Những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại nhđt&ptht

  • 90 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của việc hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh trong
hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang tiến hành sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, mở cửa hội nhập vào nền kinh tế khu vực
cũng như tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá với các hiệp định thương mại
song phương, đa phương, hoạt động cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và
toàn diện hơn.
Được ví như “ trái tim của nền kinh tế ”, hệ thống Ngân hàng đang trở
mình trong công cuộc đổi mới đất nước. Bên cạnh việc giữ vững và hoàn thiện
các nghiệp vụ Ngân hàng truyền thống, các Ngân hàng thương mại hiện nay còn
không ngừng tiếp cận và mở rộng các dịch vụ Ngân hàng tiên tiến khác. Việc đa
dạng hoá các nghiệp vụ sẽ góp phần quan trọng tới sự bền lâu của Ngân hàng.
Đây cũng là phương châm cho các Ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển
trong bối cảnh hiện nay.
Bảo lãnh Ngân hàng được coi là một trong những dịch vụ Ngân hàng
hiện đại. Nghiệp vụ này bắt đầu xuất hiện trên thế giới từ những thập niên 70 .
Nhờ những ưu điểm trong việc chống đỡ các rủi ro nên bảo lãnh Ngân hàng đã
nhanh chóng chiếm ưu thế và được áp dụng rộng rãi trong các giao dịch thương
mại quốc tế.
Tuy nhiên ở Việt Nam, đối với các Ngân hàng thương mại nói chung và
Ngân hàng đầu tư và phát triển nói riêng, nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng mới
được đưa vào thực hiện và còn khá mới mẻ, chỉ dừng lại ở một số loại hình bảo
lãnh đơn giản và trong quá trình thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn vướng mắc .
Mặc dù thời gian qua nghiệp vụ bảo lãnh đã có sự phát triển không ngừng nhưng
nó vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và chưa tương xứng
với vai trò của nó đối với nền kinh tế nói chung và hệ thống Ngân hàng thương
mại nói riêng Do vậy, việc nghiên cứu hoạt động bảo lãnh để đưa ra những giải
pháp áp dụng vào thực tiễn sao cho phát huy hết được vai trò của nó không chỉ
là mối trăn trở của các nhà nghiên cứu, các cán bộ Ngân hàng mà còn là mối
quan tâm sâu sắc của chúng em – những sinh viên sắp bước vào ngành .
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề hoàn thiện và phát triển hoạt động bảo
lãnh tại NHĐT&PTHT trong đó chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu loại hình bảo
lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh bảo hành công trình, bảo lãnh bảo
đảm chất lượng sản phẩm…
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu về hoạt động bảo lãnh tại
NHĐT&PTHT trong thời gian từ năm 2000 đến nay.
3. Mục đích và phương pháp nghiên cứu.
Mục đích : Tiếp cận hoạt động bảo lãnh và phân tích thực trạng hoạt động
bảo lãnh tại chi nhánh NHĐT&PTHT để thấy rõ vai trò của hoạt động bảo lãnh
đối với Ngân hàng, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện
nghiệp vụ này.
Phương pháp : Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích so
sánh kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
4. Kết cấu củachuyên đề:
Trong khuôn khổ có hạn của chuyên đề, em xin đề cập những vấn đề sau:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bảo lãnh Ngân hàng .
- Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại NHĐT&PTHT
- Chương 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ
bảo lãnh tại NHĐT&PTHT .
Em xin trân trọng cảm ơn các thày cô giáo trong khoa Tiền tệ – thị trường
vốn đã dày công giảng dạy, dìu dắt chúng em trong suốt khoá học vừa qua.
Đồng thời em xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ tại chi nhánh Ngân hàng
đầu tư và phát triển Hà Tây đặc biệt là các cô chú, các anh chị làm việc tại
phòng tổ chức, phòng tín dụng 1 và phòng nguồn vốn đã tận tình giúp đỡ chỉ
bảo em trong thời gian thực tập vừa qua và xem xét đóng góp ý kiến cho chuyên
đề thực tập của em.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
1.1.1. Sự ra đời của nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng là khách tất yếu khách quan
Xã hội loài người đã lần lượt trải qua các hình thức kinh tế tự nhiên, kinh
tế hàng hóa và kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế tự nhiên sản phẩm sản xuất
ra chỉ để phục vụ người sản suất do năng xuất lao động thấp chỉ đủ đáp ứng nhu
cầu của bản thân, không có của cải dư thừa.
Sản xuất hàng hóa ra đời đã tạo ra bước nhảy vọt trong đời sống kinh tế,
xã hội và tạo điệu kiện thúc đẩy sự phát triển của thương mại, phân công lao
động, chuyên môn hóa sâu sắc. Sự phát triển thương mại đă làm tăng số lượng,
giá trị và tốc độ các giao dịch giữa các doanh nghiệp và đă vượt qua biên giới
của một quốc gia.
Thương mại phát triển đă kéo theo sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa
các doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực. Để giành thắng lợi, các doanh nghiệp cần
có vốn để đổi mới sản phẩm công nghệ đáp ứng nhu cầu thị trường từ đó kéo
theo sự phát triển của tín dụng. Tín dụng khi đó không những bao gồm quan hệ
cung ứng vốn giữa các tổ chức trong nước mà còn giữa các nước, các khu vực
trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Khi thương mại mở rộng không biên giới sẽ dẫn đến sự thiếu hụt thông
tin. Các giao dịch diễn ra với đặc điểm tăng về số lượng, phức tạp hơn trong thời
gian dài và trên phạm vi toàn cầu. Cùng một lúc doanh nghiệp phải giao dịch với
nhiều bạn hàng khác nhau nên thiếu hụt thông tin về bạn hàng cũng như đối thủ
cạnh tranh từ đó có thể dẫn đến rủi ro về đạo đức do bạn hàng không thực hiện
các hợp đồng đã ký kết. Hoặc khi đã thu thập đầy đủ thông tin thì cơ hội kinh
doanh đã bị bỏ lỡ. Chi phí để có được thông tin cần thiết cũng là không nhỏ. Sự
thiếu hiểu biết về nhau sẽ làm các bên không có đủ độ tín nhiệm để đi đến ký kết
hợp đồng. Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động sản xuất kinh
doanh và hoạt động thương mại.
Như vậy, bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu có một công cụ ra đời để
ngăn ngừa rủi ro từ phía đối tác kinh doanh, khắc phục tình trạng không cân
xứng về thông tin, tạo sự yên tâm cho các bên tham gia giao dịch. Về mặt thanh
toán, các rủi ro đã được kiểm soát bằng hình thức tín dụng chứng từ, bảo đảm
hối phiếu. Còn các rủi ro về việc không thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết trong
hợp đồng chính là cơ sở cho việc ra đời một công cụ mới, một loại dịch vụ mới -
đó là bảo lãnh.
Để thực hiện nghiệp vụ này đòi hỏi phải có một bên thứ ba đứng ra đảm
bảo để các bên yên tâm thực hiện hợp đồng. Ngân hàng là một trung gian tài
chính có khả năng đảm bảo về mặt tài chính, có uy tín trong kinh doanh tiền tệ,
chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế đồng thời có khả năng
nắm bắt thông tin nhanh chóng, kịp thời. Do đó, Ngân hàng hoàn toàn có khả
năng đứng ra cung ứng loại hình dịch vụ này.
Những lý do trên đã chứng tỏ sự ra đời của bảo lãnh Ngân hàng là tất yếu
khách quan.
1.1.2. Quá trình phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng.
Nếu như thư tín dụng đã được các Ngân hàng sử dụng rộng rãi từ những
năm 30 thì bảo lãnh Ngân hàng mới chỉ xuất hiện vào những năm 60 trên thị
trường nội địa nước Mỹ. Đến những năm 70 loại hình dịch vụ hiện đại này mới
được áp dụng rộng rãi trong giao dịch thương mại quốc tế. Giai đoạn này, một
số quốc gia ở Trung Đông đã giàu lên nhanh chóng nhờ sản xuất dầu lửa. Họ
liên tục phải ký kết những hợp đồng kinh tế lớn với các nước phương Tây để
thực hiện dự án cải tạo cơ sở hạ tầng, dự án canh tân công nông nghiệp, quốc
phòng…Giá trị rất lớn của các hợp đồng cũng như thế mạnh của các quốc gia
Trung Đông đã cho phép họ phải có một sự đảm bảo chắc chắn về phía đối tác
khi tham gia vào các giao dịch. Những bảo lãnh độc lập do ngân hàng của các
nước phương Tây phát hành đã thực sự đáp ứng được yêu cầc về sự thuận tiện
và an toàn cho các quốc gia nhập khẩu.
Từ đó đến nay, bảo lãnh Ngân hàng đã thực sự phát huy tác dụng trong
giao dịch trên mọi lĩnh vực trong và ngoài nước: cả tài chính và phi tài chính,
thương mại và phi thương mại. Với sự phát triển của thương mại quốc tế, các
giao dịch ngày càng mang tính toàn cầu, ngày càng có nhiều thương vụ có giá trị
lớn và các dự án đầu tư mang tính phức tạp có phạm vi rộng. Tầm cỡ và sự phức
tạp của các giao dịch đòi hỏi và thúc đẩy sự phát triển của bảo lãnh ngân hàng.
Việt Nam sau năm 1990, hệ thống ngân hàng đã được đổi mới một cách
đáng kể trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, bắt đầu hội nhập với kinh tế khu vực
và thế giới. Kể từ đầu những năm 90 hệ thống các ngân hàng thương mại đã
không ngừng phát triển về loại hình và nghiệp vụ góp phần quan trọng vào sự
tăng trưởng kinh tế đất nước trong đó nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh được
phát triển như một tất yếu khách quan. Những năm đầu mới thực hiện, do chưa
có sự chỉ đạo thống nhất bằng các văn bản pháp lý chặt chẽ nên hoạt động bảo
lãnh chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế.
Từ năm 1994, Thống đốc NHNN đã ban hành quyết định 196/ QĐ- NH
14 về quy chế nghiệp vụ bảo lãnh thay cho quyết định 192/ NH- QĐ ban hành
ngày 17/9/1992. Với quy chế này, NHNN đã bước đầu tạo ra cơ chế pháp lý
tương đối hoàn chỉnh cho nghiệp vụ bảo lãnh. Ngày 25/8/2000 Thống đốc
NHNN ra quyết định số 283/ 2000- QĐ/ NHNN14 về việc ban hành quy chế bảo
lãnh ngân hàng để thay thế cho các quy chế trước đây.
Đến nay, các hoạt động bảo lãnh của ngân hàng đã phát triển một cách
nhanh chóng với xu hướng mở rộng quan hệ kinh tế trong và ngoài nước với
loại hình ngày càng phong phú, đa dạng. Doanh số của nghiệp vụ bảo lãnh ngày
càng cao cho thấy tiềm năng phát triển của loại hình dịch vụ này ở nước ta là rất
lớn.
1.2. Bản chất và đặc điểm của bảo lãnh Ngân hàng.
1.2.1. Khái niệm bảo lãnh- bảo lãnh Ngân hàng.
Trước khi tìm hiểu khái niệm bảo lãnh ngân hàng chúng ta tìm hiểu qua
về khái niệm bảo lãnh. Bảo lãnh là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu đời. Trong
xã hội phong kiến người ta đã biết đến thuật ngữ này qua những người có thế
lực bảo lãnh cho tù nhân trong thời gian thi hành án, cha mẹ bảo lãnh cho con…
Sau đó bảo lãnh được phát triển sang lĩnh vực dân sự và nhiều lĩnh vực khác của
đời sống kinh tế xã hội. Bảo lãnh được phân ra hai hình thức dựa vào tính chất
và đối tượng của bảo lãnh là bảo lãnh đối nhân và bảo lãnh đối vật.
Bảo lãnh đối nhân là bảo lãnh được áp dụng chủ yếu với các quan hệ phi
tài sản hình sự, tố tụng hình sự, chế tài hành chính và quan hệ phi tài sản trong
dân sự.
Bảo lãnh đối vật dược áp dụng trong quan hệ hợp đồng kinh tế và dân sự
có yếu tố tài sản. Đó chính là phương thức đảm bảo trong trường hợp xẩy ra vi
phạm hợp đồng.
Điều 366 bộ luật dân sự nước ta nêu rõ: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba
( gọi là người bảo lãnh ) cam kết với bên có quyền ( gọi là người nhận bảo lãnh )
sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ ( gọi là người được bảo lãnh )
nếu khi đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ…”
Theo nghị định 17HĐBT ngày 16/1/1990 của hội đồng bộ trưởng thì “
Bảo lãnh tài sản là sự đảm bảo bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận
bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người
này vi phạm hợp đồng đã ký kết”.
Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm chung về bảo lãnh như sau: “ Bảo lãnh là
sự cam kết của người nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nếu người
đề nghị bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với bên
yêu cầu bảo lãnh”.
Bảo lãnh ngân hàng là một trong những loại hình bảo lãnh ngày càng
được phát triển và áp dụng phổ biến trong các giao dịch thương mại trong nước
và quốc tế. Khi một cá nhân hoặc một doanh nghiệp muốn vay một khoản tiền
hoặc muốn tham gia một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó nhưng chưa đủ
độ tin cậy đối với phía đối tác kinh doanh, họ phải nhờ một bên thứ ba có đầy đủ
tài sản và uy tín đứng ra đảm bảo. Bảo lãnh Ngân hàng là một hình thức tài trợ
thông qua uy tín của Ngân hàng cho khách hàng, qua đó khách hàng có thể tìm
được nguồn tài trợ mới để mua hàng hóa hoặc thực hiện các hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm thu lợi. Trong nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng chỉ đưa ra cam
kết dưới hình thức cấp chứng thư hoặc hạch toán theo dõi ngoại bảng chứ thực
tế không phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh. Do vậy, bảo lãnh được coi là một
hình thức tín dụng gián tiếp và được coi như tài sản ngoại bảng.
Để đưa ra khái niệm về bảo lãnh Ngân hàng có thể đứng trên nhiều góc độ
khác nhau:
Xét theo khía cạnh học thuật, bảo lãnh Ngân hàng là một hình thức tín dụng
chữ ký-Signature Credit. Ngân hàng không xuất vốn ngay mà chỉ phát hành thư
bảo lãnh bảo đảm chi trả cho người thụ hưởng nếu người được bảo lãnh vi phạm
hợp đồng đã ký kết với người thụ hưởng.
Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam (ngày 12/12/1997) quy định bảo lãnh
Ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua sự
cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng với bên có quyền về thực hiện nghĩa
vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ
đã cam kết.
Theo quy chế mới nhất về bảo lãnh Ngân hàng do Thống đốc NHNN ban
hành ngày 25/08/2000 kèm theo quyết định số 283/2000 –QĐ-NHNN quy
định :” Bảo lãnh Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của Ngân hàng ( bên bảo
lãnh) với bên có quyền ( bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính
thay cho khách hàng ( bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, khách hàng
phải nhận nợ và hoàn trả số tiền mà Ngân hàng đã trả thay”.
Trong thương mại quốc tế, bảo lãnh Ngân hàng được xem như loại hình
tài trợ ngoại thương nhằm chống đỡ những rủi ro của người thụ hưởng bảo lãnh
do sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan.
1.2.2 . Đặc điểm của bảo lãnh Ngân hàng
Bản chất của hoạt động bảo lãnh là lời cam kết sẽ thanh toán cho người thụ
hưởng bảo lãnh khi người được bảo lãnh không thực hiện các nghĩa vụ trong
hợp đồng . Vì vậy có thể nói bảo lãnh là một công cụ bảo đảm không phải là
công cụ thanh toán. Khi đưa ra các đặc điểm của bảo lãnh chúng ta sẽ thấy được
sự khác biệt giữa bảo lãnh với các công cụ bảo đảm và thanh toán khác nhau
như thư tín dụng, bảo hiểm…
Bảo lãnh ngân hàng có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, bảo lãnh ngân hàng là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn
nhau. Trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thường có ít nhất ba thành phần sau:
Người bảo lãnh ( the Gurantor ) là người phát hành bảo lãnh, có thể là
ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác.
Ngưòi được bảo lãnh ( the Principal ) là người yêu cầu bảo lãnh.
Ngưòi thụ hưởng bảo lãnh ( the Credit ) là người nhận cam kết bảo lãnh.
Một nghiệp vụ bảo lãnh không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa Ngân hàng
bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh mà còn bao gồm các mối quan hệ khác.
Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh được thể
hiện bằng hợp đồng gốc, có thể là hợp đồng thương mại, hợp đồng thi công,
thiết kế… Đây chính là mối quan hệ gốc, là cơ sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh.
Trong mối quan hệ này, người được bảo lãnh có các nghĩa vụ phải thực hiện đối
với người hưởng bảo lãnh. Tùy từng loại hợp đồng mà nghĩa vụ đó có thể là
nghĩa vụ tài chính như nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ đóng thuế, hoặc nghĩa vụ
phi tài chính như nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, nghĩa vụ đảm bảo chất lượng
sản phẩm…
Mối quan hệ giữa Ngân hàng bảo lãnh và người được bảo lãnh - đó là
quan hệ giữa Ngân hàng cấp tín dụng và người hưởng tín dụng. Mối quan hệ
này được thể hiện bằng một hợp đồng bảo lãnh ( còn gọi là thư bảo lãnh ). Hợp
đồng này độc lập với mối quan hệ trong hợp đồng gốc.
Như vậy, các mối quan hệ giữa các bên tham gia là mối quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của nhau. Nếu thiếu một
trong những mối quan hệ trên thì nghiệp vụ bảo lãnh sẽ không tồn tại.
Thứ hai bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập.
Đây là một đặc tính rất quan trọng của nghiệp vụ bảo lãnh.
Trước tiên bảo lãnh Ngân hàng có tính độc lập với hợp đồng. Mặc dù nội
dung hợp đồng giữa người thụ hưởng bảo lãnh và người được bảo lãnh là cơ sở
phát sinh và hình thành nên nội dung của bảo lãnh song về mặt pháp lý mà nói
thì bảo lãnh hoàn toàn độc lập với nguồn đã hình thành nên nó.
Mặc dù mục đích của một bảo lãnh Ngân hàng là bồi hoàn cho người thụ
hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo
lãnh nhưng việc thanh toán bảo lãnh chỉ căn cứ vào các điều khoản hoàn toàn.
Tuy nhiên tính độc lập của bảo lãnh cũng phụ thuộc vào các điều kiện của bảo
lãnh. Nếu là bảo lãnh vô điều kiện, việc thanh toán được thực hiện theo yêu cầu
đầu tiên, tính độc lập được đảm bảo. Ngược lại nếu là bảo lãnh có điều kiện hay
bảo lãnh kèm chứng từ như phán quyết của tòa án, quyết định của trọng tài, xác
nhận của bên thứ ba về sự vi phạm của người được bảo lãnh thì tính độc lập của
bảo lãnh ít nhiều bị giảm sút.
Bên cạnh đó tính độc lập của bảo lãnh còn thể hiện trong trách nhiệm
thanh toán của ngân hàng phát hành bảo lãnh với người được bảo lãnh. Trách
nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng và người được
bảo lãnh. Ngân hàng không thể viện các lý do như người được bảo lãnh bị phá
sản, vẫn còn nợ Ngân hàng… để từ chối thanh toán
Về tính độc lập này trong điều 2 của quy tắc thống nhất về bảo lãnh yêu
cầu UCP 845 của ICC có giải thích: “Về bản chất bảo lãnh là giao dịch tách rời
khỏi hợp đồng cơ sở hay các điều kiện dự thầu mà bảo lãnh lấy đó làm căn cứ và
bên bảo lãnh không hề quan tâm hay bị ràng buộc bởi hợp đồng hay các điều
kiện dự thầu đó dù có trích tham chiếu đến chúng trong bảo lãnh. Trách nghiệm
của bên bảo lãnh là trả lại số tiền được quy định khi xuất trình yêu cầu thanh
toán bằng văn bản và các chứng từ khác quy định trong bảo lãnh mà hình thức
phù hợp với các quy định của bảo lãnh”.
Với ngân hàng, quy tắc độc lập này cũng có thuận lợi. Khi người thụ
hưởng có yêu cầu đòi tiền theo thư bảo lãnh, ngân hàng chỉ có trách nhiệm xem
xét, kiểm tra xem những điều khoản, điều kiện của thư bảo lãnh có được thỏa
mãn hay không? Nhiệm vụ này được thực hiện khá dễ dàng. Do đó, Ngân hàng
sẽ không liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia trong hợp
đồng cơ sở và không liên quan đến tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cơ sở giữa
hai bên. Tuy vậy, tính độc lập của bảo lãnh cũng làm tăng rủi ro do phải thanh
toán hộ khi có sự không trung thực của bên yêu cầu bảo lãnh. Chính vì điểm này
mà khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng phải phân tích
khách hàng chi tiết như khi cho vay.
1.2.3. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng.
1.2.3.1. Chức năng bảo đảm.
Đây là một chức năng rất quan trọng của bảo lãnh ngân hàng. Ngân hàng
là một trung gian tài chính có khả năng tài chính đảm bảo, có uy tín trong kinh
doanh tiền tệ. Do vậy khi ngân hàng phát hành bảo lãnh thì người thụ hưởng bảo
lãnh chăc chắn sẽ được nhận khoản bồi thường về tài chính nếu người được bảo
lãnh vi phạm cam kết. Chính điều này đã tạo tâm lý tin tưởng cho người thụ
hưởng bảo lãnh từ đó tạo điều kiện cho hợp đồng được ký kết một cách suôn sẻ,
thuận lợi.
Mặt khác, hệ thống ngân hàng có khả năng thu thập, nắm bắt thông tin
nhanh nhạy, kịp thời do có mạng lưới khách hàng rộng khắp và đội ngũ cán bộ
chuyên môn giàu kinh nghiệm nên trong thực tế việc trả thay cho khách hàng
chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Tỷ trọng các loại bảo lãnh được yêu cầu thanh toán
không cao, thông thường chỉ khoảng dưới 5%,( ở Mỹ khoảng 1% )…
Ngoài ra bảo lãnh còn được sử dụng cho thỏa thuận phi mua bán như dự
thầu công trình, bảo hành sản phẩm, thực hiện hợp đồng… đây là những thỏa
thuận không mang tính mua bán hay thanh toán. Do vậy, bảo lãnh chỉ được dùng
cho mục đích bảo đảm an toàn cho người thụ hưởng khi có biến cố vi phạm hợp
đồng của người được bảo lãnh.
1.2.3.2 Chức năng tài trợ.
Để thi công trình hay thực hiện một hợp dồng mua bán có thể phải dùng tới
một số vốn lớn trong thời gian dài. Trong xây dựng, người thi công sẽ gặp phải
những khó khăn về tài chính và chịu nhiều rủi ro nếu như phải làm hoàn tất công
trình hay từng hạng mục công trình thì mới nhận được thanh toán của người chủ
công trình.Vì vậy, khi ký kết hợp đồng thi công, công ty xây dựng sẽ thương
lượng với chủ công trình về một khoảng tài trợ cho mình. Còn trong các hợp
đồng thương mại, người cung ứng có thể yêu cầu đặt hàng đặt trước một khoản
tiền tính trên giá trị hợp đồng, hoặc trong cuộc đấu thầu, bên mời yêu cầu bên
dự thầu nộp một khoản tiền đặt cọc tham gia đấu thầu. Ngân hàng phát hành bảo
lãnh như một công cụ tài trợ thực sự về mặt tài chính cho người được bảo
lãnh.Thông qua bảo lãnh, khách hàng (người được bảo lãnh )sẽ không phải xuất
quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được vay nợ khoặc kéo dài thời gian thanh toán
tiền hàng hóa dịch vụ …
Vì vậy, mặc dù không trực tiếp cấp vốn nhưng với uy tín và khả năng đảm
bảo về mặt tài chính Ngân hàng phát hành bảo lãnh đã giúp khách hàng của
mình được hưởng những thuận lợi về ngân quỹ như khi cho vay thực sự. Đến
khi rủi ro xảy ra ngân hàng không thể viện cớ những vấn đề phát sinh từ hợp
đồng cơ sở để từ chối thanh toán.
1.2.3.3 Chức năng đôn đốc thực hiện hợp đồng .
Như đã trình bày ở trên, khi người bảo lãnh không hoàn thành được nghĩa
vụ cam kết với bên thụ hưởng bảo lãnh, ngân hàng sẽ là người bồi thường thiệt
hại như đã thỏa thuận trong bảo lãnh. Bảo lãnh cho phép người thụ hưởng có
quyền yêu cầu thanh tóan khi người được bảo lãnh vi phạm hợp đồng cam kết
trong suốt thời gian có hiệu lực của bảo lãnh và ngân hàng có quyền được đòi lại
khoản đã thanh toán thay.
Đối với ngân hàng khoản phải trả thay được xếp vào loại tài sản “xấu”
trong nội bảng, được coi như một loại nợ quá hạn . Ngân hàng phải chịu áp lực
của việc thanh toán thay nếu người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ của họ. Người được bảo lãnh cũng phải chịu áp lực
sẽ bị đòi bồi hoàn bảo lãnh khi không thực hiện nghĩa vụ của mình. Giữa ngân
hàng và người được bảo lãnh có mối quan hệ mật thiết về măt lợi ích. Vì vậy
ngân hàng sẽ luôn luôn phải đôn đốc khách hàng thực hiện các cam kết bảo lãnh
đã ghi trong hợp đồng.
Đối với người thụ hưởng bảo lãnh, mặc dù chắc chắn sẽ nhận được khoản
tiền bồi thường do sự vi phạm hợp đồng xảy ra nhưng điều mà họ muốn là hợp
đồng được hoàn tất suôn sẻ. Nếu bắt đầu lại từ đầu họ sẽ mất nhiều thời gian và
chi phí để tìm kiếm đối tác mới.
Vì vậy có thể nói bảo lãnh mang ý nghĩa ràng buộc đốc thúc người được
bảo lãnh thực hiện hợp đồng hơn là việc bồi hoàn.
Ba chức năng trên cho thấy tác dụng của bảo lãnh ngân hàng. Nghiên cứu
chúng cho phép chúng ta phát huy đầy đủ các chức năng này và vận dụng bảo
lãnh có hiệu quả.
1.3 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng
Mặc dù là một nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, vẫn còn mới mẻ song bảo
lãnh ngân hàng đã chứng tỏ được vai trò hết sức tích cực của mình, không
những đối với các doanh nghiệp, với ngân hàng mà với cả nền kinh tế.
1.3.1. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng đối với doanh nghiệp
Doanh nghiệp trong nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng có thể đóng vai vai trò
là người được ngân hàng bảo lãnh cũng có thể là người thụ hưởng bảo lãnh.
Trong từng trường hợp bảo lãnh ngân hàng đóng vai trò khác nhau.
Đối với trường hợp doanh nghiệp là người được ngân hàng bảo lãnh.
Thứ nhất, trong quan hệ kinh tế, do sự giới hạn của thông tin cũng như
giới hạn về phạm vi địa giới nên không phải lúc nào các bên tham gia cũng có
đủ độ tin tưởng nhau. Hơn nữa trong quá trình hoạt động kinh doanh luôn gặp
phải nhiều rủi ro từ nhiều phía gây ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng như
đã cam kết. Để an toàn và nhanh chóng, một bên thường yêu cầu bên kia phải có
bảo lãnh của ngân hàng. Bảo lãnh ngân hàng đôi khi là yêu cầu bắt buộc đối với
doanh nghiệp để tiếp cận tới hợp đồng.
Thứ hai, bảo lãnh ngân hàng sẽ khiến cho doanh nghiệp không phải đặt
trước một khoản tiền đặt cọc (ví dụ trong bảo lãnh dự thầu), như vậy doanh
nghiệp có thể tiết kiệm một khoản vốn đáng kể, có thêm nguồn tài trợ cho nhu
cầu vốn lưu động…mà chỉ phải trả một khoản kinh phí bảo lãnh tương đối thấp.
Thứ ba, bảo lãnh ngân hàng còn góp phần tăng uy tín của các doanh
nghiệp đối với các đối tác.
Đối với trường hợp doanh nghiệp là người thụ hưởng bảo lãnh.
Thứ nhất, doanh nghiệp có thể tiết kiệm thời gian tìm hiểu đối tác mà vẫn
lựa chọn được đối tác tốt nhất, tạo cơ hội kinh doanh hiệu quả, đồng thời yên
tâm khi ký kết hợp đồng.
Thứ hai, bảo lãnh ngân hàng giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro trong
giao dịch vì trong trường hợp vi phạm hợp đồng xảy ra thì doanh nghiệp sẽ được
bồi thường đầy đủ như thỏa thuận trong hợp đồng bảo lãnh ngân hàng một
khoản thời gian ngắn nhất.
Ngoài ra bảo lãnh ngân hàng còn góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp
làm ăn nghiêm túc, hoàn thành đúng các hợp đồng đúng theo quy định, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tránh lãng phí trong sản xuất kinh doanh, góp
phần làm tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp.
1.3.2. Vai trò của bảo lãnh ngân hàng với ngân hàng.
Mặc dù là một nghiệp vụ còn khá mới mẻ của ngân hàng song bảo lãnh
ngân hàng đã thực sự đem lại những lợi ích to lớn cho ngân hàng.
Với sự tăng trưởng không ngừng về số lượng và chất lượng, sự có mặt
trong hầu hết mọi giao dịch của nền kinh tế, bảo lãnh ngân hàng đã đem về cho
ngân hàng một khoản thu không nhỏ từ phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh chiếm tỉ lệ
khá lớn trong tổng phí dịch vụ các ngân hàng hiện đại.
Không những góp phần làm tăng lợi nhuận, bảo lãnh còn làm đa dạng hóa
các loại hình dịch vụ nói riêng và hoạt động ngân hàng nói chung làm giảm sự
phụ thuộc vào tín dụng. Mà tăng tỷ trọng thu từ dịch vụ là xu hướng phát triển
chung của các ngân hàng hiện đại ngày nay.
Ngoài ra bảo lãnh còn nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân
hàng đặc biệt là trên trường quốc tế. Nền kinh tế thế giới ngày nay phát triển
theo xu hướng hội nhập, do vậy thị trường thế giới đã trở thành bộ phận không
thể thiếu đối với thương mại và ngoại thương. Bảo lãnh ngân hàng đã thúc đẩy
hoạt động tín dụng quốc tế, thanh toán quốc tế… từ đó góp phần mở rộng quan
hệ đối ngoại của ngân hàng.
1.3.3. Vai trò của bảo lãnh đối với nền kinh tế.
Bảo lãnh là loại hình dịch vụ ngân hàng tồn tại khách quan đáp ứng nhu
cầu của nền kinh tế ngày càng phát triển. Điều này được thể hiện qua vai trò to
lớn của bảo lãnh ngân hàng đối với nền kinh tế thể hiện qua các mặt sau:
Thứ nhất bảo lãnh như một chất xúc tác điều hòa và xúc tiến hàng loạt các
quan hệ hợp đồng trong nền kinh tế. Khi có bảo lãnh ngân hàng, các bên tham
gia giao dịch sẽ yên tâm ký kết hợp đồng và có trách nhiệm thực hiện các nghĩa
vụ đã ký kết. Bảo lãnh đem lại lợi ích cho các bên tham gia cũng là mang lại lợi
ích cho nền kinh tế.
Thứ hai, bảo lãnh có vai trò quan trọng trong vấn đề thu hút vốn cho sản
xuất kinh doanh trong và ngoài nước. Đối với những nước đang phát triển, đang
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vốn thực sự rất cần
thiết đối với các doanh nghiệp nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. Nhưng
hầu hết các doanh nghiệp trong nước chưa đủ độ tin tưởng đối với các đối tác
nước ngoài. Bằng tài sản và uy tín của mình, Ngân hàng đã đứng ra bảo lãnh cho
các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn nước ngoài.
Như vậy, bảo lãnh ngân hàng đã góp phần thu hút một lực lượng vốn nước ngoài
có thời hạn tương đối dài mà lãi suất lại tương đối thấp. Nguồn vốn này được
tập trung cho sản xuất tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới thiết bị, hiện đại
hóa công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Sản
xuất phát triển sẽ làm tăng các lợi ích xã hội khác như: tạo công ăn việc làm,
tăng sản phẩm kinh tế quốc dân…
Thứ ba, bảo lãnh Ngân hàng còn tác động đến chiến lược phát triển kinh
tế quốc gia thông qua chính sách bảo lãnh ngân hàng như ưu tiên bảo lãnh cho
các ngành kinh tế mũi nhọn và các khu vực trọng điểm phát triển… Ngoài ra,
thông qua việc ưu đãi về tỷ lệ phí bảo lãnh, ngân hàng còn là công cụ tài trợ cho
các ngành kinh tế kém phát triển, tạo cho những ngành này vay được vốn với
mức lãi suất thấp, từ đó vươn lên đứng vững trên thị trường.
Thứ tư, bảo lãnh ngân hàng còn góp phần làm trong sạch, lành mạnh hóa
nền kinh tế. Chịu tác động của chức năng bảo đảm và đôn đốc thực hiện hợp
đồng của bảo lãnh ngân hàng, nên các bên tham gia giao dịch sẽ yên tâm ký kết
hợp đồng và nghiêm túc thực hiện, từ đó làm giảm rủi ro cho doanh nghiệp nói
riêng và nền kinh tế nói chung.
Cuối cùng, bảo lãnh ngân hàng còn góp phần tăng cường mối quan hệ
thương mại giữa các quốc gia trên thế giới…
1.4. Nội dung nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.
1.4.1. Các loại bảo lãnh ngân hàng.
Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, bảo lãnh Ngân hàng ngày càng phát
triển đa dạng, phong phú. Ta có thể chia nghiệp vụ bảo lãnh Ngân hàng thành
nhiều loại.
1.4.1.1. Phân loại theo đối tượng bảo lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng được chia làm bảo lãnh trong nước và bảo lãnh ngoài
nước.
Bảo lãnh ngân hàng trong nước là loại bảo lãnh mà các bên tham gia bao
gồm: người được bảo lãnh, người thụ hưởng bảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh ở
trong phạm vi một quốc gia. Các loại bảo lãnh ngân hàng trong nước thường
được áp dụng là bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền
ứng trước… được thực hiện qua hình thức phát hành thư bảo lãnh của ngân
hàng.
Bảo lãnh ngân hàng ngoài nước thường được áp dụng trong lĩnh vực
thương mại quốc tế. Đối tượng giao dịch được bảo lãnh là thương vụ mua bán
giữa các bên xuất khẩu và nhập khẩu. Tổ chức bảo lãnh thường là ngân hàng
thương mại, trú đóng tại nước của người được bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng
ngoài nước thường được thực hiện qua hình thức: mở thư tín dụng mua hàng trả
chậm, ký bảo lãnh trên các hối phiếu nhận nợ với nước ngoài, phát hành thư bảo
lãnh, lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ …
1.4.1.2. Phân loại theo bản chất của bảo lãnh.
Bảo lãnh đồng nghĩa vụ
Đây là loại bảo lãnh mang tính chất truyền thống nếu xét theo nguồn gốc
của nó. Trong hình thức bảo lãnh này, ngân hàng và người được bảo lãnh có
cùng nghĩa vụ như nhau, nhưng nghĩa vụ của khách hàng là nghĩa vụ đầu tiên
còn nghĩa vụ của ngân hàng là nghĩa vụ bổ sung. Ngân hàng chỉ thực hiện nghĩa
vụ của mình khi có những bằng cớ chứng thực nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm.
Bảo lãnh đồng nghĩa vụ rất được áp dụng vào trong quan hệ giao dịch
thương mại quốc tế do tính phức tạp của nó, chủ yếu nó được thực hiện trong
phạm vi nội địa.
Bảo lãnh độc lập
Khác với loại bảo lãnh trên bảo lãnh độc lập là loại bảo lãnh ngân hàng
được áp dụng phổ biến trong thương mại quốc tế do sự thuận lợi mà nó đem lại
cho các bên tham gia.
Bảo lãnh ngân hàng được coi là dạng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại trong
đó nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh hoàn toàn tách rời với nghĩa vụ của người
được bảo lãnh trong hợp đồng gốc. Việc ngân hàng thanh toán thay chỉ diễn ra
khi các điều khoản thanh toán qui định trong văn bản bảo lãnh được thỏa mãn
mà thôi.
1.4.1.3. Phân loại theo mục đích của bảo lãnh.
Bảo lãnh hoàn thanh toán
Bảo lãnh hoàn thanh toán là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng
phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng
trước của khách hàng theo hợp đồng đã kí kết với bên nhận bảo lãnh. Trường
hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải hoàn trả tiền
ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì tổ chức tín dụng sẽ hoàn số trả tiền ứng
trước cho bên nhận bảo lãnh.
Một số trường hợp, khi tham gia ký kết hợp đồng thương mại, dịch vụ
người mua hàng hay người sử dụng dịch vụ trả trước cho người bán hàng hay
người cung cấp dịch vụ một khoản tiền, thường bằng 5% - 15% giá trị hợp đồng.
Nhưng do nhiều nguyên nhân mà hợp đồng không thể thực hiện, người mua
hàng hóa, dịch vụ có thể không nhận lại được số tiền đã ứng trước. Để hạn chế
rủi ro, người mua sẽ yêu cầu người bán phải có bảo lãnh hoàn thanh toán của
ngân hàng.
Bằng việc cam kết sẽ trả lại số tiền ứng trước cho bên mua, Ngân hàng đã
tạo ra nền tin tưởng cho bên mua và giúp bên bán thoát khỏi những khó khăn
nhất thời về mặt ngân quỹ.
Tuy nhiên, trong bảo lãnh hoàn thanh toán để đề phòng sự không trung
thực của người thụ hưởng, văn bản bảo lãnh phải có quy định chặt chẽ về điều
khoản thanh toán. Nghĩa là ngân hàng chỉ thanh toán khi những điều kiện tiền đề
có liên quan đến hành vi ứng trước tiền của người thụ hưởng đã được thỏa mãn.
Các loại bảo lãnh hoàn thanh toán thường được áp dụng:
- Bảo lãnh thi công công trình.
- Bảo lãnh sản xuất máy móc thiết bị.
Bảo lãnh dự thầu
Đối với các hợp đồng lớn như hợp đồng mua sắm hàng hóa, cung ứng
máy móc thiết bị, hợp đồng xây lắp…đấu thầu là hình thức thường được sử
dụng để lựa chọn đối tác tối ưu nhất. Trong các hợp đồng này, bên mở thầu
thường yêu cầu các nhà thầu phải có bảo lãnh dự thầu của ngân hàng.
Bảo lãnh dự thầu là một loại bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát
hành cho bên mời thầu để đảm bảo nghĩa vụ tham gia mời thầu của khách hàng.
Trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp
hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên mời thầu thì tổ chức tín dụng thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
Mục đích chủ yếu của bảo lãnh dự thầu là tránh rủi ro cho bên mời thầu
trong trường hợp nhà thầu trúng thầu “ bỏ cuộc”. Khi đó bên mở thầu sẽ phải
tốn nhiều chi phí cho việc tìm kiếm đối tác lại từ đầu. Ngoài ra, bảo lãnh dự thầu
còn tạo điều kiện cho người dự thầu tham gia dự thầu thuận lợi hơn.
Nhà thầu phải nộp bảo lãnh dự thầu cùng với hồ sơ dự thầu. Trong trường
hợp áp dụng bảo lãnh dự thầu hai giai đoạn, bảo lãnh dự thầu nộp ở giai đoạn
hai. Giá trị bảo lãnh dự thầu bằng từ 1%- 3% giá dự thầu. Bên mời thầu có thể
quy định mức bảo lãnh thống nhất để đảm bảo bí mật về mức giá dự thầu cho
các nhà thầu. Bên mời thầu quy định về hình thức và điều kiện bảo lãnh dự thầu.
Bảo lãnh dự thầu sẽ được trả lại cho những nhà thầu không trúng thầu trong thời
gian không quá 30 ngày kể từ ngày công bố kết quả đấu thầu.
Trong trường hợp nhà thầu trúng thầu nhưng từ chối thực hiện hợp đồng,
rút hồ sơ dự thầu sau khi đóng thầu hoặc vi phạm quy chế đấu thầu thì sẽ không
được nhận lại bảo lãnh dự thầu.
Sau khi nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng, nhà thầu trúng thầu sẽ được
hoàn trả bảo lãnh dự thầu.
Các loại bảo lãnh dự thầu thường được áp dụng là:
-Bảo lãnh dự thầu xây lắp.
-Bảo lãnh cung ứng máy móc, thiết bị, hàng hóa.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín
dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm việc thực hiện đúng, đầy đủ các
nghĩa vụ của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết. Trong
trường hợp khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp
đồng, tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
Mục đích của bảo lãnh thực hiện hợp đồng là chống đỡ rủi ro cho người
thụ hưởng (người đặt hàng) trong trường hợp người cung cấp không thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng như giao hàng không đúng ngày, giờ quy định, sai số
lượng, chất lượng…
Số tiền trong thư bảo lãnh thường có giá trị từ 10%- 15% giá trị hợp đồng
cơ sở. Trường hợp đặc biệt trong bảo lãnh thực hiện hợp đồng xây lắp số tiền
này có thể hơn 15% nhưng phải được người có thẩm quyền quyết định đầu tư
chấp nhận. Số tiền bảo lãnh có thể giảm dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng hết hiệu lực khi người cung ứng đã hoàn thành
nghĩa vụ của mình: giao xong hàng hóa, máy móc thiế bị đã được vận chuyển…
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng được dùng phổ biến nhất và có thể không
phải yêu cầu một loại bảo lãnh nào khác trong quá trình mua bán hàng hóa hoặc
dự thầu xây dựng.
Các loại bảo lãnh thực hiện hợp đồng hay được sử dụng là:
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng xây lắp.