực tiếp cả về mặt hành chính lẫn tài chính nên việc phân
tích tài chính ở các doanh nghiệp này thực tế là phân tích hoạt động tài chính của
doanh nghiệp trong mối liên hệ với hoạt động tài chính của Tổng công ty, xem xét
mức độ và khả năng đóng góp của những doanh nghiệp này vào kết quả hoạt động
kinh doanh của Tổng công ty.Bên cạnh đó là những thông tin về các chính sách
kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước đối với các ngành nghề kinh doanh của
doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nói riêng, các thông tin về thị trường và
đối thủ cạnh tranh, những biến động của nền kinh tế, các thông tin có liên quan đến
ngành, nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp...
2. Phương pháp phân tích:
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện
pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ bên trong
và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính
tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, dưới đây là một
số phương pháp thường hay được sử dụng:
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp tỷ
- Phương pháp phân tích tài chính Dupont.
2.1. Phương pháp so sánh:
*Điều kiện áp dụng: Các chỉ tiêu cần phải thống nhất về thời gian, không
gian, nội dung, tính chất, đơn vị tính toán và theo mục đích phân tích mà xác định
gốc so sánh.
*Nội dung:
So sánh giữa số hiện thực kỳ nàyvới số hiện thực kỳ trước để thấy rõ xu
hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp để đánh giá sự tăng trưởng hay tụt lùi
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
So sánh giữa số hiện thực và số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp.
So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình nghành , của
các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay
xấu, được hay chưa được.
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỉ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể,
so sánh theo chiều ngang của nhiều kì để thấy được sự thay đổi cả về số lượng
tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các mức độ kế toán liên tiếp.
2.2 Phương pháp phân tích tỉ lệ :
Là phương pháp truyền thống, được sử dụng phổ biến trong phân tích tài
chính. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày
càng được bổ sung và hoàn thiện. Bởi lẽ:
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy
đủ hơn. Đó là cơ sở để hình thành các chỉ tiêu tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá
một tỉ lệ tài chính tin cậy của doanh nghiệp.
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ kiện và thúc
đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỉ lệ.
Thứ ba, phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả
các số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỉ lệ theo chuỗi thời gian
liên tục hoặc theo từng giai đoạn.
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỉ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỉ lệ yêu cầu phải
xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính
doanh nghiệp trên cơ sở so sánh các tỉ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỉ lệ tham
chiếu.
Trong phân tích tài chính, các tỉ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỉ lệ
đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu hoạt động của doanh
nghiệp . Đó là nhóm các tỉ lệ về khả năng thanh toán, nhóm các tỉ lệ về cơ cấu tài
chính, nhóm các tỉ lệ về năng lực hoạt động, nhóm các tỉ lệ về khả năng sinh lời.
2.3 Phương pháp phân tích tài chính Dupont:
Phương pháp phân tích tài chính Dupont cho thấy mối quan hệ tương hỗ giữa
các tỉ lệ tài chính chủ yếu. Công ty Dupont là công ty đàu tiên ở Mỹ sử dụng các
mối quan hệ chủ yếu này để phân tich các tỉ số tài chính. Vì vậy, nó được gọi là
phương pháp Dupont. Ngày nay, phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở nhiều
quốc gia.
* Nội dung: Hệ thống phân tích tài chính Dupont
Theo phương pháp này người ta xem xét, phân tích các mối quan hệ tương
tác giữa hệ số sinh lợi doanh thu với hiệu xuất sử dụng tổng tài sản, giữa hiệu suất
sử dụng tổng tài sản và hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu, giữa hệ số nợ tổng tài sản và
hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu để nhằm đưa ra các giải pháp nhằm tăng tiêu thụ và
tiết kiệm chi phí, xác định tỉ lệ nợ phù hợp...
3. Chất lượng cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp
Phân tích tài chính là một khâu quan trọng trong quản lý tài chính doanh
nghiệp. Vì phân tích tài chính giúp cho những người quản lý tài chính doanh
nghiệp thấy tình hình tài chính hiện tại và tương lai của công ty để cho họ có được
những quyết định, những phương hướng đúng đắn đối với sự phát triển của doanh
nghiệp. Tầm quan trọng của phân tích tài chính đòi hỏi các cán bộ tiến hành phân
tích tài chính phải có trình dộ nghiệp vụ chuyên môn cao. Họ tiến hành phân tích
tài chính đồng thời phải lựa chọn sử dụng những thông tin có tính khách quan,
những nội dung và phương pháp phù hợp với tình hình thực tế cũng như tương lai
của doanh nghiệp. Trình độ cán bộ là khâu quan trọng đóng góp phần sức quan
trọng trong công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
Ở các nước phát triển công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp
thường được thực hiện bởi một bộ phận chuyên trách về phân tích và kiểm tra tài
chính trong nội bộ công ty. Bộ phận này được lãnh đạo bởi Giám đốc phụ trách tài
chính hay trưởng phòng tài chính (tuỳ quy mô công ty) và bao gồm các nhân viên
có trình độ chuyên môn tốt về tài chính và phân tích tài chính. Rất ít trường hợp các
nhân viên này là kế toán viên bởi bộ phận tài chính và bộ phận kế toán được phân
tách rõ ràng, cho dù đều chịu sự quản lý điều hành của một giám đốc tài chính phụ
trách chung. Đây là đặc điểm thể hiện tính chuyên môn hoá cũng như sự phát triển
về quản lý tài chính của các doanh nghiệp này. Giám đốc tài chính hay trưởng
phòng tài chính là người rất giỏi về chuyên môn, có vai trò rất quan trọng, quyết
định trong việc tạo ra các quyết định về tài chính.
Bên cạnh đó trình độ hiểu biết, nhận thức của các thành viên khác trong
doanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công của quá trình phân tích
tài chính. Hiệu quả của việc phân tích tài chính trong doanh nghiệp sẽ cao hơn nếu
các thành viên trong doanh nghiệp đều nhận thức được tầm quan trọng của phân
tích tài chính, cố gắng giúp sức trong việc phân tích tài chính, kiến nghị, cung cấp
những thông tin bổ ích cho quá trình phân tích tài chính.
IV. NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP
1. Phân tích khái quát Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành hệ thống tài chính phục vụ
yêu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chính vì vậy để đánh giá được tình
hình tài chính của doanh nghiệp trước hết cần phải xem xét khái quát Báo cáo kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp, nó bao gồm tập hợp các chỉ tiêu và khoản mục
biểu hiện thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh gồm 2 phần chính:
Phần một gồm có:
Thứ nhất là Thu nhập và Chi phí từ hoạt động kinh doanh.
Thứ hai là Thu nhập và chi phí từ hoạt động tài chính.
Thứ ba là Thu nhập và chi phí từ hoạt động bất thường.
Chênh lệch từ mỗi loại thu nhập và chi phí cho biết kết quả của mỗi hoạt
động tương ứng trong doanh nghiệp. Tổng hợp ba kết quả này sau khi trừ đi phần
thuế thu nhập doanh nghiệp chính là kết quả kinh doanh cuối cùng.
Phần hai gồm có:Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước như các khoản
thuế, lệ phí doanh nghiệp phải nộp, đã nộp và còn nợ ngân sách trong kỳ.
Trong phần một . Về chi phí, chi phí kinh doanh là chi phí chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong tổng chi phí của doanh nghiệp. Chi phí kinh doanh bao gồm tất cả những
chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh bình thường hàng ngày của doanh
nghiệp như chi phí mua nguyên vật liệu, chi phí thuê ngoài gia công, dịch vụ, các
khoản luơng, thưởng...Cần lưu ý rằng khấu hao tài sản là một khoản mục nằm trong
chi phí và được xác định trong BCKQKD nhưng nó không phải là một khoản chi
bằng tiền nên không được tính trong phần thu chi ngân quĩ. Bên cạnh chi phí kinh
doanh, chi phí hoạt động tài chính và hoạt động bất thường cũng là những khoản
chi phí đáng kể trong doanh nghiệp. Các chi phí tài chính có thể kể đến là chi phí
trả lãi vay, chi phí mua bán chứng khoán, liên doanh, liên kết... Các chi phí bất
thường gồm có: Chi phí về nhượng bán,thanh lý tài sản cố định, những giá trị tổn
thất không thu hồi được...
Về thu nhập, Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thường là khoản thu lớn
nhất đối với hoạt động của doanh nghiệp, nó bảo đảm trang trải các chi phí, thực
hiện tái sản xuất và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Trong thu nhập từ hoạt
động kinh doanh, doanh thu bán hàng là nguồn thu chủ yếu.Doanh thu bán hàng là
toàn bộ tiền về tiêu thụ sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Đối với các
doanh nghiệp khác nhau thì nội dung xác định thu nhập cũng khác nhau. Tương tự,
Doanh nghiệp cũng có các khoản thu nhập từ hoạt động tài chính như: Thu từ hoạt
động đầu tư, tài trợ, liên doanh, liên kết...các khoản thu nhập bất thường như thu từ
việc nhượng bán, thanh lý tài sản cố định...
Tóm lại bằng việc xem xét cụ thể từng chỉ tiêu, khoản mục doanh thu, chi
phí theo phương pháp trừ lùi, người sử dụng thông tin dễ dàng nắm bắt được thực
trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp biểu hiện qua doanh thu và
chi phí của từng hoạt động, phần lợi nhuận ròng thu được trong kỳ, từ đó hình
thành một cái nhìn tổng quát nhất về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2. Phân tích các nhóm chỉ tiêu:
Thông qua phân tích các tỷ số tài chính của doanh nghiệp, chúng ta có thể
đánh giá khá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời các chỉ số
tài chính không chỉ cho thấy các mối quan hệ giữa các khoản mục khác nhau trong
các báo cáo tài chính, mà chúng còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh các
khoản mục đó của doanh nghiệp qua nhiều giai đoạn và so sánh với các doanh
nghiệp khác trong ngành.
2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán:
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn cần tới
các khoản tiền đi vay gọi là: nợ ngắn hạn, nợ trung hạn, nợ dài hạn. Trước khi thực
hiện vay các khoản nợ này, vấn đề của doanh nghiệp cũng như các chủ nợ của
doanh nghiệp quan tâm là khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng này
cho ta biết doanh nghiệp có thể thanh toán được các khoản vay hay không. Điều
này giúp cho doanh nghiệp có quyết định vay tiền hay không và ngược lại các chủ
nợ có quyết định cho doanh nghiệp vay hay không. Khả năng này là yếu tố quan
trọng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán
các khoản vay của doanh nghiệp hay không tức là thể hiện khả năng tài chính của
doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai. Vì vậy, để phán xét khả năng thanh toán
của doanh nghiệp chúng ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
 Khả năng thanh toán hiện hành: là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản
lưu động cho nợ ngắn hạn. Tài sản lưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán
dễ chuyển nhượng (tương đương tiền), các khoản phải thu và dự trữ (tồn kho), còn
nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín
dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả khác...
Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định-tới một
năm.Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn
của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được
trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương
đương với thời hạn của các khoản nợ đó.
Tài sản lưu động
Tỷ lệ thanh toán hiện hành =
( Hhh ) Nợ ngắn hạn
Hhh càng lớn thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng cao và ngược lại. Nếu
Hhh < 1 thì doanh nghiệp không đủ khả năng thánh toán nợ ngắn hạn. Thông thường
Hhh = 2 được coi là hợp lý, được đa số chủ nợ chấp nhận .
 Khả năng thanh toán nhanh: là tỷ lệ được tính bằng cách chia các tài
sản quay vòng nhanh cho nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài
sản có thể nhanh chóng biến đổi thành tiền bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn
hạn, các khoản phải thu. Tài sản dự trữ (tồn kho) là số tài sản khó chuyển thành
tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu bán không được. Do
đó, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ
ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ (tồn kho) và xác định
bằng cách lấy tài sản lưu động ròng trừ đi phần dự trữ (tồn kho) chia cho nợ
ngắn hạn .
Tài sản lưu động - Dự trữ
Tỷ lệ thanh toán nhanh =
( Hn ) Nợ ngắn hạn
Thông thường nếu tỷ số này lớn hơn 1 thì tình hình thanh toán của doanh
nghiệp là khả quan và ngược lại nếu nhỏ hơn 1 thì tình hình thanh toán của doanh
nghiệp là khó khăn. Tuy vậy, nếu tỷ lệ này quá cao sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng
vốn, giảm vòng qua của tiền...
 Hệ số thanh toán tức thời: Hệ số này được tính bằng tỷ số giữa các
khoản tiền mặt và coi như tiền mặt (tiền gửi Ngân hàng, ngân phiếu...) với số nợ
ngắn hạn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
các bạn hàng mà hoạt động khan hiếm tiền mặt (quay vòng vốn nhanh). Các
doanh nghiệp này cần phải được thanh toán một cách đúng hạn, nhanh chóng để
hoạt động được bình thường. Doanh nghiệp rất quan tâm tới chỉ số này vì nó thể
hiện toàn bộ số tiền mặt và coi như tiền mặt của doanh nghiệp ( không kể đến
các khoản phải thu vì trong tức thời không thể trông chờ hoàn toàn vào các
khoản này) có thể đảm bảo trả được bao nhiêu phần toàn bộ số nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp ngay lập tức.
Tiền và tiền tương đương
Tỷ lệ thanh toán tức thời =
( Htt ) Nợ ngắn hạn
Nếu Htt > 0,5 thì tình hình thanh toán của doanh nghiệp là khả quan còn
Htt < 0,5 thì doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong thanh toán. Nhưng nếu tỷ lệ
này quá cao thì không tốt vì các khoản tiền mặt và coi như tiền mặt quá nhiều làm
vòng quay tiền chậm lại, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng cân đối vốn hoặc cơ cấu vốn:
Khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua các tỷ lệ mà các
tỷ lệ này đo lường vốn góp của các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của
các chủ nợ đối với các doanh nghiệp, nó có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài
chính. Bởi lẽ chủ nợ nhìn số vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp để thể hiện mức độ
tin tưởng vào sự bảo đảm an toàn cho các món nợ. Nếu chủ sở hữu doanh nghiệp
chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp là do các chủ nợ gánh chịu. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thu được
lợi nhuận nhiều hơn tiền lãi phải trả thì lợi nhuận dành cho các chủ doanh nghiệp
tăng lên đáng kể.
 Tỷ lệ nợ trên tổng tài sản: là tỷ lệ được tính bằng cách chia tổng số nợ
cho tổng tài sản. Tỷ lệ này được dùng để đo lường sự góp vốn của chủ doanh
nghiệp so với số nợ vay. Chủ nợ rất ưa thích một tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợ
càng thấp, hệ số an toàn càng cao, món nợ của họ càng được bảo đảm, và họ có
cơ sở để tin tưởng vào sự đáo nợ đúng hạn của con nợ. Khi tỷ số nợ cao, tức là
chủ doanh nghiệp chỉ góp một phần nhỏ trên tổng số vốn, thì sự rủi ro trong
kinh doanh được chuyển sang chủ nợ gánh chịu một phần. Đồng thời, khi tỷ số
nợ cao thì chủ doanh nghiệp càng có lợi rõ rệt, vì khi đó họ chỉ bỏ ra một lượng
vốn nhỏ, nhưng lại được sử dụng một lượng tài sản lớn, và khi doanh lợi vốn
lớn hơn lãi suất tiền vay thì phần lợi nhuận của họ gia tăng rất nhanh. Mặt khác,
khi tỷ số nợ cao thì mức độ an toàn trong kinh doanh càng kém, vì chỉ cần một
khoản nợ tới hạn không trả được sẽ rất dễ làm cho cán cân thanh toán mất thăng
bằng, xuất hiện nguy cơ phá sản.
Tổng nợ
Tỷ lệ nợ =
TỔNG TÀI SẢN
 Hệ số cơ cấu tài sản: là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động
hoặc tài sản cố định cho tổng tài sản. Hệ số này được dùng để đánh giá trình độ
sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình sản xuất mà hệ số này ở
mức độ cao thấp khác nhau.
Cơ cấu cho từng loại tài sản được tính như sau:
Tài sản cố định
Tỷ trọng TSCĐ =
Tổng tài sản
Hoặc:
Tài sản lưu động
Tỷ trọng TSLĐ =
Tổng tài sản
Hệ số cơ cấu nguồn vốn:là tỷ lệ được tính bằng cách chia tổng nguồn vốn chủ sở
hữu cho tổng nguồn vốn. Hệ số này thể hiện mức độ tự chủ về tài chính của công
ty. Hệ số càng cao, khả năng tự chủ về mặt tài chính của Công ty càng lớn.
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số cơ cấu nguồn vốn =
Tổng nguồn vốn
2.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động:
Khả năng này được thể hiện qua các tỷ lệ mà các tỷ lệ này được sử dụng để
đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp. Nguồn vốn của doanh
nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác nhau như tài sản cố định, tài
sản lưu động. Do đó, mà các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường
hiệu quả sử dụng từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp. Chỉ tiêu
doanh thu tiêu thụ được sử dụng chủ yếu trong các tỷ lệ này để xem xét khả năng
hoạt động của doanh nghiệp.
 Vòng quay dự trữ (tồn kho): là chỉ tiêu khá quan trọng đánh giá hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được tính bằng cách chia doanh
thu tiêu thụ trong năm của doanh nghiệp cho giá trị dư trữ ( tồn kho ) bình quân.
Doanh thu thuần
Vòng quay dự trữ =
Dự trữ
 Kỳ thu tiền bình quân: Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh các
khoản phải thu, phải trả là điều tất yếu. Khi các khoản phải thu càng lớn, chứng
tỏ vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều ( ứ đọng trong khâu thanh
toán). Nhanh chóng giải phóng vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán là một bộ
phận quan trọng của công tác tài chính. Vì vậy, các nhà phân tích tài chính rất