Nghiêncứuthựctrạngcôngtác đánhgiá tác độngmôitrườngchocácdự áncôngtrình đườngbộởviệtnam

  • 50 trang
  • file .docx
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS. Bùi
Đình Hoàn đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn tới thầy cô trong tổ môn Kỹ thuật Môi Trường,
Viện Môi Trường và các thầy cô trường Đại học Hàng Hải Việt Nam đã dạy dỗ em
hơn bốn năm học đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành luận văn một cách thuận lợi.
Cho phép em gửi lời cám ơn tới gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, ủng hộ và
động viên em hoàn thành tốt khóa học. Em xin chân thành cám ơn!
Hải Phòng, ngày…..tháng…..năm 2015
Sinh viên
Nguyễn thị Chang
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU........................................................................................................i
1. Tính cấp thiết của đề tài.........................................................................................i
2. Mục đích của đề tài................................................................................................i
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.........................................................................ii
4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................ii
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.............................................................iii
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG..........1
1.1. Khái quát về đánh giá tác động môi trường.......................................................1
1.1.1. Lịch sử về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại Việt Nam.................1
1.1.2. Lợi ích của ĐTM........................................................................................2
1.2. khái niệm đánh giá tác động môi trường............................................................3
1.3. Mục tiêu đánh giá tác động môi trường.............................................................4
1.4. Quy trình đánh giá tác động môi trường............................................................5
1.4.1. Sàng lọc (Screening)..................................................................................6
1.4.2. Xác định phạm vi (Scoping).......................................................................7
1.4.3. Nghiên cứu và lập báo cáo ĐTM...............................................................9
1.4.4. Thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM....................................................10
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG CHO CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG BỘ VÀ CẦU TẠI VIỆT NAM...........12
2.1. Thực trạng đánh giá tác động môi trường (ĐTM) ở Việt Nam........................12
2.1.1. Về nhận thức ĐTM...................................................................................12
2.1.2. Hạn chế của các văn bản pháp lý cho ĐTM.............................................12
2.1.3. Sự phối hợp giữa Chủ dự án và Tư vấn môi trường ................................14
2.1.4. Công tác thẩm định báo cáo ĐTM...........................................................14
2.1.5. Về nội dung Tham vấn cộng đồng ..........................................................15
2.1.6. Về chi phí cho ĐTM ................................................................................16
2.2. Thực trạng ĐTM đối với công trình đường bộ và cầu tại Việt Nam................16
2.2.1 .Phần mô tả tóm tắt dự án..........................................................................16
2.2.2. Nội dung dự báo và đánh giá tác động môi trường.................................16
2.2.3. Biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa ứng phó sự cố môi trường................17
2.2.4. Chương trình quan trắc, giám sát môi trường..........................................18
2.2.5. Tổ chức thực hiện ĐTM...........................................................................18
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG CHO CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG BỘ VÀ CẦU TẠI VIỆT NAM..19
3.1. Các giải pháp chung nâng cao chất lượng ĐTM.............................................19
3.1.1. Nâng cao nhận thức trong ĐTM của chủ dự án và tư vấn môi trường.....19
3.1.2. Hoàn thiện Văn bản pháp lý đầy đủ, phù hợp với thực tiễn ĐTM ở Việt
Nam (Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn, Tiêu chuẩn và Quy chuẩn)..............19
3.1.3. Nâng cao chất lượng Tư vấn môi trường.................................................19
3.1.4. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định báo cáo ĐTM..........................20
3.1.5. Về tham vấn cộng đồng............................................................................21
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng ĐTM công trình đường bộ và cầu..................21
3.2.1. Nghiên cứu nắm vững các văn bản, căn cứ pháp lý về ĐTM..................21
3.2.2. Nâng cao trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ giữa chủ dự án và tư vấn
môi trường trong ĐTM............................................................................................21
3.2.3. Nâng cao chất lượng cung cấp thông tin cho quá trình ĐTM..................22
3.2.4. Nâng cao chất lượng từ các cuộc khảo sát thực địa.................................25
3.2.5. Nâng cao chất lượng trong dự báo, đánh giá tác động.............................27
3.2.6. Sử dụng các công cụ tính toán dự báo phù hợp........................................29
3.2.7. Nâng cao chất lượng trong nghiên cứu, đề xuất các biện pháp giảm thiểu
………………………………………………………………………………….33
3.2.8. Nâng cao chất lượng trong quản lý, giám sát môi trường........................37
3.2.9. Cách viết và trình bày trong báo cáo ĐTM..............................................38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................40
1. Kết luận...............................................................................................................40
2. Kiến nghị.............................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................42
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU
BVMT Bảo vệ môi trường
BGTVT Bộ giao thông vận tải
BKHCNMT Bộ khoa học công nghệ môi trường
BTNMT Bộ tài nguyên môi trường
CSHT Cơ sở hạ tầng
CQLXD Cục quản lý xây dựng
ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
GPMB Giải phóng mặt bằng
GTVT Giao thông vận tải
KHCNMT Khoa học công nghệ môi trường
KTXH Kinh tế xây dựng
MCN Mặt cắt ngang
QLDA Quản lý dự án
QL Quốc lộ
TĐC Tái định cư
TP Thành phố
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND Ủy ban nhân dân
VQG Vườn quốc gia
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hình Tên hình Trang
Hình
Đường cao tốc Hà Nội-Thái Nguyên 13
2.1
Hình
Cầu Cần Thơ mới xây dựng 13
2.2
Hình Thi công mố cầu Cần Thơ
23
3.1
Hình Mặt dốc được đấp và trải Erosion Mat
25
3.2
Hình Mặt dốc hoàn thiện và được phủ cỏ xanh
26
3.3
Hình Cầu Nhật Tân-Hà Nội
27
3.4
Hình Thi công cọc khoan nhồi móng trụ cầu Cần Thơ
28
3.5
Hình Xe tưới nước giảm bụi thi công đường
32
3.6
Tường chống ồn trên QL1 đoạn đi qua bệnh viên đa khoa
Hình
tỉnh Đồng Nai 33
3.7
Hình Hình ảnh vườn quốc ra đi qua VQG Cúc Phương
35
3.8
Trồng cỏ Vetiver chống sụt lở taluy trên đường Hồ Chí
Hình
Minh 35
3.9
Hình Cỏ Vetiver trên taluy trên đường Hồ Chí Minh đã xanh tốt
36
3.10
Trạm trộn bê tông nổi di động thi công móng trụ cầu Cần
Hình
Thơ 36
3.11
Hình Đổ bê tông móng trụ dưới sông cầu Cần Thơ
37
3.12
Bản đồ 1 Cầu vượt dự án đường Hồ Chí Minh qua VQG Cúc Phương 34
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, ngành giao thông vận tải là
ngành có đóng góp vô cùng quan trọng trong đó không thể thiếu các công trình
giao thông đường bộ và cầu. Cùng với sự phát triển liên tục của đất nước trong
những năm qua, lĩnh vực xây dựng công trình vận tải nói chung và xây dựng công
trình đường bộ và cầu nói riêng đã và đang được nhà nước đầu tư phát triển và có
những thành tựu đáng tự hào.
Tuy có nhiều lợi ích, việc triển khai dự án cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực
đến môi trường tự nhiên cũng như môi trường kinh tế, xã hội đối với một phần dân
cư sinh sống dọc tuyến đường dự án. Do vậy, đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
chính là một khâu then chốt, quan trọng vì đây là quá trình phân tích, dự báo những
tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể, từ đó đề xuất các
biện pháp giảm thiểu ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó các sự cố môi trường khi triển
khai dự án đó. Các hoạt động đánh giá tác động môi trường cho công trình đường bộ
và cầu hiện nay ngày càng được quan tâm và thực hiện có hiệu quả. Mặc dù đánh
giá tác động môi trường có ý nghĩa rất quan trọng nhưng công tác này vẫn còn một
số vấn đề đáng quan tâm trong việc đánh giá tác động môi trường của các dự án.
Chính vì vậy, luận văn tốt nghiệp sau sẽ đi tìm hiểu về thực trạng công tác
đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại Việt Nam đang diễn ra như thế nào, có
những bất cập gì để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá tác
động môi trường các công trình đường bộ, và cầu trong thời gian tới, hướng tới
phát triển bền vững trong ngành GTVT.
2. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng của hoạt động đánh giá tác động môi trường
cho công trình đường bộ và cầu tại Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng đánh giá tác động môi trường cho các công trình trên
nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong ngành GTVT ở nước ta.
i
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác đánh giá tác động môi trường và các báo
cáo ĐTM cho các công trình đường bộ và cầu tại Việt Nam hiện nay.
 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng công tác đánh giá tác động môi trường cho các dự án
công trình đường bộ ở Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp phân tích
Dựa trên thực trạng đánh giá tác động môi trường đã được thực hiện, tiến
hành phân tích chỉ ra các điểm nhấn quan trọng trong công tác ĐTM hiện nay dựa
trên kinh nghiệm thực tế và kiến thức chuyên ngành môi trường.
 Phương pháp so sánh
Phân tích các số liệu thu được, lược bỏ các số liệu cũ và thay thế bằng số
liệu mới, sử dụng các số liệu, thông tin và kết quả có sẵn từ các nguồn đáng tin cậy
và các tiêu chuẩn đã được quy định cụ thể để so sánh với các thông tin, số liệu, kết
quả đã thu được để đánh giá đúng, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý và nâng cao
chất lượng đánh giá ĐTM.
 Phương pháp tổng hợp tài liệu
Phương pháp này tập hợp toàn bộ các số liệu, tài liệu mang tính khoa học đã
được báo cáo, công bố trên tất cả các thông tin liên quan đến quy chế BVMT. Các
số liệu thu được qua phương pháp này chủ yếu là các bảng biểu, văn bản điều tra
tình hình thực hiện quy chế bảo vệ môi trường của chủ dự án.
 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
Đây là quá trình quan sát thực tế khu vực xây dựng CSHT GTVT, xây dựng
cầu để có đánh giá chính xác về các báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự
án, ảnh hưởng của những hoạt động xung quanh cũng như các nguồn gây ô nhiễm.
 Phương pháp thu thập số liệu và tổng hợp thông tin
Từ sách, báo, trang mạng internet….
ii
 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến thầy cô trong bộ môn Kĩ thuật môi trường.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu tổng quan về ĐTM dựa trên những tài liệu, số liệu có cơ sở khoa
học, được công bố công khai trên các trang thông tin đại chúng được nhiều người
biết và sử dụng như tài liệu tham khảo. Đưa ra cái nhìn tổng quát hơn về hiện trạng
đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam để biết được giá trị thực sự của ĐTM.
 Ý nghĩa thực tiễn
Việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng ĐTM góp phần
nâng cao hiệu quả của việc thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự
án xây dựng cơ sở hạ tầng đường bộ.
iii
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
1.1. Khái quát về đánh giá tác động môi trường
1.1.1. Lịch sử về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) tại Việt Nam
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một quá trình nghiên cứu để nhận
dạng, dự báo các tác động tích cực và tiêu cực có thể xảy ra của dự án phát triển
đến môi trường. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nhằm duy trì, phát huy các
tác động tích cực và phòng ngừa giảm nhẹ, giảm thiểu các tác động tiêu cực
trong quá trình triển khai dự án.
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM), một cách tiếp cận mới trong quản lý
môi trường bắt đầu được áp dụng ở một số nước trên thế giới vào những năm
1970, nhưng đã sớm được Việt Nam quan tâm. Khởi đầu, ĐTM được đặt ra
trong Chương trình khoa học cấp nhà nước về tài nguyên và môi trường giai
đoạn 1981-1985. Tiếp đó, ĐTM được đề cập trong một số văn bản quan trọng,
như: Nghị quyết 246-HĐBT ngày 20/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) về việc đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; Chỉ thị 73-TTg ngày 25/2/1993 của
Thủ tướng Chính phủ về một số công tác cần ngay để bảo vệ môi trường. Tiếp
đó, Bộ Khoa học, Công nghệ về Môi trường (Bộ KHCNMT) có Thông tư 1485-
MTg ngày 10/9/1993 hướng dẫn tạm thời về ĐTM.
Tuy nhiên, công tác ĐTM ở Việt Nam mới thực sự được triển khai một
cách có hệ thống từ Trung ương đến địa phương, đều khắp ở mọi ngành trong cả
nước kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường 1993 ra đời, đặc biệt là từ khi Chính phủ
ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1993 về hướng dẫn thi hành Luật
BVMT. Kể từ sau khi có Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 trước đây và luật
BVMT 2014 hiện nay, các dự án đầu tư có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường
ở Việt Nam đều được yêu cầu lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM).
Trong thời gian qua các dự án xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng giao
thông phần lớn đều đã thực hiện lập Báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược
(ĐMC), Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM), thực hiện quan trắc và
giám sát môi trường theo quy định, góp phần kiểm soát chất thải, hạn chế ô
nhiễm trong hoạt động xây dựng.
1
1.1.2. Lợi ích của ĐTM
Từ khi công tác thẩm định được thực hiện, thông qua báo cáo ĐTM, các
chủ đầu tư, nhà thầu đã quan tâm hơn đến việc thực hiện các biện pháp phòng
ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, qua đó công tác bảo vệ môi
trường đã có nhiều tiến bộ so với trước đây.
Việc thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) theo quy định của nhà
nước đã mang lại nhiều hiệu quả, đóng góp trong sự phát triển bền vững, nâng
cao tinh thần trách nhiệm trong việc lựa chọn loại hình dự án và công nghệ sản
xuất, trong phòng ngừa, giảm thiểu tác động xấu tới môi trường do các hoạt
động của dự án gây ra, góp phần ổn định xã hội, hạn chế ô nhiễm môi trường,
giảm tác động xấu tới sức khỏe cộng đồng. ĐTM có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc xem xét và quyết định các dự án đầu tư.[4]
Có thể coi việc ĐTM là công cụ quản lý môi trường, hỗ trợ cho việc thực
hiện các dự án theo hướng bảo đảm hiệu quả kinh tế, khuyến khích công tác quy
hoạch tốt hơn, tránh được những sai lầm mà sau này phải khắc phục rất tốn kém;
làm cho việc sử dụng tài nguyên thận trọng hơn, hợp lý hơn, hạn chế được suy
thoái và ô nhiễm môi trường, góp phần thiết thực vào việc phát triển bền vững.
[1]
ĐTM có lợi ích rất to lớn, nếu không làm tốt công tác ĐTM, sẽ không thấy
được những tác động xấu, nhất là các tác động không thể đảo ngược được có thể
xảy ra khi thực hiện dự án để chủ động đề ra được những biện pháp phòng ngừa,
ứng phó hữu hiệu ngay từ đầu thì sẽ phải tốn kém rất nhiều tiền của để khắc
phục hậu quả, thậm chí là không thể khắc phục được.[1] Trên thực tế ngành giao
thông đã có nhiều dự án lớn đã làm tốt công tác ĐTM, chỉ ra được những tác
động xấu để có biện pháp khắc phục và phương án thay thế như dự án đường
HCM qua vườn QG Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Bàng, dự án xây
dựng cầu Cần Thơ, cầu Thanh Trì...
Tác dụng trước tiên và lớn nhất của ĐTM là để lựa chọn địa điểm của dự
án phù hợp với các điều kiện tự nhiên (địa lý, địa chất, khí tượng thủy văn…) và
sức chịu tải của các thành phần môi trường tự nhiên (như đất, nước, không khí,
sinh vật…) tại địa điểm dự kiến của dự án. Sau đó là tạo ra cơ sở để đưa ra các
biện pháp khả thi nhằm phát huy các tác động tích cực giảm thiểu các tác động
2
tiêu cực của dự án tới môi trường; đề ra được chương trình, kế hoạch phù hợp về
quản lý và giám sát môi trường trong quá trình triển khai dự án.[1]
Việc xem xét báo cáo ĐTM được xem là một điều kiện cơ bản trước khi cơ
quan thẩm quyền ra quyết định có cho phép dự án được triển khai hay không.
Mặt khác là cơ sở để chủ dự án chủ động tích cực và phòng ngừa, giảm nhẹ,
giảm thiểu các tác động tiêu cực của dự án; đề ra được chương trình, kế hoạch
phù hợp để quản lý và giám sát môi trường trong quá trình triển khai thực hiện
dự án.[1]
Tuy nhiên trong thời gian qua, không ít báo cáo ĐTM trên thực tế chất
lượng chưa đạt được những yêu cầu theo quy định của pháp luật, các báo cáo
ĐTM có chất lượng thấp về mặt dự báo và về đề xuất các biện pháp giảm thiểu
tác động xấu đó là các nội dung quan trọng nhất của ĐTM. Nhiều báo cáo ĐTM
có chất lượng chưa cao, thậm chí còn kém, phải sửa đi, sửa lại nhiều lần mới
được phê duyệt. Việc lập ĐTM cho một dự án đầu tư còn gặp nhiều bất cập,
nhất là ở việc các báo cáo ĐTM bao giờ cũng chỉ tập trung vào các tác động có
hại trực tiếp trước mắt của vấn đề môi trường mà ít quan tâm đến tác động gián
tiếp lâu dài và tác động đến xã hội.
Do vậy việc tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đánh giá tác
động môi trường nói chung cũng như chất lượng ĐTM nói riêng đối với công
trình đường bộ và cầu trong ngành GTVT là rất cần thiết đáp ứng đòi hỏi cấp
bách về phát triển bền vững hiện nay.
1.2. khái niệm đánh giá tác động môi trường[1]
Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa chung đầy đủ, vạn năng về ĐTM. Ta
có thể nêu ra một vài ví dụ về ĐTM để chứng tỏ sự đa dạng của ĐTM:
ĐTM hoặc phân tích tác động môi trường là sự xem xét một cách có hệ
thống các hậu quả về môi trường của các đề án, chính sách và chương trình với
mục đích chính là cung cấp cho người ra quyết định một bản liệt kê và tính toán
các tác động mà các phương án hành động khác nhau có thể đem lại (Clark,
Brian D, 1980)
ĐTM của các hoạt động kinh tế - xã hội là xác định, phân tích và dự báo các
tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạt độngcó thể gây
ra cho tài nguyên và môi trường sống của con người tại nơi có liên quan tới hoạt
3
động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng, tránh, khắc phục các biện pháp
tiêu cực. Lê Thạc Cán, 1994.
Trong luật bảo vệ Môi trường Việt Nam, ĐTM được định nghĩa như sau:
Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi
trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi
triển khai dự án đó.
Như vậy, không thể gói gọn toàn bộ công tác ĐTM trong một định nghĩa
như vậy. bởi trong quá trình thực hiện sẽ thấy từng từ ngữ trong câu đòi hỏi phải
có sự định nghĩa, xác định rõ ràng. Việc này cũng được đề cập trong một số Bộ
luật của nhà nước mà trước hết là Đạo luật chinh sách môi trường của Mỹ.
1.3. Mục tiêu đánh giá tác động môi trường[1]
ĐTM có thể đạt được nhiều mục đích, Alan Gilpin đã chỉ ra vai trò, mục đích
của ĐTM trong xã hội với 10 điểm chính sau:
1. ĐTM nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động có hại đến
môi trường của chính sách, chương trình, hoạt động của dự án. Nó góp
phần loại trừ cách đóng cửa ra quyết định, như vẫn thường làm trước đây,
không tính đến ảnh hưởng môi trường trong các khu vực công cộng và tư
nhân.
2. ĐTM tạo ra các cơ hội để trình bày với người ra quyết định về tính phù
hợp với chính sách, hoạt động, dự án về mặt môi trường, nhằm ra quyết
định có tiếp tục thực hiện hay không.
3. Đối với các chương trình, chính sách, hoạt động, dự án được chấp nhận
thực hiện thì ĐTM tạo ra cơ hội trình bày sự phối kết hợp các điều kiện có
thể giảm nhẹ tác động có hại tới môi trường.
4. ĐTM tạo ra phương thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quá trình ra
quyết định, thông qua các đề nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tới người
đưa ra quyết định.
5. Với ĐTM, toàn bộ quá trình phát triển được công khai để xem xét một
cách đồng thời lợi ích của tất cả các bên lựa chọn được dự án tốt hơn để
thực hiện.
6. Những dự án mà về cơ bản không đạt yêu cầu hoặc đặt sai vị trí thì có xu
4
hướng tự loại trừ, không phải thực hiện ĐTM và tất nhiên là không cần
đến sự chất vấn của công chúng.
7. Thông qua ĐTM, nhiều dự án được chấp nhận nhưng phải thực hiện điều
kiện nhất định, chẳng hạn như chủ dự án phải đảm bảo quá trình đo đạc,
giám sát, lập báo cáo hàng năm…
8. Trong ĐTM phải xem xét tất cả các khả năng thay thế chẳng hạn như
công nghệ, địa điểm đặt dự án phải được xem xét hết sức cẩn thận.
9. ĐTM được coi là công cụ phục vụ phát triển, khuyến khích phát triển tốt
hơn, trợ giúp cho tăng trưởng kinh tế.
10. Trong nhiều trường hợp, ĐTM chấp nhận sự phát thải, kể cả thải khí nhà
kính cũng như việc sử dụng không hơp lý tài nguyên ở mức độ nào đấy,
nghĩa là chấp nhận phát triển và tang trưởng kinh tế.
Qua phân tích mục đích, vai trò của ĐTM ta thấy rõ ý nghĩa to lớn của nó
trong sự nghiệp phát triển chung của nhân loại, thể hiện ở chỗ ĐTM là công
cụ quản lý môi trường quan trọng. Song nó không nhằm thủ tiêu, loại trừ, gây
khó dễ cho sự phát triển kinh tế - xã hội mà nó hỗ trợ theo hướng đảm bảo
hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường. Vì vậy nó góp phần vào mục tiêu phát
triển bền vững.
1.4. Quy trình đánh giá tác động môi trường[9]
Quy trình ĐTM chung nhất theo UNEP được thể hiện qua các bước gồm:
sàng lọc, xác định phạm vi, đánh giá tác động môi trường, thẩm định ra quyết
định, quan trắc và kiểm toán môi trường (auditing) được thể hiện bằng sơ đồ
sau:
5
Sàng lọc
Xác định phạm vi
Nghiên cứu và lập báo cáo ĐTM
Thẩm định và phê duyệt báo cáo
1.4.1. Sàng lọc (Screening)
Sàng lọc là bước thực hiện đầu tiên của quy trình ĐTM với mục tiêu xác
định có căn cứ khoa học một dự án được đề xuất có cần phải thực hiện ĐTM
hay không và nếu cần thực hiện đến mức nào, ĐTM chi tiết hay chỉ ở mức độ sơ
bộ hoặc không phải làm gì về mặt môi trường. Sàng lọc là bước thực hiện mang
lại lợi ích không chỉ giải đáp những vấn đề nêu trên mà còn giúp tránh được
những lãng phí về thời gian, tiền của của cơ quan nhà nước, của chủ dự án nói
riêng và của toàn xã hội nói chung.
Có hai cách sàng lọc là sàng lọc dựa trên việc lập danh mục dự án xác định
và sàng lọc dựa trên tiêu chí và kiến thức chuyên gia:
- Sàng lọc bằng việc lập danh mục dự án:
Dựa trên những kinh nghiệm quản lý, quy mô tính chất của dự án, cơ quan
nhà nước có thẩm quyền (thường ở mức độ chính phủ) xây dựng ban hành danh
mục các dự án phải thực hiện ở mức độ khác nhau.
Việt Nam áp dụng cách tiếp cận sàng lọc này ngay từ khi Luật Bảo vệ môi
trường năm 1993. Hiện nay, trên cơ cở Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 danh
mục gồm 162 loại hình dự án phải lập báo cáo ĐTM đã được quy định tại Phụ
lục của Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 2 năm 2008 của Chính phủ
về sủa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng
8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật bảo vệ môi trường. Như vậy, các dự án không nằm trong danh
6
mục này sẽ không phải lập báo cáo ĐTM và thay thế vào đó là lập Biên bản cam
kết bảo vệ môi trường tương đương với một bản báo cáo ĐTM đơn giản.
- Sàng lọc dựa trên tiêu chí:
Cách này được dựa trên cơ sở các chỉ tiêu gồm: chỉ tiêu ngưỡng; chỉ tiêu về
các vùng nhạy cảm và chỉ tiêu về các kiểu dự án.
Chỉ tiêu ngưỡng được xây dựng trên các yếu tố như: vị trí, diện tích đất sử
dụng, yêu cầu về cơ sở hạ tầng, chi phí và quy mô dự án.
Chỉ tiêu vùng nhạy cảm là căn cứ vào mối quan hệ của vị trí dự án với các
vùng nhạy cảm môi trường như các khu vực đông dân cư, các khu vực cần bảo
vệ nghiêm ngặt về lịch sử văn hóa tài nguyên thiên nhiên hoặc khu vực có điều
kiện môi trường dễ bị suy thoái, phá hủy (vùng đất ngập nước, vùng của
sông…).
Chỉ tiêu về kiểu dự án được phân thành các nhóm: dự án nhằm cải thiện
môi trường; những dự án có tiền năng gây tác động xấu lên môi trường nhưng
dễ xác định và hạn chế; những dự án có tác động môi trường lớn phải thực hiện
ĐTM chi tiết.
Cách sàng lọc này có độ chính xác, tuy nhiên cung có những hạn chế cơ
bản đó là thủ tục hành chính và nhiều khi mất thời gian, tốn kém kinh phí do khó
đạt được sự đồng thuận giữa Chủ dự án và cơ quan quản lý môi trường có thẩm
quyền.
1.4.2. Xác định phạm vi (Scoping)
Xác định phạm vi có mục tiêu nhằm nhận dạng và xác định những vấn đề
môi trường chính cần quan tâm ở giai đoạn sớm của quá trình quy hoạch dự án
nhằm mục đích giúp cho việc lựa chọn địa điểm, đánh giá phương án thay thế
được thuận lợi và chuẩn xác, đồng thời đảm bảo cho ĐTM có được chi tiết cần
thiết, xác định được trọng tâm của các vấn đề và các thông tin liên quan đồng
thời bỏ sót các vấn đề cốt yếu nhất.
Xác định phạm vi bao gồm các nội dung sau:
- Cơ sở pháp lý mà ĐTM cần tuân thủ: các quy định về bảo vệ môi trường
và các tiêu chuẩn, quy trình kỹ thuật quốc gia về môi trường…
7
- Xác định phạm vi không gian và thời gian của ĐTM. Phạm vi về không
gian được xác định dựa vào vùng có khả năng chịu ảnh hưởng lớn bởi từng tác
động của dự án. Phạm vi này có thể là nơi thực hiện dự án hoặc cũng có thể là
một khu vực rộng lớn hơn tùy theo tính chất và mức đọ tác động.
Phạm vi thời gian cho việc đánh giá thông thường chí ít cũng phải bao trùm
khoảng thời gian xây dựng và vận hành của dự án.
- Xác định các tác đọng tiềm tàng làm biến đổi về môi trường cần đánh giá.
- Lý giải về những tác động không xem xét đến.
- Mức độ chi tiết của các nghiên cứu ĐTM, xác định phương án thay thế
của dự án cần được xem xét.
- Các phương pháp, giải pháp để giảm thiểu các tác động xấu.
- Xác định các phương pháp ĐTM thích hợp, các tiêu chí và thủ tục tư vấn.
- Đánh giá mối quan tâm của cộng đồng nhằm xác định cách giải quyết
hoặc không giải quyết tiếp các mối quan tâm đó.
- Xác định các yêu cầu về điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu về
môi trường cần thiết.
- Tổ chức thực hiện ĐTM bao gồm: đề xuất chuyên gia theo chuyên môn
phù hợp; các cá nhân tổ chức sẽ tham vấn; phương pháp đánh giá, mức độ chi
tiết đối với từng loại tác động.
- Lịch trình thực hiện ĐTM và nhu cầu về kinh phí.
Xác định phạm vi đưa lại nhiều lợi ích: tiết kiệm thời gian, kinh phí; định
hướng rõ các vấn đề cần thực hiện trong nghiên cứu ĐTM; giảm các khối lượng
tài liệu cần thu thập, giúp cho ĐTM tập chung và những nội dung chính yếu
quan trọng nhất; tạo được mối liên kết giữa người ra quyết định với cộng đồng;
giúp cho Chủ dự án cân nhắc những thay thế, biện pháp giảm thiểu các tác động
xấu đên môi trường.
Kết quả của xác định phạm vi là lập một Đề cương chi tiết cho hoạt động
ĐTM (TOR) với những nội dung trên. Theo quy định của một số nước, Bản đề
cương được Chủ dự án và tư vấn phối hợp lập sẽ được trình cho cơ quan nhà
nước có thẩm quyền làm căn cứ cho nghiên cứu và lập báo cáo ĐTM chi tiết.
8
Tuy nhiên, ở Việt Nam, Luật BVMT quy định Chủ dự án có trách nhiệm
lập báo cáo ĐTM, do vậy, bước xác định phạm vi và lập đề cương nghiên cứu
ĐTM là một công việc nội bộ giữa chủ dự án và cơ quan tư vấn mà không có sự
tham gia hay thẩm định của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường.
1.4.3. Nghiên cứu và lập báo cáo ĐTM
Tiến hành nghiên cứu ĐTM là bước tiếp theo của quá trình ĐTM được
thực hiện trên cơ sở TOR được lập và theo các hướng dẫn kỹ thuật. Thực chất,
đây là một hoạt động nghiên cứu khoa học, do vậy cần phải có một phương pháp
nghiên cứu phù hợp, một cơ sở dữ liệu đầy đủ và được thực hiện bởi một đội
ngũ các chuyên gia có trình độ, kinh nghiệm thuộc nhiều chuyên nghành về
nhiều chuyên ngành khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, về công nghệ phù hợp
với dự án. Nội dung nghiên cứu ĐTM ở bước này là nhận dạng, phân tích, đánh
giá, dự báo các tác động tiềm tàng của dự án, xác định mức độ và đối tượng bị
tác động đồng thời đề xuất các giải pháp phòng tránh, giảm thiểu tác động xấu
và cuối cùng là đưa ra một chương trình quan trắc, giám sát các tác động này
một cách toàn diện và hiệu quả nhất.
Việc lựa chọn phương pháp ĐTM, nhận dạng các tác động lên môi trường
của một dự án phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản gồm: loại và quy mô dự án; đặc
điểm môi trường tự nhiên, kinh tế- xã hội vùng chịu tác động của dự án; bản
chất của các tác động môi trường; kinh nghiệm của nhóm chuyên gia ĐTM; thời
gian và kinh phí đầu tư cho thực hiện ĐTM.
Thông thường các tác động môi trường có thể được phân loại theo các tiêu
chí khác nhau như:
- Phân theo đối tượng bị tác động: tác động đến môi trường vật lý, tác động
đến môi trường sinh học, tác động đến môi trường sinh học và tác động về kinh
tế.
- Phân theo nguồn gốc gồm: tác động trực tiếp, tác động gián tiếp, tác động
tích lũy hay tác động tổng hợp.
- Phân theo quy mô, mức độ tác động: tác động mạnh, tác động trung bình,
tác động yếu.
- Phân theo mức độ bị tác động: tác động phục hồi và tác động không phục
hồi.
9
Ngoài ra, việc đánh giá, dự báo tác động phải xét đến khía cạnh khác nhau
của mỗi tác động gồm: cường độ tác động, phạm vi tác động về không gian, thời
gian, xác xuất xảy ra các tác động và mức độ nghiêm trong của tác động.
Việc giảm thiểu tác động phải đảm bảo cho dự án phát triển tốt nhất đồng
thời loại bỏ hạn chế thấp nhất các tác động ở mức có thể chấp nhận được các tác
động xấu đến môi trường, phát huy tốt nhất các tác động tích cực; đảm bảo
người dân không phải chịu thêm các thiệt hại môi trường khác lớn hơn lợi ích
mang lại cho họ.
Các biện pháp giảm thiểu bao gồm từ việc xem xét, thay đổi địa điểm đến
việc thay đổi quy mô (công suất) dự án, thay đổi công nghệ, thay đổi thiết kế.
các biện pháp giảm thiếu này phải được đưa vào thiết kế dự án, thực thi và vận
hành cùng dự án.
Các nội dung của công tác giảm thiểu được lập phù hợp cho các giai đoạn
thực hiện dự án gồm: giai đoạn tiền xây dựng (chuẩn bị mặt bằng), giai đoạn xây
dựng và giai đoạn vận hành dự án (đưa dự án vào hoạt động thực tế).
Kết quả ngiên cứu ĐTM được thể hiện dưới dạng một báo cáo được gọi là
báo cáo ĐTM. Nội dung của báo cáo phải phản ánh được đầy đủ, khách quan và
trung thực các kết quả nghiên cứu ĐTM.
Nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam và các tổ chức quốc tế đều
có quy định mang tính bắt buộc những nội dung cần có của một báo cáo ĐTM.
Thông thường, báo cáo ĐTM gồm các nội dung: mô tả về dự án, hiện trạng môi
trường khu vực dự án, dự báo đánh giá tác đọng môi trường, các biện pháp giảm
thiểu và chương trình quản lý, giám sát môi trường.
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật BVMT, Chủ dự án và tư vấn
trực tiếp thực hiện nghiên cứu ĐTM, lập báo cáo ĐTM.
1.4.4. Thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM
Bước tiếp theo trong chu trình ĐTM là thẩm định báo cáo ĐTM. Hoạt động
thẩm định nhằm mục tiêu đánh giá, xác định mức độ đầy đủ, tin cậy và chính
xác của các thông tin, kết luận nêu trong báo cáo ĐTM. Thông thường, công tác
thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM được thực hiện bởi một cơ quan nhà nước
có thẩm quyền. Kết quả thẩm định là ra một quyết định chấp thuận với những
điều khoản, điều kiện bắt buộc Chủ dự án phải tuân thủ hoặc không chấp nhận.
10
11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG CHO CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG BỘ VÀ CẦU TẠI VIỆT NAM
2.1. Thực trạng đánh giá tác động môi trường (ĐTM) ở Việt Nam
Trong thời gian qua, việc đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam nói
chung và trong ngành GTVT nói riêng vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, chất lượng
ĐTM chưa cao, thiếu tuân thủ quy trình nhất quán như pháp luật đã quy định và
thực tiễn đòi hỏi.
Nhiều ý kiến cho rằng ở Việt Nam hiện nay có quá nhiều tổ chức thực hiện
tư vấn, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường rất yếu về năng lực, dẫn đến
chất lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường của nhiều dự án đầu tư không
được đảm bảo. Các bất cập trong ĐTM thể hiện như sau:
2.1.1. Về nhận thức ĐTM
Một bộ phận các nhà quản lý và chủ đầu tư chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa
lợi ích của công tác ĐTM, coi yêu cầu lập báo cáo ĐTM chỉ là một thủ tục hành
chính trong quá trình chuẩn bị hoặc thực hiện dự án. Thậm chí nhiều người còn
coi ĐTM như một lực cản của hoạt động phát triển sản xuất và đầu tư. Vì vậy,
việc tuân thủ quy trình, yêu cầu chất lượng báo cáo ĐTM có nơi có lúc bị làm
ngơ hoặc xem nhẹ về chất lượng.
2.1.2. Hạn chế của các văn bản pháp lý cho ĐTM
Trên thế giới, ĐTM thường được bắt đầu ngay từ khi có ý tưởng dự án và
được thực hiện qua hai bước: ĐTM ban đầu/sơ bộ (để phục vụ việc lựa chọn địa
điểm dự án là chính) và sau đó (trong quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi
của dự án) là ĐTM chi tiết nhưng Luật Bảo vệ Môi trường 2014 chỉ quy định
chung về việc thực hiện ĐTM dẫn đến làm giảm ý nghĩa và hiệu quả của công
tác ĐTM.
Thực tiễn trong thời gian qua, có một số dự án phải lập báo cáo đầu tư, xin
chủ trương đầu tư nhưng sau khi lập ĐTM thấy xuất hiện những tác động xấu
đến môi trường, buộc phải điều chỉnh dự án hoặc thậm chí bị đình chỉ dự án, gây
lãng phí cho chủ đầu tư và xã hội. Vì vậy, việc quy định 2 bước lập ĐTM đối
với các dự án do Chính phủ quy định là cần thiết.
12