Ôn tập lịch sữ đảng

  • 12 trang
  • file .doc
Câu 1:
Anh chị hãy nêu và phân tích ý nghĩa con đường cứu nước giải
phóng dân tộc mà lãnh tụ NAQ và Đảng ta đã nhấn mạnh: “… đây là sự
lựa chọn của chính lịch sử, sự lực chọn đã dứt khoát từ 1930 với sự ra
đời của Đảng ta”? Liên hệ về con đường cách mạng hiện nay ở nước ta?
Bài làm:
a) Ý nghĩa con đường cứu nước giải phóng dân tộc mà lãnh tụ NAQ và
Đảng ta đã nhấn mạnh: “… đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa
chọn đã dứt khoát từ 1930 với sự ra đời của Đảng ta”:
* Trình bày hoàn cảnh lịch sử thế giới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX:
Xem trang 13 Tài liệu hỏi – đáp Lịch sử Đảng CSVN.
* Trình bày tình hình kinh tế xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX: Xem trang 13 Tài liệu hỏi – đáp Lịch sử Đảng CSVN.
* Trình bày các phong trào yêu nước bị thất bại: Xem trang 14 Tài liệu
hỏi – đáp Lịch sử Đảng CSVN.
* Trình bày quá trình chuẩn bị những điều kiện cho việc thành lập Đảng
CSVN của lãnh tụ NAQ giai đoạn từ 1911 đến 1920, giai đoạn từ 1921
đến 1930 => Xem trang 16, 17, 18, 19 Tài liệu hỏi – đáp Lịch sử Đảng
CSVN.
* Trình bày nội dung Đảng CSVN ra đời là bước ngoặc lịch sử => Xem
trang 19, 20 Tài liệu hỏi – đáp Lịch sử Đảng CSVN.
b) Liên hệ về con đường cách mạng hiện nay ở nước ta:
Con đường CM ở nước ta hiện nay và trong 5 năm tời cần thực
hiện những mục tiêu tổng quát gồm: Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công
cuộc đổi mới; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng;
xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững;
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vũng ổn định
chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Một số nhiệm vụ chủ yếu:
- Ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu
kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững.
- Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng
nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức; bảo
vệ môi trường, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó với tình trạng
biến đổi khí hậu.
- Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định
chính trị - xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, trật
tự an toàn xã hội; mở rộng, nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại,
tích cực, chủ động hội nhập quốc tế.
- Tiếp tục phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc;
hoàn thiện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp
quyền XHCN; đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội,
Chính phủ, chính quyền địa phương; đẩy mạnh cải cách hành chính và
cải cách tư pháp; thực hiện có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống
quan liêu, tham nhũng, lãng phí; đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt
động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
- Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ
chức; thường xuyên :Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM”;
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, Đảng viên;
tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Câu 2:
Anh (chị) hãy cho biết sự vận dụng đúng đắn sáng tạo học thuyết
chủ nghĩa Mác – Lênin về Đảng cộng sản; sự phát triển của Chủ tịch Hồ
Chí Minh và Đảng ta trong việc thành lập Đảng CSVN? Liên hệ với việc
xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay là nhiệm vụ then chốt?
Bài làm:
a) Sự vận dụng đúng đắn sáng tạo học thuyết chủ nghĩa Mác – Lênin
về Đảng cộng sản; sự phát triển của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
ta trong việc thành lập Đảng CSVN:
- Tình hình thế giới:
+ Từ nữa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự
do cạnh tranh phát triển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, tiến hành xâm
chiếm các nước thuộc địa. Mâu thuẫn mới xuất hiện: Mâu thuẫn giữa các
dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc.
+ Từ đó phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc ở các nước thuộc
địa phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến nước ta.
+ Thắng lợi của cuộc Cách mạnh Tháng Mười Nga (1917) và sự ra
đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III – 1919) làm biến đổi sâu sắc tình
hình thế giới, mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản
lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.
- Tình hình trong nước Việt Nam:
+ Ngày 1/9/1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Đến
năm 1897, thực dân Pháp hoàn thành công cuộc xâm chiếm Việt Nam và
bắt đầu xác lập chế độ cai trị, khai thác thuộc địa ở Việt Nam.
+ Dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp, xã hội Việt Nam có những chuyển biến sâu sắc:
. Về tính chất xã hội: Từ xã hội phong kiến trở thánh xã hội thuộc
địa nửa phong kiến.
. Về mâu thuẫn cơ bản trong xã hội: Nổi bật hai mâu thuẫn: mâu
thuẫn dân tộc giữa toàn thể dân tộc VN với thực dân Pháp và tay sai;
mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân với địa chủ phong kiến.
. Về cơ cấu giai cấp trong xã hội: Giai cấp cũ (địa chủ phong kiến
và nông dân) bị phân hóa, xuất hiện những giai cấp mới (công nhân, tư
sản và tiểu tư sản).
+ Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, phong trào yêu nước của
các tầng lớp nhân dân VN nổ ra mạnh mẽ, nhưng do chưa có một đường
lối chính trị đúng đắn, thiếu một tổ chức với tư cách là một chính Đảng
lãnh đạo và chưa tập hợp được rộng rãi các tầng lớp nhân dân vào lực
lượng đấu tranh nên các phong trào đấu tranh đã lần lượt thất bại. Xã hội
VN lâm vào khủng hoảng về đường lối cứu nước và lực lượng lãnh đạo
cách mạng.
- NAQ đi tìm con đường cứu nước và truyền bá chủ nghĩa Mác –
Lênin vào VN: :
Trước yêu cầu cấp bách phải tìm một con đường cứu nước mới,
ngày 5/6/1911 NAQ đã lên đường sang các nước phương Tây, nơi có
khoa học - kỹ thuật phát triển và những tư tưởng dân chủ tự do, xem các
nước làm thế nào để rồi trở về giúp đồng bào mình thoát khỏi ách nô lệ.
+ Từ năm 1911 đến 1920: Giai đoạn đi tìm con đường cứu nước
giải phóng dân tộc. Người đã đi đến nhiều nơi trên thế giới để tìm hiểu
các cuộc cách mạng lớn và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc
bị áp bức.
. Năm 1917, CM Tháng Mười Nga thắng lợi đã có ảnh hưởng
quyết định đến cuộc đời hoạt động CM của Người.
. Tháng 7/1920, Người đọc bản “Sơ khảo lần thứ nhất những luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin. Luận cương
của Lênin đã giải đáp những vấn đề cơ bản và chỉ dẫn hướng phát triển
của sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc mà sau gấn mười năm tìm
kiiếm Người mới bắt gặp.
. Tháng 12/1920, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng
Sản, sau đó tham gia thành lập ĐCS Pháp và trở thành một trong những
người sáng lập ĐCS Pháp, và cũng là người CS đầu tiên của dân tộc VN.
+ Từ năm 1921 đến năm 1930: Giai đoạn NAQ vừa hoạt động thực
tiễn, vừa tích cực nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào
phong trào cách mạng ở trong nước, trực tiếp chuẩn bị những điều kiện
về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng CSVN.
. Tháng 2/1925, Người lựa chọn một số thanh niên tích cực trong
tổ chức Tâm tâm xã lập ra nhóm Cộng sản đoàn. Tháng 6/1925, Người
thành lập Hội VN cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc),
nòng cốt là Cộng sản đoàn. Người đã mở lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luật
CN M-L cho những người trong tổ chức Hội VN cách mạng Thanh niên.
Ngoài ra, trong số cán bộ được đào tạo có nhiều đồng chí được chọn đi
học tại Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô. Đây là
sự chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho quá trình thành lập Đảng.
Đến năm 1929 trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách
mạng, ở nước ta đã thành lập một số tổ chức Đảng như: Tại Bắc Kỳ,
Đông Dương cộng sản Đảng được thành lập ngày 17/6/1929; Tại Nam
Kỳ, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập tháng 11/1929; Tại Trung
Kỳ, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ngày 1/1/1930. Ba
tổ chức công sản ra đời ở ba miền đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng
sản, kêu gọi Quốc tế Cộng sản thừa nhận tổ chức của mình và đều tự
nhận tổ chức của mình là đảng cách mạng chân chính, do đó không tránh
khỏi phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức.
Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng trong nước, với
tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, NAQ đã triệu tập Hội nghị
hợp nhất các tổ chức cộng sản (gồm: Đông Dương cộng sản Đảng; Đông
Dương Cộng sản Liên đoàn; An Nam Cộng sản Đảng) thành một chính
Đảng duy nhất của Việt Nam. Hội nghị tiến hành từ ngày 06/01/1930
đến 07/02/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, quyết định đặt tên Đảng
là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua các văn kiện do
lãnh tụ NAQ soạn thảo, đó là Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược
vắn tắt của Đảng, Chương trình vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Các văn kiện đó hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng.
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng:
* Về phương hướng cách mạng VN là chủ trương làm tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.
* Nhiệm vụ cụ thể của CMVN trên các lĩnh vực:
. Chính trị: Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến, làm
cho nước VN được hoàn toàn độc lập, xây dựng chính phủ công nông
binh và tổ chức quân đội công nông.
. Kinh tế: Tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn của đế quốc giao cho
chính phủ công nông binh; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của
công và chia cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp,
miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật ngày làm việc 8 giờ.
. Văn hóa xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức, phổ thông giáo
dục theo hướng công nông hóa, nam nữ bình quyền.
* Về lực lượng cách mạng: Phải đoàn kết công nhân, nông dân và
phải dựa vào dân cày nghèo, lãnh đạo nông dân làm cách mạng ruộng
đất; lôi kéo tiều tư sản, trí thức, trung nông… đi vào phe vô sản giai cấp;
đối với phú nông, trung tiểu địa chủ, tư bản An Nam mà chưa rõ phản
cách mạng thì phải lợi dụng, ít nhất là làm cho họ đứng trung lập; đối
với những đối tượng đã ra mặt phản cách mạng (đại địa chủ, tư sản mại
bản) thì phải kiên quyết đánh đổ.
* Về xác định phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách
mạng của quần chúng để đánh đổ đế quốc phong kiến.
* Về lực lượng lãnh đạo cách mạng: Giai cấp công nhân là lực
lượng lãnh đạo cách mạng, thông qua đội tiên phong của mình là Đảng
cộng sản.
* Về quan hệ quốc tế: Cách mạnh VN là một bộ phận của CM thế
giới.
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh đầu tiên của Đảng là sự
vận dụng đúng đắn, sáng tạo của CN M-L vào hoàn cảnh cụ thể của một
nước thuộc địa nửa phong kiến. Kết hợp đúng đắn vấn đề giai cấp và vấn
đề dân tộc; kết hợp truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng của
nhân dân ta với những kinh nghiệm của cách mạng thế giới; kết hợp chủ
nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản và kết hợp thực tiễn, yêu
cầu của CM VN với tư tưởng tiên tiến CM của thời đại.
Sự ra đời của ĐCSVN là sự sáng tạo độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Người đã thành công trong vận dụng sáng tạo học thuyết Mác –
Lênin về Đảng cộng sản, xây dựng thành công một đảng kiểu mới ở
nước ta. Chủ nghĩa Mác – Lênin về đảng công sản đã chỉ ra quy luật ra
đời, tồn tại, phát triển của Đảng là chủ nghĩa xã hội khoa học kết hợp với
phong trào công nhân. Đối với nước ta là một nước thuộc địa nửa phong
kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, giai cấp công nhân còn nhỏ bé, phong
trào công nhân đã phát triển, phong trào yêu nước rất mạnh mẽ, NAQ
thấy rất rõ, để thành lập Đảng phải làm cho phong trào công nhân và
phong trào yêu nước chuyển biến về chất và phải được chủ nghĩa Mác –
Lênin soi sáng, các yếu tố đó phải được kết hợi với nhau. Trong suốt quá
trình thành lập Đảng, Người đã tích cực thực hiện và thực hiện thành
công điều đó, dẫn tới sự ra đời của ĐCSVN vào ngày 3/2/1930.
b) Việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay là nhiệm vụ then chốt:
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn xác định phát
triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then
chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, song suy đến
cùng xây dựng Đảng có vai trò quyết định nhất. Học thuết M-LN về
ĐCS vẫn là cẩm nang có giá trị nhất, là ngọn đuốc soi đường để Đảng và
nhân dân VN tiến hành công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới.
Trong giai đoạn hiện nay cần phải tiếp tục đẩy mạnh việc xây
dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM”; nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch,
vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, CN M-L, tư tưởng HCM về
ĐCS, nhất là về ĐCS cầm quyền luôn luôn là chỉ dẫn quý báu để Đảng
và nhân dân VN tiến hành công tác xây dựng Đảng, để Đảng có đủ khả
năng đưa đất nước VN đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên CNXH.
Câu 3:
CMT8 – 1945 có phải là “cánh cửa khép hờ” không hay là khoa học và
nghệ thuật “chớp thời cơ” trong lãnh đạo tổng khởi nghĩa của Đảng ta?
Bằng sự hiểu biết về LSĐCSVN, anh (chị) hãy cho biết nhận định nào
đúng hay sai?
Bài làm:
Việc cho rằng CMT8 – 1945 là cánh cửa khép hờ là sai. Sự lãnh
đạo tổng khởi nghĩa CMT8 – 1945 của Đảng ta là khoa học và nghệ
thuật chớp thời cơ để giành độc lập dân tộc
a) Hoàn cảnh lịch sử và sự chuẩn bị của Đảng:
Ngày 1/9/1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ khi phát xít
Đức tấn công Ba Lan. Ngày 3/9/1939, bọn thực dân Pháp chính thức
tham chiến. Sự kiện lịch sử đó đã làm thay đổi chính sách mà chính
quyền thực dân Pháp đối với giai cấp công nhân, quần chúng lao động
Pháp và hệ thống các nước thuộc địa của Pháp.
Ở Đông Dương, đế quốc Pháp điên cuồng tấn công vào Đảng CS
và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức do ĐCS lãnh đạo. Chúng thực
hiện chính sách khủng bố, ban bố lệnh tổng động viên, ra sức bắt người,
cướp của để cung cấp cho chiến tranh. Bộ mặt xâm lược của bôn đế
quốc, phản động, của bọn tay sai bị phơi bày càng làm cho quần chúng
căm thù sâu sắc, đẩy nhanh quá trình CM hóa quần chúng. Trong vòng 6
tháng, từ tháng 9/1940 đến tháng 1/1941, ở nước ta liên tiếp nổ ra ba
cuộc khởi nghĩa. Đó là cuộc khởi nghĩa bắc Sơn ngày 27/9/1940, khởi
nghĩa Nam kỳ ngày 23/11/1940 và cuộc nổi dậy của binh lính Đô Lương
ngày 13/1/1941. Tuy chưa giành được thắng lợi nhưng đó là tiếng súng
báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ
trang của nhân dân VN.
Hai tháng sau khi chiến tranh thế giới bùng nổ, Hội nghị BCH TW
lần thứ sáu, từ ngày 6 đến ngày 8/11/1939 đã chỉ rõ đặc điểm cơ bản của
tình hình Đông Dương, xác định mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân
tộc, đề ra mục tiêu chiến lược trước mắt của CM Đông Dương là đánh
đổ đế quốc và tay sai, giải phóng Đông Dương, làm cho Đông Dương
hoàn toàn độc lập. Tạm gác khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của giai cấp
địa chủ” , chỉ chủ trương “tịch thu ruộng đất của đế quốc và tay sai”. Hội
nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông
Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương.
Sự sáng tạo và nhạy bén nhất của Hội nghị là đã nêu ra phương
hướng chiến lược tập trung mũi nhọn của CM vào đế quốc và tay sai,
giương cao ngọc cớ giải phóng dân tộc, chuẩn bị điều kiện giành chính
quyền.
Bước sang năm 1940, tình hình thế giới có những chuyển biến mau
lẹ hơn. Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn quyết liệt, nước
Pháp thất bại nhanh chóng. Ngày 22/9/1940 quân Nhật từ TQ đánh vào
Lạnh Sơn, quân Pháp bỏ chạy. Ở những nơi quân Pháp bỏ chạy chính
quyền lung lay dữ dội.
Hội nghị BCH TW lần thứ bảy từ ngày 6 đến ngày 9/11/1940 đã
khẳng định chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc Tạm rút
khẩu hiệu ruộng đất của Hội nghị TW tháng 11/1939. Hội nghị quyết
định duy trì lực lượng vũ trang bắc Sơn và chủ trương thành lập những
đội du kích hoạt động phân tán, dùnh hình thức vũ trang vừa chiến đấu
chống địch, bảo vệ nhân dân, vừa phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới
thành lập khu căn cứ, lấy vùng Bắc Sơn, Vũ Nhai làm trung tâm.
Bước sang năm 1941, tình hình CM trong nước có nhiều biến đổi
quan trọng. Ngày 28/01/1941, đồng chí NAQ từ nước ngoài về Cao
Bằng và triệu tập Hội nghị BCH TW lần thứ tám từ ngày 10 đến ngày
19/5/1941. Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và tình hình trong
nước. Hội nghị xác định: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất
nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta. Hội nghị quyết định thành
lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt
Minh). Các đoàn thể quần chúng đều lấy tên là Hội Cứu Quốc thay cho
Hội phản đế trước đây.
Ngày 22/12/1944, thực hiện chỉ thị của đồng chí NAQ, Đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập do đồng chí Võ
Nguyên Giáp phụ trách.
b) Đảng lãnh đạo chớp thời cơ:
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai bước
vào giai đoạn kết thúc. Hồng quân Liên Xô quét sạnh phát xít Đức ra
khỏi lãnh thổ của mình và tiến như vũ bão về phía Béclin, phát xít Đức
sắp bị tiêu diệt. Phát xít Nhật lâm vào tình trạng nguy khốn. Đường biển
từ Nhật đến các căn cứ ở Đông Nam Á bị chia cắt. Mâu thuẫn Nhật –
Pháp ngày càng gay gắt. Đêm 9/3/1945, Nhật làm đảo chính gạt bỏ
Pháp, độc chiếm Đông Dương.
Đúng đêm ngày 9/3/1945, Hội nghị ban thường vụ TW mở rộng
họp ở làng Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh cho đến 12/3/1945. Trên cơ sở Nghị
quyết Hội nghị, Ban thường vụ TW Đảng đã ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta”.
. Hội nghị xác định: Sau cuộc đảo chính này, phát xít Nhật là kẻ
thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt, duy nhất của nhân dân Đông Dương.
Khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật – Pháp” được thay bằng khẩu hiệu “đánh
đuổi phát xít Nhật”.
. Hội nghị nhận định về tình thế CM: Những điều kiện khởi nghĩa
chưa thật sự chín muồi, vì Pháp tuy tan rã, nhưng Nhật chưa hoang
mang, do dự đến cực điểm. Các tầng lớp trung gian chưa ngã hẳn về
phía CM. Tuy nhiên, những cơ hội tốt đang giúp cho những điều kiện
khởi nghĩa mau chín muồi.
. Dự kiến những thời cơ cụ thể để phát động tổng khởi nghĩa, Chỉ
thị đã nêu rõ: “Khi quân Đồng Minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật,
không phải ta có thể phát động tổng khởi nghĩa ngay tức khắc. Phải đợi
cho quân Đồng Minh không những bám chắc mà còn tiến được trên đất
ta. Đồng thời phải chờ quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng
Minh để phía sau tương đối sơ hở; lúc đó phát động tổng khởi nghĩa mới
có lợi”.