Nguyen.thi.mai

  • 10 trang
  • file .pdf
Kinh tế & Chính sách
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI)
VÀO NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Nguyễn Thị Mai Hương
Trường Đại học Lâm nghiệp
TÓM TẮT
Nông nghiệp là ngành có tiềm năng và lợi thế để phát triển, song nông nghiệp ngày càng khó thu hút dòng vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Kết quả thu hút FDI vào ngành nông nghiệp cho đến nay còn nhiều hạn chế,
chưa thực sự phát huy được hết tiềm năng của ngành. Trong nghiên cứu này, tác giả đánh giá thực trạng thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay về các nội dung như: quy mô vốn
FDI, cơ cấu vốn FDI theo tiêu ngành nông nghiệp, theo hình thức đầu tư, đối tác đầu tư và theo địa phương
nhận đầu tư. Từ đó tìm hiểu nguyên nhân khiến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp
còn nhiều khó khăn và hạn chế, đưa ra được những chính sách, biện pháp góp phần đẩy mạnh việc thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào ngành nông nghiệp ở Việt Nam.
Từ khóa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn FDI, nông nghiệp, tăng trưởng kinh tế.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ được những mục tiêu trên, ngành nông nghiệp
Nhìn lại lịch sử phát triển của xã hội loài và phát triển nông thôn phải tập trung huy
người, nông nghiệp luôn giữ vai trò quan động mọi nguồn lực, trong đó vốn đầu tư trực
trọng, là ngành sản xuất lương thực, thực phẩm tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng
cho xã hội, là nguyên liệu cho ngành công góp phần đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh
nghiệp và các ngành khác. Bước sang thế kỷ tế đất nước. FDI bổ sung nguồn vốn đáng kể
XXI, với những thách thức về an ninh lương cho tăng trưởng, chuyển giao công nghệ, tăng
thực, dân số, môi trường sinh thái, nông cường khả năng xuất khẩu các sản phẩm nông
nghiệp được dự báo vẫn tiếp tục giữ vai trò nghiệp cũng như tạo thêm nhiều việc làm và
quan trong đối với con người nói chung và nâng cao mức sống cho người dân. Tuy nhiên,
mỗi nước nói riêng. kết quả thu hút FDI vào ngành nông nghiệp
Việt Nam là nước xuất phát từ nước nông cho đến nay còn nhiều hạn chế, chưa thực sự
nghiệp, với nền sản xuất nông nghiệp lâu đời. phát huy được hết tiềm năng của ngành. Cụ thể
Hiện nay, trên 70% người dân nước ta vẫn nếu như năm 2001, vốn FDI vào nông nghiệp
sống ở khu vực nông thôn và dựa vào sản xuất còn chiếm tới 8% tổng vốn FDI của cả nước,
nông nghiệp là chính. Sản xuất nông nghiệp thì đến năm 2015 vốn đầu tư vào ngành nông
nước ta không những đảm bảo thỏa mãn nhu nghiệp chỉ còn khoảng 1,46% tổng vốn FDI
cầu lương thực, thực phẩm tiêu dùng trong vào Việt Nam (theo báo cáo của Cục đầu tư
nước mà còn phục vụ xuất khẩu ra thị trường nước ngoài). Một điểm đáng chú ý là FDI
quốc tế, vì thế nó đóng vai trò hết sức quan trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông
trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội thôn được đặc biệt coi trọng và được khuyến
và xóa đói giảm nghèo ở nước ta. Những cơ khích để bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát
hội và thách thức mới của một nến kinh tế triển nông nghiệp. Vậy nguyên nhân nào dẫn
đang trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đến ngành này thu hút nguồn vốn đầu tư nước
đại hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào ngoài ngày càng bị sụt giảm? Các yếu tố nào
nền kinh tế thế giới đòi hỏi nước ta phải xây ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp
dựng một nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, nước ngoài vào ngành nông nghiệp của Việt
hiện đại và co năng lực cạnh tranh cao. Để đạt Nam? Với tầm quan trọng của dòng vốn FDI
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2017 147
Kinh tế & Chính sách
vào ngành nông nghiệp đối với tăng trưởng liệu trong bài báo được xử lý bằng các phần
kinh tế của ngành và của cả nước, việc trả lời mềm Exel... Bài báo cũng được tham vấn ý
các câu hỏi này rất cần thiết nhằm đưa ra giải kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực tài
pháp phù hợp, từ đó tăng cường thu hút hơn chính và thống kê kinh tế.
nữa dòng vốn FDI vào Việt Nam nói chung III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
và ngành nông nghiệp nói riêng trong thời 3.1. Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước
gian tới. ngoài vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam
II. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU a. Quy mô vốn FDI vào ngành nông nghiệp
2.1. Nội dung nghiên cứu Nguồn vốn FDI vào ngành nông nghiệp có
- Tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước biểu đồ tăng trưởng không ổn định và phức tạp.
ngoài vào ngành nông nghiệp tại Việt Nam. Theo bảng 1, ta có thể thấy số lượng dự án
- Nguyên nhân của việc thu hút nguồn vốn FDI đầu tư không ổn định theo từng năm. Với
FDI vào ngành nông nghiệp của Việt Nam còn năm 2009, số lượng dự án đạt gần 30 dự án.
chậm và nhiều khó khăn. Nhưng sau đó, các năm từ 2010 đến 2013, số
- Đánh giá thực trạng, tìm ra một số hạn chế lượng dự án bị giảm nhiều, mỗi năm dao động
và đề xuất giải pháp tăng cường thu hút vốn từ 10 đến 20 dự án. Đây là con số rất thấp so
FDI cho ngành nông nghiệp của Việt Nam với tiềm năng nông nghiệp cũng như so sánh
trong giai đoạn tới (2017 - 2020).
với tổng các dự án FDI mới trong năm. Điều
2.2. Phương pháp nghiên cứu
này cho thấy việc ngành nông nghiệp chưa có
- Phương pháp thu thập số liệu: Tài liệu, số
sức hút với vốn FDI. Đến năm 2014, số dự án
liệu được sử dụng trong bài viết này chủ yếu
FDI được cấp phép trong năm đạt 28 dự án,
được kế thừa và tổng hợp từ các nghiên cứu đã
cao hơn hắn những năm trước. Năm 2015 và 9
được công bố trên sách, báo, tạp chí và các
tháng đầu năm 2016, tuy số lượng dự án mới
trang thông tin điện tử chính thức của các bộ,
đăng ký giảm xuống nhưng quy mô vốn đăng
ngành liên quan.
- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Số ký tăng lên đáng kể.
Bảng 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành nông nghiệp giai đoạn (2009 – 2016)
Tốc độ tăng trưởng Vốn đăng ký Tốc độ tăng trưởng
Năm Số dự án mới
dự án (%) (triệu USD) vốn (%)
2009 29 128,5
2010 12 41 36,2 27
2011 21 175 141,5 391
2012 16 76 33,2 23
2013 13 81 97,7 294
2014 28 215 74,0 83
2015 17 61 258 349
9 tháng
10 52
đầu năm 2016
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trong khi nguồn đầu tư nước ngoài FDI của đầu tư nước ngoài của cả nước. Trung bình
cả nước có xu hướng tăng, thì dòng vốn FDI mỗi năm (từ 2009 đến 2015) có 19,4 dự án đầu
vào lĩnh vực nông nghiệp lại quá nhỏ về quy tư mới, số vốn đăng ký trung bình là 85,2 triệu
mô dự án và tỷ trọng vốn đầu tư so với tổng USD, quy mô vốn trung bình của dự án trong
148 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2017
Kinh tế & Chính sách
ngành nông nghiệp cũng chỉ khoảng 6,7 triệu biến nông sản thực phẩm, chế biến lâm sản,
USD/dự án. Theo Cục Ðầu tư nước ngoài (Bộ chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc. Có thể
Kế hoạch và Ðầu tư), tính đến tháng 9/2016, cả thấy rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
nước có 518 dự án FDI trong lĩnh vực nông - ngành nông nghiệp Việt Nam còn rất nhỏ bé
lâm - ngư nghiệp có hiệu lực, với tổng vốn trên cả phương diện quy mô vốn và mức đầu tư
đăng ký hơn 3,54 tỷ USD, chiếm 2,4% tổng số cho mỗi dự án. Do đó, nếu có những chính
dự án và gần 1,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. sách và giải pháp tích cực hơn cho ngành nông
Không chỉ ngày càng giảm, cơ cấu vốn FDI nghiệp, chắc chắn các nhà đầu tư nước ngoài
trong nông nghiệp cũng có nhiều bất ổn. Các sẽ nhận thấy sự hấp dẫn của ngành nông
dự án FDI vào nông nghiệp chỉ tập trung chủ nghiệp Việt Nam.
yếu vào các dự án thu hồi vốn nhanh như chế
Bảng 2. Vốn FDI đầu tư vào ngành nông nghiệp giai đoạn (2009 – 2016)
Vốn FDI vào nền kinh tế Vốn FDI vào ngành nông nghiệp
Năm
(triệu USD) (triệu USD)
2009 23.107,30 128,50
2010 19.886,10 36,20
2011 15.598,10 141,50
2012 7.854,10 33,19
2013 22.352,20 97,70
2014 15.642,62 73,98
2015 24.115,00 258,00
9 tháng đầu
11.164,63 52,00
năm 2016
Nguồn: Tổng cục thống kê
b. Cơ cấu vốn FDI trong ngành nông nghiệp đầu tư đã đa dạng hơn và khá đồng đều vào tất
theo tiểu ngành cả các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi gia súc gia
Trong những năm đầu của thập kỷ 90, các cầm, trồng và chế biến lâm sản, trồng rừng và
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất nguyên liệu giấy, sản xuất mía đường,
nông nghiệp phần nhiều là các dự án khai thác sản xuất thức ăn chăn nuôi…
và chế biếngỗ và lâm sản. Đến nay, các dự án
Hình 1. Cơ cấu vốn FDI trong ngành nông nghiệp năm 2015
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2017 149
Kinh tế & Chính sách
Như trên hình 1, ta có thể nhận thấy cơ cấu 28,89%. Các nước ở khu vực EU đầu tư vào
FDI vào các tiểu ngành trong nông nghiệp đã Việt Nam đáng kể nhất có Pháp 5,9%, quần
đa dạng hơn và tập trung đầu tư có trọng điểm đảo British Virgin (9%). Các nhà đầu tư từ các
vào các ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm khu vực còn lại trên thế giới, đặc biệt là một số
nghiệp, chế biến thức ăn chăn nuôi, trồng rừng, nước có ngành nông nghiệp phát triển mạnh
chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản và ngành như Hoa Kỳ, Canada, Australia vẫn chưa thực
nghề khác. Tính đến năm 2015, dự án FDI có sự đầu tư vào ngành nông nghiệp nước ta. Đầu
tỷ trọng cao nhất là chế biến - thủy sản (15%) tư của Hoa Kỳ chiếm 4,83%, đầu tư của
và ngành khác (14%), tiếp theo là dự án FDI Canada và Australia chưa đầy 4% tổng lượng
trồng trọt (13%), chế biến - lâm sản(12%), chế vốn đăng ký. Cơ cấu trên đã phản ánh phần
biến - nông nghiệp (11%), chế biến - chăn nuôi nào thể hiện khả năng vận động, kêu gọi xúc
(10%), chăn nuôi (8%), thủy sản (7%), chế tiến đầu tư vào ngành nông nghiệp Việt Nam
biến - trồng trọt (7%) và tỷ trọng thấp nhất là còn nhiều hạn chế. Việc quảng bá những tiềm
dự án FDI lâm nghiệp (3%). Nguyên nhân có năng, thế mạnh của nông nghiệp Việt Nam ra
thể do ngành lâm nghiệp cần thời gian rất dài thế giới chưa được thực hiện bài bản, có tầm
mới có kết quả đầu tư, đây là lý do chính làm nhìn chiến lược. Các cuộc triển lãm, trưng bày
lâm nghiệp không thu hút nhiều sự quan tâm sản phẩm của nông nghiệp tại các cuộc triển
của các nhà đầu tư. lãm, hội chợ chưa được tổ chức thường xuyên.
c. Cơ cấu vốn FDI trong ngành nông nghiệp Thêm nữa là do các chính sách, ưu đãi cho FDI
theo hình thức đầu tư chưa nhiều và chưa được thực hiện triệt để.
Trong nông nghiệp, các dự án FDI vào nước Vẫn còn nhiều ý kiến phàn nàn về thủ tục
ta có 4 hình thức cơ bản làdoanh nghiệp liên rườm rà khi muốn đầu tư, các ưu đãi chưa thực
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, sự đủ sức lôi kéo nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn
hợp tác kinh doanh và công ty cổ phần. Trong vào nông nghiệp. Những nền nông nghiệp phát
đó, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước triển trên thế giới chưa quan tâm đến nông
ngoài chiếm số lượng lớn nhất, khoảng 87% nghiệp Việt Nam. Nếu có sự đầu tư từ những
trong số tổng dự án FDI nông nghiệp, chiếm nước có nền nông nghiệp phát triển, nông
76% tổng số vốn đầu tư. Tiếp theo là doanh nghiệp Việt Nam sẽ có rất nhiều lợi ích không
nghiệp liên doanh chiếm 13% số dự án và 20% chỉ là số vốn từ FDI. Chúng ta có thể sẽ tận
số vốn đầu tư. Hình thức công ty cổ phần tuy dụng, tiếp thu công nghệ hiện đại, quy trìnhsản
chỉ chiếm 0,94% số dự án nhưng lại có số vốn xuất tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại…
chiếm 4% của tổng vốn đầu tư. Qua đây ta e. Cơ cấu vốn FDI trong ngành nông nghiệp
thấy, xu hướng chủ yếu của các nhà đầu tư là theo địa phương nhận đầu tư
thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Theo thống kê Cục Đầu tư nước ngoài năm
d. Cơ cấu FDI trong nông nghiệp theo đối tác 2016, tổng số dự án nôngnghiệp có vốn đầu tư
đầu tư nước ngoài là 518. Số dự án và dòng vốn FDI
Tính các dự án còn hiệu lực đến 06/2016, vào khu vực nông nghiệp đã ít, cơ cấu dự án và
các nước và vùng lãnh thổchâu Á như Đài nguồn vốn này lại phân bổ mất cân đối trong
Loan, ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng các địa phương của cả nước. Phần lớn các dự
Kong là những nước đầu tư lớn nhất với lượng án FDI trong khu vực nông nghiệp đều tập
vốn chiếm tới 61% tổng vốn đăng ký vào trung vào những địa phương có lợi thế về cơ sở
ngành nông nghiệp, trong đó vốn đăng ký của hạ tầng, nguồn nhân lực, vùng nguyên liệu và
Đài Loan là 18,74%, của khu vực ASEAN là điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi.
150 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2017
Kinh tế & Chính sách
Bên cạnh đó, chính sách thu hút nguồn vốn trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó mặt
này hiện nay đã tạo ra môi trường hàng cà phê, gỗ chiếm 40 - 50%; tiêu, điều
cạnh tranh khá quyết liệt giữa các địa phương chiếm 20 - 30%; gạo và thủy sản xuất khẩu
với nhau trong việc mời gọi đầu tư vào lĩnh chủ yếu được thực hiện bởi doanh nghiệp của
vực này. Có thể thấy rằng, những địa phương Việt Nam.
thuộc khu vực Đông Nam Bộ và vùng kinh tế - Về cơ cấu vốn FDI ngành nông nghiệp
trọng điểm phía Nam có nguồn vốn đầu tư FDI theo tiểu ngành: Hoạt động của các dự án FDI
lớn nhất so với các khu vực khác trong cả nước trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã bước
như: Bình Dương (87 dự án, chiếm hơn 590 đầu thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu
triệu USD vốn đăng ký), Đồng Nai (42 dự án, cây trồng, vật nuôi, góp phần đa dạng hóa sản
737 triệu USD vốn đăng ký), TP. Hồ Chí Minh phẩm, thay đổi các phương thức sản xuất
(39 dự án với 156,63 triệu USD), Lâm Đồng truyền thống bằng các phương thức sản xuất
(74 dự án, 214,86 triệu USD vốn đăng ký). mới với quy mô lớn hơn, tiếp thu và ứng dụng
Trong khi đó, những địa phương và khu vực các công nghệ mới vào sản xuất, nâng cao giá
khác lại thu hút FDI rất khó khăn. trị gia tăng và tính cạnh tranh của hàng hóa
3.2. Kết quả đạt được của đầu tư trực tiếp nông lâm thủy sản của xuất khẩu của nước
nước ngoài vào ngành nông nghiệp đến phát Việt Nam.
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn FDI
FDI vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã được tiếp thị ở thị trường quốc tế một cách khá
đạt được những thành tựu đáng khích lệ, đóng thuận lợi, góp phần đáng kể vào việc giới thiệu
góp tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu nôngsản, hàng hoá của Việt Nam trên thị
kinh tế nông nghiệp và nông thôn, tạo việc làm trường thế giới, tạo điều kiện cho nông sản
cho nông dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo Việt Nam thâm nhập thị trường, góp phần nâng
và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. cao kim ngạch xuất khẩu chung của ngành.
- Về quy mô vốn đầu tư: Các dự án FDI FDI cũng góp phần cải thiện tập quán canh tác,
trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp đã góp góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa
phần bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển phương, nhất là các dự án đầu tư vào phát triển
trong lĩnh vực này, tạo thêm nguồn thu cho nguồn nguyên liệu, cải thiện điều kiện hạ tầng
ngân sách nhà nước. yếu kém, lạc hậu ở nhiều địa phương, góp phần
Trong những năm qua, khu vực FDI ngành xóa đói giảm nghèo. Ngoài ra, việc hình thành
nông nghiệp đã góp phần tích cực trong xuất các khu công nghiệp mới và thu hút FDI vào
khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam, đặc biệt các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp
là sản phẩm gỗ, cà phê, chè, điều… Tổng kim chế biến nông sản, hải sản và thực phẩm đã
ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản 6 tháng góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy quá trình
đầu năm 2016 đạt 15,05 tỷ USD, tăng 5,4% so chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn nước ta
với cùng kỳ năm 2015, thặng dư thương mại theo hướng công nghiệp hóa. Việc hình thành
đạt trên 7,5 tỷ USD, góp phần giảm nhập siêu các khu công nghiệp mới không chỉ tạo điều
cho cả nước. Đã có 3 mặt hàng xuất khẩu đạt kiện thu hút lực lượng lao động ở nông thôn
kim ngạch từ 3 tỷ USD trở lên là gạo, cà phê, mà còn góp phần đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa
đồ gỗ (trên 3 tỷ USD), 5 mặt hàng đạt kim và chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn.
ngạch trên 1 tỷ USD là cao su (2,86 tỷ USD), - Đóng góp của FDI ngành nông nghiệp cho
cá tra, tôm, hạt điều, sắn và các sản phẩm sắn. địa phương: Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực
Doanh nghiệp ĐTNN ngoài chiếm 5 - 10% nông lâm ngư nghiệp đã góp phần tạo thêm
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2017 151
Kinh tế & Chính sách
nhiều việc làm mới, nâng cao thu nhập cho ngành nông nghiệp thấp, thiếu tính ổn định.
dân cư các địa phương, cải thiện đời sống kinh So với các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ,
tế - xã hội của nhiều vùng nông nghiệp vànông vốn FDI đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp
thôn, cải thiện cơ sở hạ tầng, góp phần xóa đói nước ta chiếm tỷ trọng rất thấp và không ổn
giảm nghèo. định, trong khi thế mạnh của ngành nông
Đến nay, các dự án FDI vào lĩnh vực nông nghiệp nước nhà là rất lớn. Năm 2015, trong
lâm ngư nghiệp đã thu hút nhiều lao động trực khi ngành công nghiệp nặng chiếm tới 45,5%,
tiếp, chưa kể số lượng lớn các lao động thời vụ công nghiệp nhẹ chiếm 32,7%, thì lĩnh vực
cũng như lao động khác trong khu vực nông nông, lâm nghiệp chỉ chiếm có 7,6%. Nguồn
nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt để cung cấp sản vốn FDI chưa xứng với tiềm năng cũng như
phẩm cho ngành chế biến thực phẩm (tiêu thụ thế mạnh phát triển nông nghiệp của Việt
trong nước và xuất khẩu), chế biến thức ăn Nam. Mặc dù trong tổng thể chính sách thu hút
chăn nuôi gia súc, thức ăn cho nuôi trồng thuỷ FDI, nông nghiệp và phát triển nông thôn luôn
sản. Các doanh nghiệp FDI hàng năm cũng tạo được coi là lĩnh vực khuyến khích và đặc biệt
ra khoảng 500.000 lao động trực tiếp và gián khuyến khích đầu tư. Mặt khác, so với hoạt
tiếp cho ngành nông nghiệp, góp phần nâng động FDI trong các lĩnh vực khác, hiệu quả
cao thu nhập cho người nông dân. Các dự án thực hiện các dự án trong lĩnh vực nông lâm
FDI trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến ngư nghiệp còn rất hạn chế, còn thấp, thiếu ổn
nông sản tuy vốn đầu tư không lớn nhưng lại định và có xu hướng giảm. Đồng thời, do luôn
có thể tạo ra việc làm cho lực lượng lao động tiềm ẩn rủi ro từ nhiều phía (điều kiện tự nhiên,
đông đảo và đang thiếu việc làm trầm trọng ở thị trường, lãi suất thấp, thu hồi vốn chậm vì
nông thôn. phải theo chu kỳ cây trồng - vật nuôi...) nên có
3.3. Hạn chế trong thu hút vốn FDI vào nhiều dự án bị giải thể trước thời hạn.
ngành nông nghiệp - Về hiệu quả vốn FDI theo tiểu ngành:
- Về quy mô vốn FDI: Dòng vốn FDI tăng Hiệu quả hoạt động của các dự án FDI trong
trưởng không ổn định và có xu hướng giảm nông nghiệp chưa cao.
trong những năm gần đây. Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất
Tổng số vốn FDI đầu tư vào Việt Nam có nông nghiệp với nguồn lực tự nhiên và con
chiều hướng đi xuống từ năm 2009, năm 2012 người rất phong phú. Tuy nhiên, các dự án FDI
là năm mà số vốn FDI đột ngột sụt giảm sâu so đầu tư vào trồng trọt và chế biến nông sản mới
với năm 2011. Tuy nhiên, đến năm 2013, chỉ tập trung vào khai thác các tiềm năng sẵn
2014, 2015, vốn FDI đầu tư vào Việt Nam lại có như đất đai, lao động. Số dự án triển khai để
tăng khả quan. FDI vào nông nghiệp tăng tạo ra các giống cây trồng, giống vật nuôi mới
trưởng không ổn định. Vốn FDI vào ngành này còn ít. Trong ngành trồng trọt và chế biến nông
giảm liên tục sau khi đạt số vốn đăng ký rất sản, FDI có xu hướng tập trung vào việc khai
cao năm 2009. Đến năm 2010, vốn đăng ký thác tiềm năng, nguồn lực sẵn có về đất đai,
giảm xuống rất thấp. Sau khi đạt mức tăng đột lao động... chưa có nhiều dự án tạo giống cây,
biến vào năm 2015, dòng vốn đăng ký lại có giống con mới và nuôi, trồng, chế biến các loại
xu hướng giảm. Xu hướng này được dự đoán rau, quả xuất khẩu có hàm lượng công nghệ
là sẽ còn tiếp tục diễn ra vào những năm tới cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện Việt
nếu Việt Nam không có những giải pháp thích Nam. FDI trong ngành trồng rừng và chế biến
hợp cho đầu tư của ngành nông nghiệp. lâm sản chưa thật sự đạt hiệu quả như mong
- Về cơ cấu vốn FDI: Tỷ trọng vốn FDI của muốn, chưa mang lại lợi ích đáng kể cho nhà
152 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2017
Kinh tế & Chính sách
đầu tư, Nhà nước và người lao động. Các dự án triển nguồn nguyên liệu cho sản xuất. Vùng
chế biến lâm sản, nhất là chế biến gỗ chỉ tập Đông Nam Bộ có điều kiện thuận lợi để phát
trung sử dụng nguồn nguyên liệu nhập khẩu triển thành vùng chuyên canh các loại cây công
(80%). Trong khi đó hàng năm nước ta xuất nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm.
thô gỗ ván dăm, gỗ nguyên liệu với khối lượng Tính đến năm hết năm 2015, hơn ½ lượng vốn
rất lớn. Mặt khác, do quy hoạch đất đai chưa FDI trong nông nghiệp được dồn về khu vực
tốt nên chưa đáp ứng được nhu cầu về đất của này có điều kiện thuận lợi về khí hậu thổ
các nhà đầu tư, dẫn đến thiếu gỗ nguyên liệu nhưỡng, cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư, tập
cho chế biến. Nhiều nhà đầu tư phải tiến hành trung ở Đồng Nai, Bình Dương. Lâm Đồng, Tp
trồng rừng nguyên liệu ở một số nước khác và Hồ Chí Minh. Theo vùng sinh thái thì Đông
nhập khẩu trở lại Việt Nam phục vụ cho nhà Nam Bộ chiếm tỷ lệ đầu tư FDI cao nhất
máy chế biến. Việc khai thác, sử dụng đất đai (28,7%), Tây Nguyên (21%), Bắc Trung Bộ và
của các dự án FDI trong lĩnh vực nông lâm Duyên hải miền Trung (17,1%) và Đồng bằng
nghiệp chưa thật sự có hiệu quả. Nhiều dự án sông Cửu Long (17,1%), trong khi đầu tư FDI
trồng rừng chiếm diện tích đất khá lớn, song tác động rất hạn chế đến khu vực Trung Du và
hiệu quả thực tế trên 1 ha sử dụng đất còn rất Miền núi phía Bắc (7,6%), Đồng bằng sông
thấp. Một số dự án trồng rừng nguyên liệu, chế Hồng (8,2%). Tình trạng vốn FDI hạn chế ở
biến nông sản không mang lại hiệu quả, trong các khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ
khi đó lại có khá nhiều dự án tác động nghiêm và Tây Nguyên đã hạn chế dịch chuyển cơ cấu
trọng đến cảnh quan, môi trường tự nhiên hoặc kinh tế nông nghiệp và nông thôn giữa các
thậm chí có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh vùng, địa phương cũng như cho thấy chính
quốc phòng. FDI trong ngành ngư nghiệp bị sách thu hút FDI vào các vùng có điều kiện
giảm do tập trung vào các dự án sản xuất giống kinh tế - xã hội khó khăn chưa thực sự được
mới, chế biến sản phẩm có giá trị gia tăng, coi trọng và thực hiện kém hiệu quả.
nuôi các loài hải sản có giá trị kinh tế cao. Mặt - Về đối tác đầu tư FDI: Đối tác đầu tư
khác, đầu tư trong ngành này giảm do trình độ thiếu tính đa dạng
nuôi trồng thuỷ sản, chế biến của các doanh Tính đến hết năm 2015, đã có 60 quốc gia
nghiệp Việt Nam đã khá hơn đáp ứng được yêu và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.
cầu tiêu chuẩn của quốc tế và thị trường nhập Hàn Quốc dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký
khẩu. Như vậy, dòng vốn FDI vào ngành nông cấp mới và vốn tăng thêm là 7,32 tỷ USD,
nghiệp Việt Nam chỉ chủ yếu khai thác các chiếm 36,2% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam;
nguồn tài nguyên sẵn có mà chưa tập trung đầu Hồng Kông đứng vị trí thứ hai với tổng vốn
tư nhằm phát huy hơn nữa các tiềm năng của đầu tư đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm là 3
đất nước. tỷ USD, chiếm 14,8 % tổng vốn đầu tư;
- Về cơ cấu vốn FDI theo địa phương: Phân Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư
bố nguồn vốn FDI không đồng đều giữa các đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm là 2,79 tỷ
địa phương USD, chiếm 13,8% tổng vốn đầu tư; tiếp theo
Thực tế cho thấy, đầu tư trực tiếp nước là Nhật Bản đứng ở vị trí thứ 4.
ngoài vào ngành nông nghiệp Việt Nam phân 3.4. Nguyên nhân của những hạn chế
bố không đồng đều giữa các địa phương, vùng Thực trạng thu hút FDI vào khu vực nông
lãnh thổ. Hầu hết các dự án vẫn tập trung ở nghiệp, nông thôn cho thấy còn nhiều hạn chế
vùng kinh tế trọng điểm, vùng nguyên liệu, có và yếu kém trong việc xây dựng chiến lược thu
điều kiện khí hậu thổ nhưỡng thuận lợi để phát hút đầu tư, chiến lược xây dựng kết cấu hạ tầng
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2017 153
Kinh tế & Chính sách
phục vụ phát triển nông nghiệp như đã nêu ở đất “sạch”, quy mô lớn để phát triển nông
trên. Nguyên nhân của những bất cập này chủ nghiệp hàng hóa lớn. Nhiều địa phương hy
yếu là: sinh nông nghiệp để phát triển công nghiệp và
Một là, do bất cập ở tầm chính sách vĩ mô. đô thị, trong khi đó chúng ta chưa quan tâm
Các chính sách vĩ mô từ trước tới nay chủ yếu đúng mức tới bảo vệ môi trường. Vì vậy, quỹ
vẫn ủng hộ sự phát triển của các ngành công đất nông nghiệp bị thu hẹp, nguồn nước bị ô
nghiệp thay thế nhập khẩu hoặc tạo ra cơ hội nhiễm, làm giảm tính hấp dẫn của các nhà đầu
lợi nhuận lớn cho các ngành phi sản xuất, như: tư nước ngoài vào nông nghiệp.
tài chính, chứng khoán, bất động sản nên các Năm là, ngành nông nghiệp thiếu đi một
doanh nghiệp tư nhân lớn của Việt Nam cũng chiến lược phát triển tổng thể mang tính liên
như các tập đoàn lớn của nước ngoài đều có ngành, liên vùng. Trong khi đó, đây lại là căn
mặt trong các ngành này. Có rất ít doanh cứ quan trọng để xúc tiến đầu tư
nghiệp và các nhà đầu tư nước ngoài có tiếng 3.5. Giải pháp góp phần tăng cường thu
tăm trên trường quốc tế đầu tư vào nông hút vốn FDI vào ngành nông nghiệp của
nghiệp, nông thôn. Việt Nam trong thời gian tới
Chính phủ chưa xây dựng được cơ chế Thứ nhất, cần có chính sách quảng bá, mời
khuyến khích mang tính hấp dẫn các nhà đầu gọi các doanh nghiệp, đặc biệt là thu hút các
tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp. Bên nguồn vốn FDI cho khu vực nông nghiệp, nông
cạnh đó, công tác tổ chức hướng dẫn thủ tục, thôn. Cùng với đó, cần thiết phải xây dựng một
đến triển khai đầu tư chưa được làm tốt. cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa
Hai là, kết cấu hạ tầng nông thôn còn rất phương để lựa chọn, đề xuất các lĩnh vực, địa
nghèo nàn so với thành thị để đủ sức hấp dẫn bàn ưu tiên đầu tư ngay từ khâu mời gọi và xúc
nhà đầu tư. Điện cung cấp cho nông thôn mất tiến đầu tư. Cơ cấu ngành nghề trong khu vực
thường xuyên và mới dùng để thắp sáng là chủ nông nghiệp, nông thôn cũng cần được xem
yếu, chưa phục vụ nhiều cho tưới tiêu, sản xét để đảm bảo sự phát triển chuyên môn hóa
xuất. Nguồn cung cấp nước sạch cho sinh hoạt các ngành. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
ở nông thôn vẫn còn thiếu, chưa nói đến hệ nông nghiệp, nông thôn cho những khu vực
thống cung cấp nước cho sản xuất. Đặc biệt, khó khăn, như: Tây Bắc, Tây Nguyên và vùng
mới chỉ có 43% diện tích cây rau màu và cây núi miền Trung... Có như vậy, Chính phủ mới
công nghiệp được tưới chủ động. điều tiết được các nguồn vốn FDI vào các địa
Ba là, khách quan thì đầu tư vào nông bàn, lĩnh vực mong muốn. Đồng thời, các nhà
nghiệp, nông thôn mặc dù có thể đem lại hiệu đầu tư cũng có thể phát huy được thế mạnh của
quả cao, nhưng cũng gặp rủi ro lớn về thời tiết, mình trong từng lĩnh vực, địa bàn để có các
thị trường đầu vào và đầu ra. Tỷ lệ bảo hộ thực phương án đầu tư hiệu quả.
tế đối với nông sản quá thấp (dưới 3%) so với Thứ hai, cần sớm hoàn chỉnh quy hoạch và
hàng công nghiệp (có khi lên tới 200%). Hệ nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lực lượng
thống bảo hiểm nông nghiệp hầu như chưa lao động trong khu vực nông nghiệp, trong đó
hoạt động, khiến nhà đầu tư ngần ngại khi đổ cần quan tâm đáp ứng được yêu cầu của các
tiền vào lĩnh vực vốn nhạy cảm và nhiều rủi doanh nghiệp FDI. Đào tạo nghề cho lao động
ro này. nông thôn phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng
Bốn là, đất đai của nước ta hiện nay rất lao động thực tế của các doanh nghiệp trên địa
manh mún và phần lớn do hộ nông dân giữ, bàn và nhu cầu thực tế của người dân. Vì vậy,
trong khi nhà đầu tư nước ngoài cần diện tích từng địa phương cần có những nghiên cứu
154 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 3-2017