Phân tích tài chính tại công ty cao su sao vàng

  • 66 trang
  • file .doc
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm chuyển đổi cơ cấu quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo xu hướng xã hội
chủ nghĩa đã đem lại sức sống mới cho đất nước ta, Nhà nước ta chủ trương giao
cho các Doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế quyền được tự hạch toán, kinh doanh
để phát huy tính tự chủ của các Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh. Cùng
chung tiến trình đổi mới và phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói
chung và các Doanh nghiệp Nhà nước nói riêng, trong khoảng 10 năm gần đây,
Công ty Cao su Sao Vàng đã có những bước tiến đáng kể. Để có được những
thành quả đó là nhờ những cố gắng tích cực của Ban lãnh đạo Công ty trong quá
trình chuyển đổi cơ chế quản lý, xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh phù
hợp với sự phát triển của nền kinh tế nước ta và sử dụng hợp lý những nguồn lực
của Công ty có hiệu quả.
Với các quy luật kinh tế đặc trưng, nền kinh tế thị trường đặt ra yêu cầu
mang tính khách quan đối với các Doanh nghiệp. Một Doanh nghiệp muốn đứng
vững trên thị trường thì Doanh nghiệp cần phải biết rõ những ưu nhược điểm của
mình để có thể phát huy hơn nữa những mặt đã đạt được và khắc phục những
mặt chưa đạt được. Chính vì vậy công tác Phân tích tài chính ngày càng được coi
trọng. Phân tích tài chính giúp các nhà quản lý Doanh nghiệp nắm rõ về tình hình
tài chính của Doanh nghiệp mình từ đó có những kế hoạch bước đi đúng đắn
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích tài chính cũng giúp cho các cơ
quan quản lý tầm vĩ mô có thể giám sát, kiểm tra và đánh giá được tình hình phát
triển sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Ngoài ra Phân tích tài chính còn có
thể giúp cho các nhà đầu tư ra những quyết định đúng đắn. Phân tích tài chính
dựa trên các báo cáo tài chính được lập định kỳ. Tuy nhiên công tác phân tài
chính ở các Doanh nghiệp nói chung và Công ty Cao su sao vàng nói riêng hiện
1
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
đang chưa được quan tâm đúng mức. Nhận thức được tầm quan trọng của đề tài
này nên em đã chọn đề tài : “ Phân tích tài chính tại Công ty Cao su Sao
Vàng”.
Kết cấu của chuyên đề bao gồm 3 phần :
Phần I : Những vấn đề Lý luận cơ bản về phân tích hoạt động tài
chính trong các Doanh nghiệp
Phần II : Thực trạng phân tích hoạt động tài chính tại Công ty Cao
su Sao Vàng
Phần III : Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính
tại Công ty Cao su Sao Vàng.
Do kiến thức và thời gian có hạn nên bài viết còn có nhiều sai sót mong
nhận được sự góp ý của các thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn trực tiếp cùng các cô chú,
anh chị trong phòng Kế toán tài chính của Công ty Cao su Sao Vàng đã giúp em
hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
2
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG
TÀI CHÍNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
I. HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH - KHÁI NIỆM CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM
VỤ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH
1. Khái niệm và chức năng của hoạt động tài chính :
Hoạt động tài chính là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng tới tình hình tài chính
của Doanh nghiệp. Ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu lại có tác động thúc
đẩy hay kìm hãm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó trước khi lập kế
hoạch tài chính Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu báo cáo tài chính của kỳ thực
hiện. Các báo cáo tài chính được soạn thảo theo định kỳ phản ánh một cách tổng
hợp và toàn diện về tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quả kinh doanh...
bằng các chỉ tiêu giá trị, nhằm mục đích thông tin về kết quả và tình hình tài
chính của Doanh nghiệp cho người lãnh đạo và bộ phận tài chính Doanh nghiệp
thấy được thực trạng tài chính của đơn vị mình, chuẩn bị căn cứ lập kế hoạch cho
kỳ tương lai.
Tuy vậy, tất cả các số liệu của kỳ thực hiện là những tài liệu có tính chất
lịch sử và chưa thể hiện hết những nội dung mà người quan tâm đòi hỏi. Vì vậy
người ta phải dùng kỹ thuật phân tích để thuyết minh các mối quan hệ chủ yếu,
giúp cho các nhà kế hoạch dự đoán và đưa ra các quyết định tài chính cho tương
lai, bằng cách so sánh, đánh giá xem xét xu hướng dựa trên các thông tin đó.
Phân tích tài chính Doanh nghiệp bao gồm các phương pháp và công cụ
cho phép thu thập và xử lý thông tin kế toán và các thông tin khác trong quản lý
Doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực của
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Doanh nghiệp, giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính,
quyết định quản lý phù hợp.
Phân tích tài chính Doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các Báo cáo
tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phương
pháp, công cụ và kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng thông tin từ các góc độ
khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, lại vừa xem xét một cách
chi tiết hoạt động tài chính Doanh nghiệp.
2. Phương pháp phân tích hoạt động Tài chính
2.1 Phương pháp so sánh
* Điều kiện áp dụng : Các chỉ tiêu cần phải thống nhất về thời gian và về
không gian, nội dung, tính chất, đơn vị tính toán mà theo mục đích phân
tích mà xác định gốc so sánh.
* Nội dung : So sánh giữa số hiện thực kỳ này với số hiện thực kỳ trước để
thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính Doanh nghiệp để đánh giá sự tăng trưởng
hay tụt lùi trong hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp.
So sánh giữa số hiện thực và số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu của
Doanh nghiệp.
So sánh giữa số liệu của Doanh nghiệp với số liệu trung bình nghành, của
các Doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của Doanh nghiệp tốt hay
xấu, được hay chưa được.
So sánh theo chiều dọc để xem xét tỉ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng
thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi cả về số
lượng tương đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các mức độ kế toán liên
tiếp.
2.2 Phương pháp phân tích theo chiều ngang
4
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Là việc so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu trên các Báo cáo tài chính.
Phân tích theo chiều ngang cho thấy sự biến động của từng chỉ tiêu. Điều quan
trọng ở đây là không chỉ đi so sánh để thấy được sự biến động về số tuyệt đối để
thấy được số tiền biến động qua thời gian là bao nhiêu mà cần thể hiện sự biến
động theo số phần trăm. Điều đó bổ sung nhiều cho bức tranh toàn cảnh. Chẳng
hạn Doanh thu năm nay tăng 100 triệu so với năm trước với tỉ lệ 10% sẽ được
đánh giá hoàn toàn khác với trường hợp Doanh thu năm nay tăng 100 triệu so với
năm trước với tỉ lệ 0,5%.
Sự biến động về số % được tính bằng sự biến động tuyệt đối giữa các năm
chia cho năm gốc. Việc tính toán này ở một số chỉ tiêu cho thấy tốc độ tăng
trưởng của Doanh nghiệp. Nếu Doanh nghiệp tăng trưởng các hoạt động kinh
doanh của mình thì Doanh thu và thu nhập của Doanh nghiệp phải tăng với tốc
độ cao hơn tốc độ lạm phát. Ngược lại Doanh thu và Thu nhập của Doanh nghiệp
tăng với tốc độ nhỏ hơn tốc độ lạm phát thì không thể có tốc độ tăng trưởng ở đó.
Khi phân tích ngang báo cáo tài chính nên so sánh số liệu hiện hành với
kết quả cùng kỳ năm trước. Việc này tránh cho việc phân tích không bị bóp méo
bởi những dao động theo mùa vụ trong hoạt động kinh doanh.
Điều cần chú ý là tỉ lệ % sẽ không có tác dụng khi số liệu kỳ gốc nhỏ , số
liệu kỳ gốc nhỏ nhiều khi cho người đọc Báo cáo tài chính cảm giác nhầm lẫn
dẫn đến sự đánh giá bị sai lệch.
2.3 Phương pháp phân tích theo chiều dọc
Là việc xem xét xác định tỉ trọng của từng thành phần trong tổng thể quy
mô chung. Qua đó thấy được mức độ quan trọng của từng thành phần trong tổng
thể. Nếu xem xét mọi thành phần thì điều đó cho thấy cơ cấu của tổng thể. Ví dụ
tỉ trọng của từng loại tài sản trong tổng số của nó cho thấy tầm quan trọng của tài
sản đó trong quá trình kinh doanh. Hay xem xét tỉ trọng của nguồn vốn cho thấy
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
kết cấu nguồn vốn của Doanh nghiệp như thế nào?. Tài sản của Doanh nghiệp
chủ yếu hình thành từ đâu.
Trong phân tích dọc vấn đề quan trọng là xác định quy mô chung cho phù
hợp với từng báo cáo và mối quan hệ giữa chỉ tiêu xem xét và quy mô chung đó.
Chẳng hạn khi phân tích Bảng Cân đối kế toán thì quy mô chung là tổng tài sản
hay tổng nguồn vốn nhưng khi xem xét tình hình phân bổ vốn lưu động thì quy
mô chung lại là tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn.
2.4 Phương pháp phân tích theo giá trị thời gian của tiền
Để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, cần sử dụng khái niệm giá trị
thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự án về một thời điểm,
thường là thời điểm hiện tại. Theo quan điểm của nhà đầu tư dự án được chấp
nhận khi LI > CF. Trong trường hợp này chi phí cơ hội của vốn được đề cập như
là tỉ lệ chiết khấu
Trong thực tế việc tính toán và so sánh luồng tiền khi có hay không có dự
án là rất phức tạp, đặc biệt đối với những Doanh nghiệp lớn. Rất may việc tính
toán đó không phảI bao giờ cũng rất cần thiết, một khi ta xác định tác động của
một dự án đề nghị đối với luồng tiền của Doanh nghiệp ta chỉ cần tập trung vào
luồng tiền chênh lệch là kết quả của dự án. Nguyên lý này được gọi là nguyên lý
tính độc lập.
Nguyên lý tính độc lập cho rằng : Một khi ta đã xác định luồng tiền chênh
lệch khi thực hiện dự án, ta có thể nhìn nhận dự án đó như là một Doanh nghiệp
nhỏ với Doanh thu, chi phí , tài sản và tất nhiên là các luồng tiền của nó. Khi đó
ta sẽ xem xét, so sánh các luồng tiền của Doanh nghiệp này với chi phí đầu tư
của nó. Kết quả quan trọng của phương pháp này là đánh giá dự án đơn thuần
với các giá trị độc lập với hoạt động khác hay dự án khác.
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ngoài ra còn có một số phương pháp mà các Doanh nghiệp hiện nay hay
sử dụng là phương pháp tỉ số và phương pháp Dupont.
3. Nhiệm vụ phân tích hoạt động Tài chính
Muốn thực hiện phân tích tài chính phải có những thông tin hay nói cách
khác thông tin là yếu tố không thể thiếu được trong phân tích tài chính của một
Doanh nghiệp. Vì vậy để cho việc phân tích tài chính của một Doanh nghiệp có
kết quả giúp cho việc dự đoán hoạch định một cách chính xác thì nhiệm vụ của
các nhà phân tích phải trải qua 3 bước sau :
3.1 Thu thập thông tin :
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và
thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính Doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình
dự đoán tài chính . Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin
bên ngoài, những thông tin kế toán và những thông tin quản lý khác, những
thông tin về số lượng và giá trị...trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập
trung trong các báo cáo tài chính Doanh nghiệp, là những nguồn thông tin đặc
biệt quan trọng. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo
tài chính Doanh nghiệp.
3.2. Xử lý thông tin :
Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá trình xử lý thông tin đã
thu thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên
cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ
mục tiêu phân tích đã đặt ra : xử lý thông tin là qúa trình xắp xếp các thông tin
theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác
định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và
quyết định.
3.3 Dự đoán và quyết định :
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề cần thiết để
người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định tài chính.
Thông tin có giá trị nhất đối với các nhà sử dụng báo cáo tài chính là
những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Do đó, các tỷ số có được do phân tích tài
chính sẽ giúp những nhà sử dụng báo cáo dự đoán tương lai bằng cách so sánh,
đánh giá và phân tích xu thế.
Các quyết định tài chính được đặt trên cơ sở nền tảng của công tác hoạch
định. Công tác này thường có hai mức : cấp chiến lược và cấp chiến thuật. Hoạch
định chiến lược xác định tuyến kinh doanh, các hoạt động dài hạn và các chính
sách tài chính của Doanh nghiệp. Các kế hoạch chiến thuật có hiệu lực trong thời
gian ngắn hơn và thường ảnh hưởng trong lĩnh vực nhỏ hơn của Doanh nghiệp so
với các quyết định chiến lược. Phân tích tài chính Doanh nghiệp là trọng tâm của
cả hoạch định chiến lược và chiến thuật.
II. ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH
NGHIỆP.
Tài chính Doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành hệ thống tài chính phục
vụ yêu cầu sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp, chính vì vậy để đánh giá
được tình hình taì chính của Doanh nghiệp trước hết cần phải xem xét khái quát
Báo cáo kết quả kinh doanh của Doanh nghiệp, nó bao gồm tập hợp các chỉ tiêu
và khoản mục biểu hiện thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh
nghiệp.
Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh gồm 2 phần chính :
Phần I gồm :
Thứ nhất là Thu nhập và chi phí từ hoạt động kinh doanh.
Thứ hai là Thu nhập và chi phí từ hoạt động tài chính.
Thứ ba là Thu nhập và chi phí từ hoạt động bất thường.
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Chênh lệch từ mỗi loại hoạt động và chi phí cho biết kết quả của mỗi hoạt
động tương ứng trong Doanh nghiệp. Tổng hợp ba kết quả này sau khi trừ đi
phần thuế thu nhập Doanh nghiệp chính là kết quả kinh doanh cuối cùng.
Phần II gồm có : Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước như các
khoản thuế, lệ phí Doanh nghiệp phải nộp, đã nộp và còn nợ ngân sách trong kỳ.
Tóm lại bằng việc xem xét cụ thể từng chỉ tiêu, khoản mục Doanh thu, chi
phí theo phương pháp trừ lùi, người sử dụng thông tin dễ dàng nắm bắt được
thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp biểu hiện qua doanh
thu và chi phí của từng hoạt động, phần lợi nhuận ròng thu được trong kỳ, từ đó
hình thành một cái nhìn tổng quát nhất về tình hình sản xuất kinh doanh của
Doanh nghiệp.
Thông qua phương pháp phân tích các tỉ số taì chính của Doanh nghiệp,
chúng ta có thể đánh giá khái quát tình hình tài chính của Doanh nghiệp.
II.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn cần tới
các khoản tiền đi vay gọi là : nợ ngắn hạn, nợ trung hạn, nợ dài hạn. Trước khi
thực hiện vay các khoản nợ này, vấn đề của Doanh nghiệp cũng như các chủ nợ
của Doanh nghiệp quan tâm là khả năng thanh toán của Doanh nghiệp. Khả năng
này cho ta biết Doanh nghiệp có thể thanh toán được các khoản vay hay không.
Khả năng này là yếu tố quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của Doanh
nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản vay của Doanh nghiệp hay không
tức là thể hiện khả năng tài chính của Doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai.
Vì vậy, để phán xét khả năng thanh toán của Doanh nghiệp chúng ta sử dụng các
chỉ tiêu sau :
 Khả năng thanh toán hiện hành :
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động cho nợ ngắn hạn. Tài
sản lưu động thường bao gồm tiền, các chứng khoán dễ chuyển nhượng, các
khoản phải thu và dự trữ, còn nợ ngắn hạn thường bao gồm các khoản vay ngắn
hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản phải trả nhà cung cấp, các
khoản phải trả khác ...
Cả tài sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời hạn nhất định tới một năm.
Tỷ lệ khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán của Doanh
nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang
trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương
với thời hạn của các khoản nợ đó.
Tài sản lưu động
Tỉ lệ thanh toán hiện hành =
( Hhh) Nợ ngắn hạn
Hhh càng lớn thì khả năng thanh toán nợ ngắn hạn càng cao và ngược lại.
Nếu Hhh < 1 thì Doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Thông
thường Hhh = 2 được coi là hợp lý được đa số chủ nợ chấp nhận.
 Khả năng thanh toán nhanh :
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia các tài sản quay vòng nhanh cho nợ
ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể nhanh chóng biến đổi
thành tiền gồm : tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Tài sản dự trữ
là số tài sản khó chuyển thành tiền hơn trong tổng tài sản lưu động và dễ bị lỗ
nhất nếu bán không được. Do đó, tỷ lệ khả năng thanh toán nhanh cho biết khả
năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự
trữ và xác định bằng cách lấy tài sản lưu động ròng trừ đi phần dự trữ chia cho
nợ ngắn hạn.
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Tài sản lưu động - Dự trữ
Tỉ lệ thanh toán nhanh =
( Hn ) Nợ ngắn hạn
Thông thường nếu tỉ số này >1 thì tình hình thanh toán của Doanh nghiệp
là khả quan và ngược lại nếu < 1 thì tình hình thanh toán của Doanh nghiệp khó
khăn. Tuy vậy, nếu tỉ lệ này quá cao sẽ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, giảm
vòng quay của tiền ...
II.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng cân đối vốn hay cơ cấu vốn
Khả năng cân đối vốn của Doanh nghiệp được thể hiện qua các tỉ lệ mà
các tỉ lệ này đo lường vốn góp của các chủ sở hữu Doanh nghiệp so với phần tài
trợ của các chủ nợ đối với các Doanh nghiệp.
 Tỉ lệ nợ trên tổng tài sản :
Là tỉ lệ được tính bằng cách chia tổng số nợ cho tổng tài sản. Tỉ lệ này
được dùng để đo lường sự góp vốn của chủ Doanh nghiệp so với số nợ vay. Chủ
nợ rất ưa thích một tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợ càng thấp, hệ số an toàn càng cao,
món nợ của họ càng được bảo đảm. Khi tỷ số nợ cao tức là chủ Doanh nghiệp
chỉ góp một phần nhỏ trên tổng số vốn, thì sự rủi ro trong kinh doanh được
chuyển sang chủ nợ gánh chịu một phần. Tỷ số nợ cao cũng không có lợi cho
chủ Doanh nghiệp vì tỷ số nợ cao làm cho mức độ an toàn kém, vì chỉ cần một
khoản nợ tới hạn không trả được sẽ làm cho cán cân thanh toán mất thăng bằng,
xuất hiện nguy cơ phá sản.
Tổng nợ
Tỷlệ nợ =
Tổng tài sản
 Hệ số cơ cấu tài sản :
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tài sản lưu động hay tài sản cố định cho
tổng tài sản. Hệ số này được dùng để đánh giá trình độ sử dụng vốn của Doanh
nghiệp. Tuỳ theo từng loại hình sản xuất mà hệ số này ở mức độ cao thấp khác
nhau.
Cơ cấu cho từng loại tài sản được tính như sau :
Tài sản cố định
Tỷ trọng TSCĐ =
Tổng tài sản
Hay :
Tài sản lưu động
Tỷ trọng TSLĐ =
Tổng tài sản
 Hệ số cơ cấu nguồn vốn :
Là tỷ lệ được tính bằng cách chia tổng nguồn vốn chủ sở hữu cho tổng
nguồn vốn. Hệ số này thể hiện mức độ tự chủ về tài chính của Công ty. Hệ số
càng cao, khả năng tự chủ về mặt tài chính của Công ty càng lớn :
Nguồn vốn chủ sở hữu
Hệ số cơ cấu nguồn vốn =
Tổng nguồn vốn
II.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động:
Khả năng này được thể hiện qua các tỉ lệ mà các tỉ lệ này được sử dụng để
đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Doanh nghiệp. Nguồn vốn của Doanh
nghiệp được dùng để đầu tư cho các loại tài sản khác nhau như Tài sản cố định,
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
tài sản lưu động. Chỉ tiêu doanh thu được sử dụng chủ yếu trong các tỉ lệ này để
xem xét khả năng hoạt động của Doanh nghiệp.
 Vòng quay dự trữ ( tồn kho ) :
Là chỉ tiêu khá quan trọng đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, được tính bằng cách chia Doanh thu tiêu thụ trong năm của Doanh
nghiệp cho giá trị dự trữ (tồn kho) bình quân.
Doanh thu thuần
Vòng quay dự trữ =
Dự trữ
 Kỳ thu tiền bình quân :
Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh các khoản phải thu, phải trả là
điều tất yếu . Khi các khoản phải thu của Doanh nghiệp càng lớn, chứng tỏ vốn
của Doanh nghiệp bị chiếm dụng càng nhiều. Nhanh chóng giải phóng vốn bị ứ
đọng trong khâu thanh toán là một bộ phận quan trọng của công tác tài chính
Phải thu x 360
Tỷ lệ kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu thuần
 Hiệu suất sử dụng tài sản cố định :
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được doanh thu trong
cả năm. Tài sản cố định ở đây được xác định là giá trị còn lại đến thời điểm báo
cáo. Giá trị Tài sản cố định là nguyên giá tài sản cố định khấu trừ phần hao mòn
phần tài sản cố định cộng dồn đến thời điểm tính.
Doanh thu thuần
Tỷ lệ hiệu suất sử dụng tài sản cố định =
Giá trị Tài sản cố định
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
II.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lợi :
Đây là một trong những nội dung phân tích được các nhà đầu tư, các nhà
tín dụng quan tâm đặc biệt vì nó gắn liền lợi ích của họ cả về hiện tại và tương
lai. Tỷ lệ khả năng sinh lợi phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh
doanhvà hiệu quả quản lý của Doanh nghiệp, từ đó ra những quyết định phù hợp
cho lợi ích của riêng mình.
 Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm :
Để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh thuận lợi hay suy thoái, ngoài
việc xem xét chỉ tiêu doanh thu đạt được trong kỳ, các nhà phân tích còn xác
định số lợi nhuận sau thuế đạt được trong một trăm đồng doanh thu.
Lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cao chưa chắc đã phải là tốt vì cao do giảm chi phí là tốt
nhưng cao do giá bán tăng trong thị trường cạnh tranh chưa chắc đã phải là tốt.
 Doanh lợi vốn chủ sở hữu :
So với người cho vay, thì việc bỏ vốn vào kinh doanh của chủ sở hữu
mang tính mạo hiểm hơn, nhưng lại có nhiều cơ hội lợi nhuận cao
Lợi nhuận sau thuế
Doanh lợi vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
II.5 Phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn :
14
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Những người liên quan đến Doanh nghiệp có thể chưa hài lòng vì những
thông tin nêu trên chưa chỉ rõ được vốn xuất phát từ đâu và được sử dụng vào
việc gì theo thứ tự thời gian. Vì thế, bảng phân tích diễn biến nguồn vốn và sử
dụng vốn đã trở thành một trong những công cụ hữu hiệu của nhà quản lý tài
chính trong việc xác định rõ các nguồn cung ứng vốn và mục đích sử dụng các
nguồn vốn.
Trong phân tích nguồn vốn và sử dụng vốn, người ta thường xem xét sự
thay đổi của các nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của một Doanh nghiệp
trong một thời kỳ theo số liệu giữa hai thời điểm lập bảng tổng kết tài sản.
Để lập được bảng này trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục
trên bảng cân đối tài sản từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Do vậy, mỗi sự thay đổi của các
tài khoản trên bảng cân đối kế toán có thể được xếp vào cột nguồn vốn hay sử
dụng vốn theo quy luật sau :
+ Nếu tăng phần tài sản và giảm phần nguồn vốn thì được xếp vào cột sử
dụng vốn.
+ Nếu giảm phần tài sản và tăng phần nguồn vốn thì được xếp vào cột
nguồn vốn.
Việc thiết lập biểu kê nguồn vốn và sử dụng vốn là cơ sở để tiến hành
phân tích và sử dụng vốn nhằm chỉ ra những trọng điểm đầu tư vốn và những
nguồn vốn chủ yếu được hình thành để tài trợ cho những đầu tư đó.
Bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn
Đơn vị tính :
Đầu kỳ Cuối kỳ Sử dụng vốn Nguồn vốn
Tài sản
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
1. Tiền và chứng khoán
2. Các khoản phải thu
...
Nguồn vốn
1. Vay ngân hàng
2. Các khoản phải trả
...
Tổng cộng
Nội dung phân tích này cho ta biết trong một kỳ kinh doanh nguồn vốn
tăng ( giảm ) bao nhiêu? Tình hình sử dụng vốn như thế nào? Những chỉ tiêu nào
ảnh huởng đến sự tăng ( giảm ) nguồn vốn và sử dụng vốn của Doanh nghiệp?
Từ đó các nhà quản lý sẽ có các giải pháp khai thác các nguồn vốn và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn.
III. PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN VÀ CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA
DOANH NGHIỆP.
1. Phân tích cơ cấu tài sản.
Về cơ cấu tài sản, bên cạnh việc so sánh tổng số tài sản cuối kỳ so với đầu
năm còn phải xem xét tỉ trọng từng loại tài sản chiếm trong tổng số và xu hướng
biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lý của việc phân bổ. Việc đánh
giá phải dựa trên tính chất kinh doanh và tình hình biến động của từng bộ phận.
Cũng qua việc phân tích cơ cấu tài sản, ta biết được hệ số đầu tư :
Tài sản cố định đã và đang đầu tư
Hệ số đầu tư =
Tổng số tài sản
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Trong đó tài sản cố định đã và đang đầu tư được lấy từ chỉ tiêu “Tài sản cố
định”; Chỉ tiêu “ Chi phí xây dựng dở dang “ và chỉ tiêu tổng cộng tài sản trên
Bảng Cân đối kế toán.
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung
và máy móc thiết bị nói riêng của Doanh nghiệp. Nó cho biết năng lực sản xuất
và xu hướng phát triển lâu dài của Doanh nghiệp. Trị số của từng chỉ tiêu này
phụ thuộc vào từng nghành kinh doanh cụ thể. Thông thường hệ số đầu tư được
coi là hợp lý trong một số nghành nếu đạt trị số sau :
- Ngành công nghiệp thăm dò và khai thác dầu mỏ : 0,9
- Nghành công nghiệp luyện kim : 0,7
- Ngành công nghiệp chế biến : 0,1
- ...
Đối với một số Doanh nghiệp thuộc ngành thương mại, dịch vụ hệ số này
thay đổi phụ thuộc vào từng hoạt động kinh doanh cũng như điều kiện kinh
doanh cụ thể.
Đồng thời với việc phân tích cơ cấu tài sản, cần xem xét tình hình biến
động của từng khoản mục tài sản cụ thể. Qua đó, đánh giá tính hợp lý của sự
biến động. Chẳng hạn, với doanh nghiệp sản xuất, khoản mục nguyên vật liệu
tồn kho phải bảo đảm đủ cho quá trình sản xuất được liên tục, không thừa làm
gây ứ đọng; Còn với Doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá thì hàng hoá tồn kho
phải chiếm tỉ trọng tương đối cao trong tổng số hàng tồn kho...
Để tiến hành phân tích cơ cấu tài sản, cần lập bảng phân tích sau :
Bảng phân tích cơ cấu tài sản
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ Cuối kỳ so
với đầu năm
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Số Tỉ Số Tỉ Số Tỉ
tiền trọng Tiền trọng Tiền trọng
(đ) (%) (đ) (%) (đ) (%)
A. TSLĐ và đầu tư ngắn hạn
I. Tiền
II. Đầu tư tài chính ngắn hạn.
III. Các khoản phải thu.
IV. Hàng tồn kho
V. TàI sản lưu động khác
VI. Chi sự nghiệp
B. TSCĐ và đầu tư dài hạn
I. TàI sản cố định
II. Đầu tư tài chính dài hạn
III. Chi phí xây dựng cơ bản
dở dang.
IV. Ký quỹ, ký cược dài hạn .
Tổng cộng 100,0 100,0
2. Phân tích cơ cấu nguồn vốn.
Đối với nguồn vốn, cần xem xét tỉ trọng từng loại chiếm trong tổng số
cũng như xu hướng biến động của chúng. Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỉ
trọng cao trong tổng số nguồn vốn thì doanh nghiệp có đủ khả năng tự bảo đảm
về mặt tài chính và mức độ độc lập của Doanh nghiệp đối với các chủ nợ là cao.
Ngược lại nếu công nợ phải trả chiếm trong tổng số nguồn vốn thì khả năng bảo
18
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
đảm về mặt tài chính của Doanh nghiệp sẽ thấp. Điều này dễ thấy thông qua hệ
số chỉ tiêu tài trợ.
Khi phân tích cơ cấu nguồn vốn, có thể lập bảng phân tích theo cơ cấu sau:
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối kỳ Cuối kỳ so
với đầu năm
Số Tỉ Số Tỉ Số Tỉ
tiền trọng Tiền trọng Tiền trọng
(đ) (%) (đ) (%) (đ) (%)
A. Nợ phải trả
I. Nợ ngắn hạn
II. Nợ dài hạn
III. Nợ khác
B. Nguồn vốn chủ sở hữu
I. Nguồn vốn, quỹ
Nguồn kinh phí, quỹ khác
Tổng cộng 100,0 100,0
IV.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
1. Phân tích tình hình thanh toán của Doanh nghiệp.
Tình hình thanh toán của Doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu
phản ánh nợ phải thu và các chỉ tiêu phản ánh nợ phải trả. Về mặt tổng thể, tình
hình thanh toán nợ phải thu và nợ phải trả thể hiện qua các chỉ tiêu sau :
- Tỉ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả (%) :
Chỉ tiêu này phản ánh các khoản Doanh nghiệp bị chiếm dụng so với các
khoản đi chiếm dụng và được tính theo công thức :
19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Tổng số nợ phải thu
Tỉ lệ các khoản nợ phải thu = x 100
so với các khoản nợ phải trả Tổng số nợ phải trả
Nếu tỉ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả lớn hơn
100%, chứng tỏ số vốn của Doanh nghiệp bị chiếm dụng lớn hơn số vốn mà
Doanh nghiệp đi chiếm dụng. Ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 100% chứng tỏ
số vốn Doanh nghiệp bị chiếm dụng nhỏ hơn số vốn Doanh nghiệp đi chiếm
dụng. Thực tế cho thấy, số đi chiếm dụng lớn hơn hay nhỏ hơn số bị chiếm dụng
đều phản ánh bị chiếm dụng một tình hình tài chính không lành mạnh.
- Tỉ lệ các khoản nợ phải trả so với các khoản nợ phải thu:
Tổng số nợ phải trả
Tỉ lệ các khoản nợ phải trả = x 100
so với các khoản nợ phải thu Tổng số nợ phải thu
Nếu tỉ lệ các khoản nợ phải trả so với các khoản nợ phải thu lớn hơn
100%, chứng tỏ số vốn Doanh nghiệp đi chiếm dụng lớn hơn số vốn mà Doanh
nghiệp bị chiếm dụng. Ngược lại nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 100%, chứng tỏ số
vốn Doanh nghiệp đi chiếm dụng nhỏ hơn số vốn đặc biệt bị chiếm dụng.
- Số vòng luân chuyển các khoản phải thu :
Số vòng luân chuyển các khoản phải thu là chỉ tiêu phản ánh trong kỳ kinh
doanh, các khoản phải thu quay đuợc mấy vòng và được tính theo công thức :
Tổng số tiền hàng bán chịu
Số vòng luân chuyển = x 100
các khoản phải thu Số dư bình quân các khoản phải thu
20