Pgs.ts. doan the loi(2)

  • 8 trang
  • file .pdf
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH LÀ GIẢI PHÁP
QUAN TRỌNG NHẤT THỰC HIỆN TÁI CƠ CẤU NGÀNH THỦY LỢI
VÀ TẠO ĐỘNG LỰC ĐỔI MỚI NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC
CÁC CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI HIỆN CÓ
PG S.TS. Đoàn Thế lợi
Viện Kinh tế và Quản lý thủy lợi
Tóm tắt: Công tác thủy lợi hiện đang bộc lộ một số tồn tại, hạn chế và đang đối diện với nhiều khó
khăn thách thức trước yêu cầ u phát triển m ới của đất nước, của ngành nông nghiệp. Nhu cầu sử
dụng nước ngày càng lớn, tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, thiên tai lũ lụt hạn hạn
xảy ra khốc liệt hơn, mâu thuẫn về lợi ích giữa các ngành dùng nước ngày càng gay gắt. Hầu hết
công trình thủy lợi xây dựng từ hàng chục năm trước đến nay đã hư hỏng xuống cấp không đáp ứng
yêu cầu sử dụng nước của m ột n ền sản xuất nông nghiệp hiện đại, đa dạng. Hiệu quả quản lý khai
th ác công trình thủy lợi còn thấp , cơ chế chính sách quản lý nhiều bất cập, chậm đổi mới theo cơ chế
thị trường đã và đang ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công trình thủy lợi. Hoàn thiện
khung thể chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi hiện có
được coi là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhất hiện nay, chi phí đầu tư thấp nhưng hiệu quả đạt
được là rất lớn. Đây được coi là hành động thiết thực nhất để thực hiện thành công đề án tái cơ cấu
ngành nông nghiệp. Bài viết phân tích và đề xuất m ột số giải pháp hoàn thiện khung thể chế, chính
sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi hiện có.
Summary: Irrigation activity has been being revealed som e problem s and is facing to difficulties
and challenges in front of new developm ent requirem ents of the nation in generally and agricultural
sector in particularly. In fact, the water use demand is higher and higher together with negative
im pacts of climate change and sea water level rising. Flooding and drought occur m ore seriously.
Benefit conflicts among water use sectors is more severely. Alm ost all of the irrigation and drainage
system s were constructed ten years ago, which were damaged and degraded and could not satisfy
with water use demand of the modern and diversification agricultural production. Exploitative
productivity of the irrigation systems is very low; the policy mechanism s in O& M management are
insufficient, slow reform toward to m arket m echanism. This has influenced to operational efficiency
of the irrigation system s. Com pleting institutional fram ework and policy aim ing to enhance
exploitative productivity of existing irrigation system s is considering as an important and im perative
task at present, which needs low investm ent cost but could get very huge achievem ent. It is
considered as the most practical activity to successfully implem ent the agricultural restructure. This
paper analyzed and suggested some solutions for completing institutional fram ework and policy to
enhance exploitative productivity of the existing irrigation system s.
*
I. ĐẶT VẤN ĐỀ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hạn hẹp không
đáp ứng yêu cầu đầu tư xây dựng m ới, sửa chữa
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các công
nâng cấp công trình. Theo báo cáo của Tổng cục
trình thuỷ lợi hiện có là nhiệm vụ quan trọng
nhất hiện nay của ngành thủy lợi, khi m à nguồn Thủy lợi, cả nước hiện có 6.648 hồ chứa các
loại, khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500
cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh m ương,
Người phản biện: TS. Trần Văn Đạt 25.960 km đê… làm nhiệm vụ tưới tiêu, cấp
Ngày nhận bài: 10/11/2014
Ngày thông qua phản biện: 28/11/2014 nước, phòng chống thiên tai, thau chua rửa mặn
Ngày duyệt đăng: 17/12/2014 phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dân
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 24 - 2014 1
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
sinh, kinh tế-xã hội và môi trường sinh thái. Đây chuyển biến, khi đối diện các khó khăn
là khối tài sản to lớn mà nhà nước và nhân dân thường đổ lỗi cho “cơ chế” nhưng ít ai thấy
đã đổ bao công sức, tiền bạc xây dựng trong suốt trách nhiệm đầu tiên chính là do bộ máy lãnh
nhiều thập kỷ qua. đạo quản lý điều hành. Hơn nữa việc đổi mới
Trong bối cảnh mới, nhiệm vụ của ngành theo cơ chế thị trường, bảo đảm công khai
thủy lợi rất nặng nề với nhiều khó khăn m inh bạch các hoạt động quản lý khai thác
thách thức như nhu cầu sử dụng nước không công trình thủy lợi sẽ ảnh hưởng tới lợi ích
ngừng tăng lên, nguồn nước ngày càng khan của một số ít nhóm người có quyền lực và đó
hiếm; tác động biến đổi khí hậu và nước biển là cản trở lớn nhất khi thực hiện đổi m ới cơ
dâng, thiên tai lũ lụt hạn hạn, xâm nhập mặn chế quản lý. Thực tiễn đã chỉ ra rằng vai trò
xảy ra với tần suất nhiều hơn và khốc liệt và ảnh hưởng của người lãnh đạo, quản lý
hơn; mâu thuẫn về lợi ích giữa các ngành, quyết định sự thành công của một công cuộc
lĩnh vực có liên quan đến nước ngày càng đổi m ới.
gay gắt nên công tác quản lý ngày càng khó Bài viết giới thiệu một số kết quả nghiên cứu
khăn và phức tạp. Trong khi hầu hết các đánh giá hiện trạng quản lý khai thác công
công trình thủy lợi xây dựng từ hàng chục trình thuỷ lợi, những kết quả đã đạt được,
năm trước đến nay đã hư hỏng xuống cấp; các tồn tại bất cập cần phải tháo gỡ và đề
nhiệm vụ thiết kế, hiện trạng công trình và xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
đối tượng phục vụ đã không còn phù hợp với quả hoạt động của các hệ thống công trình
thực tiễn sản xuất và yêu cầu của m ột nền thuỷ lợi hiện có.
sản xuất nông nghiệp hiện đại, đa dạng, vận
hành theo quan hệ cung cầu của thị trường; II. PHƯƠ NG PHÁP NG HIÊN CỨU
nhiều cơ chế, chính sách quản lý đã quá bất - Phương pháp phân tích, thống kê: Nghiên
cập với môi trường sản xuất của cơ chế thị cứu dựa trên các thông tin thứ cấp thông qua
trường đã và đang ảnh hưởng đến hiệu quả thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu hiện
hoạt động của các công trình thủy lợi. có về hiện trạng quản lý khai thác công trình
Hoàn thiện khung thể chế, chính sách nhằm thủy lợi, tóm lược những kết quả to lớn đã
nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công đạt và những khó khăn thách thức trong quản
trình thuỷ lợi hiện có được coi là nhiệm vụ lý khai thác công trình thủy lợi.
quan trọng và cấp bách nhất hiện nay, chi phí - Phương pháp chuyên gia chuyên khảo:
đầu tư thấp m à hiệu quả đạt được là rất lớn và Thông qua các cuộc hội thảo, hội nghị thảo
đây được coi là hành động thiết thực nhất để luận, lấy ý kiến của các chuyên gia giỏi, có
thực hiện thành công đề án tái cơ cấu ngành kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý sản xuất
nông nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ
và quản lý nhà nước nhằm đề xuất các giải
phê duyệt. Nhiệm vụ này mở đường cho đổi
pháp đổi m ới về thể chế chính sách phù hợp
m ới nhưng lại là nhiệm vụ khó khăn nhất.
với thực tiễn, có tính khả thi cao.
Như TS.Nguyễn Đình Cung đã từng đề cập
nhiều lần tại các diễn đàn rằng “Chúng ta nói III. HIỆN TRẠNG Q UẢN LÝ KHAI
cải cách thể chế là đúng, nhưng thế nào là cải THÁC CÔ NG TRÌNH THỦY LỢ I
cách thể chế thì không ai bàn, đột phá về thể
3.1. Những kết quả đã đạt được
chế nghĩa là gì cũng không bàn. Cho nên
chúng ta cứ nói mà không hành động được”. a) Công trình thủy lợi đã góp phần quan
Tư duy bao cấp đã ăn sâu vào tiềm thức của trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội,
m ột số cán bộ quản lý các cấp nên rất khó phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường
2 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 24 - 2014
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
sinh thái: Nhờ sự quan tâm của Đảng, nhà nguồn nước tự nhiên, cải tạo đất, điều hoà
nước, sự đóng góp công sức, tiền bạc của dòng chảy, duy trì nguồn nước về m ùa khô,
nhân dân trong suốt nhiều thập kỷ qua, Việt giảm lũ về mùa m ưa, thau chua, rửa mặn,
nam là m ột trong số ít các quốc gia trong lấy phù sa tăng độ phì nhiêu cho đồng
khu vực có hệ thống thủy lợi tương đối ruộng, cải tạo môi trường sinh thái và môi
hoàn chỉnh phục vụ tốt sản xuất nông trường sống của dân cư tạo nên những cảnh
nghiệp. Theo tổng hợp của Tổng cục Thủy quan đẹp, biến nhiều vùng đất khô cằn trở
lợi cả nước hiện có 6.648 hồ chứa các loại, thành những vùng đất trù phú như Dầu
khoảng 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500 Tiếng (Tây Ninh), Sông Quao, Cà Giây
cống tưới tiêu lớn, 234.000 km kênh (Bình Thuận)...
m ương, 2 5.958 k m đê các loại. Trong đó, có
904 hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu từ b) Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý khai
200 ha trở lên. Nhiều hệ thống công trình thác công trình thủy lợi từng bước được củng
thủy lợi đã mang lại hiệu quả to lớn cho cố và phát triển: Theo số liệu thống kê của
phát triển k inh tế x ã hội, dân sinh và phòng Viện Kinh tế và Quản lý thủy lợi, tính đến
chống giảm n hẹ thiên tai như Cửa Đạt, Định cuối năm 2012 cả nước có 1.005 cán bộ công
Bình, Rào Đá, Tân Mỹ, Sông Sào, Ngàn chức, viên chức trong bộ m áy quản lý nhà
Trươi, Đá Hàn, Tả Trạch, Vân Phong, Nước nước về thủy lợi ở cấp tỉnh (62 Chi cục và 1
Trong, Phan Rí - Phan Thiết, Phước Hòa, Phòng thủy lợi) và 102 đơn vị trực tiếp quản
Easup Thượng… lý khai thác các hệ thống công trình thủy lợi
(92 doanh nghiệp, 2 Ban quản lý, 4 Trung
Theo báo cáo của Cục trồng trọt, tổng diện
tâm và 4 Chi cục Thủy lợi kiêm nhiệm ) với
tích đất trồng lúa được tưới của năm 2013
24.458 người. Ngoài ra còn 16.238 tổ chức
đạt trên 7,9 triệu ha (trong đó Đông Xuân
hợp tác dùng nước với hơn 36.800 người
3,14 triệu ha, Hè Thu 2,147 triệu ha, Mùa
tham quản lý các công trình thủy lợi quy nhỏ
1,985 triệu ha), ngoài ra các công trình thuỷ
và thủy lợi nội đồng. Cho đến nay, hầu hết
lợi còn tưới cho 1,5 triệu ha rau m àu, cây
các công trình thuỷ lợi đều có đơn vị trực
công nghiệp; tạo nguồn nước cho 1,3 triệu ha
3 tiếp quản lý, khai thác và bảo vệ. Công tác
đất gieo trồng, cung cấp khoảng 6 tỷ m
quản lý khai thác công trình thuỷ lợi đang
nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, ngăn
từng bước đi vào nề nếp, tuân thủ các quy
m ặn 0,87 triệu ha, th au chua rửa phèn 1, 6
định về quản lý, vận hành công trình, phục
triệu ha và tiêu nước cho trên 1,72 triệu ha
vụ tốt sản xuất, dân sinh kinh tế xã hội và
đất nông nghiệp. Các công trình thủy lợi góp
chưa xảy ra các sự cố lớn về mất an toàn
phần ngăn lũ, tiêu thoát nước, đặc biệt tiêu
công trình ảnh hưởng đến sản xuất và đời
thoát nước cho các thành phố, khu đô thị bảo
sống của nhân dân. Ở m ột số tỉnh đã chủ
vệ cho hàng chục triệu dân cư, giảm được
động đổi m ới mô hình tổ chức và cơ chế
các tổn thất về người, tài sản và các hoạt
quản lý nhằm nâng cao hiệu quả các công
động kinh tế-xã hội.
trình thủy lợi như: Tuyên Quang, An Giang,
Thuỷ lợi tạo điều kiện để đa dạng hoá cây Hà Nội, Thái Nguyên, Ninh Thuận, Bình
trồng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao Thuận, Tiền Giang, Thanh Hóa, Công ty
hiệu suất sử dụng đất, cải tạo đất, cải tạo TNHHMTV Khai thác công trình thuỷ lợi
m ôi trường, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Bắc Nam Hà,…
m ới về canh tác làm tăng giá trị sản xuất.
Nhờ có thuỷ lợi đã tạo điều kiện phân bố lại
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 24 - 2014 3
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
bất cập, mang nặng tính bao cấp chưa theo kịp
với sự chuyển dịch chung của nền kinh tế vận
hành theo cơ chế thị trường đã và đang ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công
trình thủy lợi.
3.2. Những tồn tại và bất cập trong quản lý
khai thác công trình thủy lợi
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích to lớn
như đã đề cập ở trên, công tác quản lý khai
thác công trình thủy lợi hiện vẫn còn nhiều tồn
tại và bất cập, cụ thể là:
PGS.TS. Nguyễn Vũ Việt phát biểu tại Hội
a) Cơ chế chính sách đầu tư còn chưa hợp lý,
nghị đổi mới nâng cao hiệu quả quản lý khai
chú trọng đầu tư xây dựng m ới, đầu tư công
thác công trình thủy lợi của các công ty trực
trình đầu mối m à chưa quan tâm nhiều đến đầu
thuộc Bộ NN&PTNT.
tư nâng cấp, hiện đại hóa, hoàn chỉnh hệ thống
c) Cơ chế chính sách quản lý khai thác đang nên thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng đến hiệu quả
từng bước được hoàn thiện phục vụ công tác khai thác. Nhiều hệ thống công trình thủy lợi,
quản lý: Trong những năm qua, một số cơ chế nhất là các hệ thống lớn xây dựng xong công
chính sách về quản lý khai thác công trình trình đầu m ối mà vẫn chưa xây dựng kênh
thủy lợi đã được ban hành phục vụ công tác m ương dẫn nước, công trình điều tiết nước,
quản lý như: Pháp lệnh số 32/2001/PL- công trình nội đồng nên chưa khai thác hết
UBTVQH10 về Khai thác và Bảo vệ công năng lực của công trình theo thiết kế, thất thoát
trình thuỷ lợi, Nghị định số 143/2003/NĐ-CP lãng phí nước còn lớn. Chính sách thủy lợi phí
quy định chi tiết thi hành m ột số điều của Pháp không phù hợp, sản phẩm dịch vụ tưới tiêu
lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi; phải được phản ánh qua cơ chế giá mới phù
Nghị định số 140/2005/NĐ-CP quy định về hợp với tính chất sản xuất, nhưng hiện vẫn
xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý, theo cơ chế phí và lệ phí. Mức thu thủy lợi phí
khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi; Nghị chỉ mới tính đến các chi phí quản lý vận hành
định số 72/2007/NĐ-CP ngày 7/5/2007 về m à chưa tính đến chi phí sửa chữa lớn, nâng
quản lý an toàn đập; Thông tư số 75/2004/TT- cấp; trong khi không có quy định cụ thể về đầu
BNN Hướng dẫn việc thành lập, củng cố và tư sửa chữa lớn, nâng cấp công trình hàng năm
phát triển tổ chức hợp tác dùng nước; Thông là nguyên nhân gây ra hư hỏng, xuống cấp
tư số 65/2009/TT-BNNPTNT Hướng dẫn tổ công trình, giảm năng lực và chất lượng dịch
chức hoạt động và phân cấp quản lý khai thác vụ tưới tiêu, thất thoát lãng phí nước lớn, ảnh
công trình thuỷ lợi; Thông tư số 56/2010/TT- hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp,
BNNPTNT Quy định m ột số nội dung trong tiềm ẩn nguy cơ m ất an toàn, nhất là vào mùa
hoạt động quản lý, khai thác công trình thuỷ m ưa bão.
lợi; Thông tư số 40/2011/TT-BNNPTNT Quy b) Hiệu quả hoạt động của các tổ chức quản lý
định điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi vẫn còn thấp:
tham gia quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi Mặc dù bộ máy quản lý Nhà nước về thuỷ lợi
và các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định m ức kinh tế đã từng bước được củng cố, hoàn thiện và
kỹ thuật phục vụ quản lý vận hành. Tuy vậy, tương đối thống nhất nhưng hiệu lực và hiệu
thể chế chính sách quản lý hiện nay vẫn còn quả quản lý chưa cao. Phân giao nhiệm vụ
4 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 24 - 2014
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
giữa các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ra phổ biến, bộ m áy phình to, chi tiền lương
ngành còn nhiều bất cập, chồng chéo dẫn đến chiếm phần lớn nguồn thu của doanh nghiệp.
khó khăn trong điều hành chỉ đạo. Chỉ đạo,
c) Thể chế chính sách và phương thức quản lý
điều hành sản xuất, kiểm tra, đánh giá nghiệm
khai thác công trình thủy lợi chậm đổi mới
thu hoạt động quản lý vận hành công trình
theo cơ chế thị trường: Từ Đại hội Đảng toàn
thủy lợi thuộc trách nhiệm của ngành nông
quốc lần thứ VII (6/1991) Đảng đã khẳng định
nghiệp, nhưng phê duyệt dự toán, thanh quyết
“Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan
toán lại giao cho ngành tài chính nên vai trò
liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có
quản lý ngành ít có hiệu lực. Một số địa phương
sự quản lý của Nhà nước” sau gần 25 năm vận
vẫn còn lẫn lộn giữa chức năng quản lý Nhà
hành theo cơ chế thị trường, các thể chế chính
nước và quản lý sản xuất, chức năng quản lý
sách quản lý chung của nhà nước đã không
nhà nước và chức năng cung cấp dịch vụ công
ngừng được xây dựng, hoàn thiện tạo động lực
ích của nhà nước. Quản lý vẫn mang nặng tính
quan liêu, mệnh lệnh, không phù hợp với cơ cho nền kinh tế phát triển và đạt được rất
chế quản lý của nền kinh tế thị trường. Kỷ luật, nhiều thành tựu to lớn. Trong khi đó các thể
kỷ cương quản lý chưa nghiêm, tình trạng “trên chế chính sách quản lý khai thác công trình
bảo dưới không nghe” còn xảy ra khá phổ biến thủy lợi chậm được nghiên cứu sửa đổi nên
nên m ột số chủ trương, chính sách của Nhà chưa theo kịp sự chuyển dịch của nền kinh tế,
nước, của Bộ Nông nghiệp & PTNT chưa được chưa phản ánh được tính đặc thù của ngành
thực thi nghiêm túc mà vẫn theo “lệ làng” riêng trong nền kinh tế thị trường. Cơ chế quản lý
của từng địa phương. Công tác kiểm tra, thanh m ang tính nửa vời “nửa thị trường, nửa bao
tra, giám sát chưa bám sát thực tiễn và chưa cấp “, doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh
được coi trọng, tình trạng đùn đẩy trách nhiệm nghiệp (theo cơ chế thị trường), trong khi quản
giữa các cơ quan cùng với các thủ tục hành lý sản xuất của doanh nghiệp theo cơ chế bao
chính rườm rà, một việc phải qua nhiều cửa cấp là nguyên nhân chính dẫn đến hiệu quản lý
m ới giải quyết được đã gây bức xúc cho các khai thác công trình thủy lợi chưa cao, không
đơn vị sản xuất. tạo ra động lực để thúc đẩy phát triển.
Đối với bộ m áy quản lý, khai thác công trình Quản lý sản xuất bằng phương thức giao kế
thủy lợi, mặc dù số lượng đơn vị lớn nhưng hoạch, theo cơ chế "xin - cho" dẫn đến tư
hiệu quả hoạt động chưa cao. Hầu hết các đơn tưởng dựa dẫm trông chờ nhà nước. Quản lý
vị quản lý khai thác công trình thủy lợi đều là tài chính theo hình thức cấp phát - thanh toán,
doanh nghiệp nhà nước (chiếm 96,7 %) vận chưa ràng buộc chặt chẽ với cơ chế kiểm tra
hành theo cơ chế bao cấp đã hạn chế tính năng giám sát, đánh giá và tính công khai m inh bạch
động và thiếu động lực phát triển. Chất lượng đã làm sai lệch bản chất hoạt động sản xuất
nguồn nhân lực, kể cả cán bộ lãnh đạo quản lý trong nền kinh tế thị trường. Đánh giá kết quả
ở nhiều tổ chức, đơn vị chưa đáp ứng được yêu hoạt động sản xuất chưa dựa vào kết quả đầu
cầu, thập chí còn trái ngành, trái nghề nên ra, thanh quyết toán chủ yếu dựa vào chứng từ,
thực thi nhiệm vụ quản lý khai thác công trình nặng thủ tục hành chính. Công tác quản lý khai
thủy lợi gặp nhiều khó khăn, chưa tuân thủ thác công trình thủy lợi là sự tổng hợp của rất
đúng và đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn nhiều loại công việc khác nhau nên việc đo
quản lý vận hành công trình. Tổ chức quản trị lường, đánh giá kết quả đầu ra không đơn
sản xuất thiếu khoa học nên chi phí sản xuất thuần như các ngành sản xuất khác. Số lượng,
cao, tiêu hao năng lượng nhiên liệu lớn, năng chất lượng dịch vụ tưới tiêu, cấp nước.. chưa
suất lao động thấp, tình trạng “lãn công” xảy phải là sản phẩm đầu ra cuối cùng mà phải
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 24 - 2014 5
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
được đánh giá lồng ghép với nhiều hoạt động thật rõ ràng và còn thiếu minh bạch nên nhân
khác như duy tu sửa chữa công trình quan trắc, dân chưa thật tin tưởng, chưa khơi dậy được
kiểm định, bảo vệ chống xâm hại công trình, sức mạnh toàn dân tham gia xây dựng và quản
bảo đảm an toàn công trình hồ đập, phòng lý khai thác công trình thủy lợi.
chống thiên tai lụt bão…
III. HO ÀN THIỆN TH Ể CH Ế CH ÍNH
Cơ chế ràng buộc quyền lợi, trách nhiệm nhất SÁC H, GIẢI PHÁP Q UAN TRỌ NG NHẤT
là người đứng đầu với hiệu quả sử dụng tiền ĐỂ NÂNG HIỆU Q UẢ Q UẢN LÝ KHAI
vốn, tài sản vật tư, lao động của nhà nước THÁC CÔ NG TRÌNH TH UỶ LỢ I
chưa rõ ràng và thiếu chặt chẽ là nguyên nhân
Như đã phân tích ở trên, để nâng cao hiệu quả
gây ra lãng phí nguồn lực, thui chột động lực quản lý khai thác công trình thủy lợi hiện có
phát triển và chưa tạo được sân chơi bình đẳng cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp
để sàng lọc bình tuyển người lãnh đạo quản lý trong đó giải pháp hoàn thiện cơ chế chính
giỏi. Phân phối thu nhập cho người lao động sách được cho là quan trọng nhất. Hoàn thiện
vẫn m ang tính cào bằng dẫn đến năng suất lao thể chính sách quản lý khai thác công trình
động thấp, hao phí vật tư, nhiên liệu năng thủy lợi để xóa bỏ hoàn toàn cơ chế bao cấp,
lượng cao nên chí phí sản xuất cao. Chính sách cơ chế ‘’xin cho’’; cơ chế quản lý theo mệnh
trợ cấp qua giá đã bóp méo quan hệ kinh tế, lệnh hành chính và phân phối theo hình thức
khó kiểm soát và kém hiệu quả là nguyên nhân ‘cào bằng’; tách bạch rõ chức năng quản lý
gây ra việc sử dụng nước lãng phí. Chính sách nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu
m iễn giảm thủy lợi phí cho nông dân theo hình nhà nước và quyền tự chủ sản xuất kinh doanh
thức gián tiếp (cấp bù qua doanh nghiệp) đã của doanh nghiệp. Hoàn thiện các cơ chế chính
không gắn kết được trách nhiệm doanh nghiệp sách để các doanh nghiệp hoạt động phù hợp
với nông dân với vai trò là người hưởng lợi. với cơ chế thị trường; minh bạch hóa các quan
Phân cấp quản lý chưa phù hợp, nên hầu hết hệ hệ kinh tế, khắc phục tình trạng công - tư
các công trình thủy lợi đều do doanh nghiệp lẫn lộn và quy định rõ quyền hạn và trách
nhà nước quản lý (96,7 %) đã không tạo được nhiệm của người đứng đầu. Phân phối thu
sân chơi cho các doanh nghiệp thuộc các thành nhập phải dựa vào kết quả đầu ra, quyền lợi
phần kinh tế khác tham gia nên chưa huy động gắn liền với trách nhiệm. Như vậy mới tạo
được sức mạnh của các tổ chức cá nhân ở khu được động lực cho phát triển, phát huy tính
vực ngoài nhà nước và của nhân dân đặc biệt năng động sáng tạo của người lao động, phát
là người hưởng lợi từ công trình thủy lợi. huy vai trò chủ thể của người hưởng lợi, đẩy
m ạnh xã hội hoạt động thủy lợi phù hợp với cơ
Các tổ chức quản lý thuỷ nông cơ sở hình
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.
thành theo kiểu áp đặt từ trên xuống theo
khuôn mẫu thống nhất nên chưa phản ánh hết Để hoàn thiện thể chế chính sách tạo động lực
tính đặc thù của nông thôn việt nam với các nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình
đặc trưng khác nhau về sản xuất, văn hóa và thuỷ lợi hiện có bài viết xin đề xuất m ột số
lối sống ở từng vùng miền. Chưa phát huy giải pháp sau:
được vai trò chủ thể của người dân, tổ chức 1) Quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu,
thủy nông cơ sở nên chưa làm tốt vai trò “cầu nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả quản
nối” giữa Nhà nước và nhân dân, giữa doanh lý khai thác công trình thủy lợi theo quyết định
nghiệp và người sử dụng nước. Cơ chế để huy số 784/QĐ-BNN-TCTL của Bộ trưởng Bộ
động sự tham gia của nhân dân vào công tác tu nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tạo sự
sửa, quản lý và bảo vệ công trình thủy lợi chưa nhất trí cao trong tất cả các cấp từ trung ương
6 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 24 - 2014