Nghệ thuật tiểu thuyết giảng đường yêu dấu của mai anh tuấn

  • 73 trang
  • file .pdf
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẨN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
PHẠM THỊ THU OANH
NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT
GIẢNG ĐƯỜNG YÊU DẤU CỦA MAI ANH TUẤN
Luận văn tốt nghiệp đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS. GV BÙI THANH THẢO
Cần Thơ, năm 2011
-1-
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích – yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 . MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ TIỂU THUYẾT VÀ
TIỂU THUYẾT GIẢNG ĐƯỜNG YÊU DẤU CỦA MAI ANH TUẤN
1.1. Vài nét về tiểu thuyết
1.1.1. Tiểu thuyết là gì?
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết
1.1.2.1. Tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư
1.1.2.2. Tiểu thuyết tái hiện cuộc sống không thi vị hoá, lãng mạn hoá, lí tưởng
hoá
1.1.2.3. Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải
1.1.2.4. Trong tiểu thuyết có các yếu tố thừa
1.1.2.5. Xoá bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật
1.1.2.6. Tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật
của các loại văn học khác
1.1.3. Kết cấu tiểu thuyết
1.1.3.1. Kết cấu tiểu thuyết là gì?
1.1.3.2. Một số hình thức kết cấu trong tiểu thuyết
1.2. Vài nét về tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn
1.2.1 Vài nét về Mai Anh Tuấn
1.2.2. Vài nét về tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu
-2-
CHƯƠNG 2. SỰ PHA TẠP VỀ THỂ LOẠI - TÍNH CHẤT, KẾT CẤU
TIỂU THUYẾT GIẢNG ĐƯỜNG YÊU DẤU CỦA MAI ANH TUẤN
2.1. Sự pha tạp về thể loại – tính chất trong tiểu thuyết Giảng dường yêu dấu
2.1.1. Sự pha tạp giữa tiểu thuyết và phim
2.1.2. Sự pha tạp giữa tự truyện và nhật ký
2.1.3. Tính tư liệu
2.1.3. Đánh giá về sự pha tạp thể loại – tính chất
2.2. Kết cấu tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu
CHƯƠNG 3. NGÔN TỪ, KHÔNG GIAN – THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TIỂU THUYẾT GIẢNG ĐƯỜNG YÊU DẤU
3.1. Ngôn từ tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu
3.1.1. Sự phong phú của lớp ngôn từ
3.1.2. Sự độc đáo của cước chú
3.2. Không gian – thời gian nghệ thuật tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu
3.2.1. Không gian nghệ thuật
3.2.2. Thời gian nghệ thuật
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
NHẬN XÉT CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
-3-
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tiểu thuyết là một thể loại chiếm vị trí quan trọng trong loại hình văn xuôi nghệ
thuật, là một trong những dấu hiệu đánh dấu sự trưởng thành của một nền văn học. Ở
nước ta, từ sau thời kì đổi mới, cùng với sự vận động của xã hội, tiểu thuyết cũng
không ngừng biến đổi, phát triển. Nhìn chung, văn học Việt Nam sau đổi mới đã
chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử cộng đồng,
dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư. Đây là điều kiện thuận lợi để tiểu thuyết phát
triển. Trên thực tế, tiểu thuyết đã phát huy được thế mạnh tiếp cận và phản ánh đời
sống cá nhân con người trong hiện thực cuộc sống một cách nhanh nhạy và sắc bén.
Bởi thế, nghiên cứu, tìm hiểu về tiểu thuyết mà đặc biệt là tiểu thuyết sau thời kì đổi
mới là một điều vô cùng lí thú và có ý nghĩa quan trọng trong công trình nghiên cứu,
đánh giá về sự phát triển của nền văn học nước nhà.
Một trong những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết sau đổi mới, chính là việc
cách tân nghệ thuật. Tiểu thuyết sau đổi mới có phần đa dạng hơn về nội dung phản
ánh, phong phú hơn về hình thức diễn đạt, hình thức dựng truyện cũng có nhiều đổi
mới. Tiểu thuyết không những chỉ có những cốt truyện giàu kịch tính mà còn có những
cốt truyện giàu tâm trạng. Về kết thúc truyện, thì xuất hiện nhiều lối kết thúc bỏ ngỏ,
gợi mở cho người đọc tự suy ngẫm. Đặc biệt, tiểu thuyết xoáy sâu vào độc thoại nội
tâm, những dòng ý thức lắp ghép đan xen giữa hiện thực và quá khứ,… Có thể nói
rằng, tiểu thuyết Việt Nam đã có một bước chuyển về nghệ thuật. Do đó, việc lựa chọn
nghiên cứu về nghệ thuật của tiểu thuyết cũng là vấn đề rất cần thiết.
Đồng thời, cùng với sự phát triển của xã hội, văn chương cũng không ngừng
phát triển, biến đổi liên tục. Cùng với những cây bút đã khẳng định được tên tuổi, thì
trên thi đàn, ngày càng xuất hiện nhiều cây bút trẻ với tầm nhìn mới, với sức trẻ và
lòng hăng say chính là nguồn nhân lực dồi dào cho đội ngũ sáng tác văn học. Ý thức
được điều này, chúng ta đã có nhiều cuộc thi về sáng tác văn chương để có thể tìm
kiếm những tác phẩm hay, những cây bút có triển vọng, trong đó có thể kể đến cuộc
thi Văn học tuổi 20. Cuộc thi này đã phát hiện nhiều cây bút trẻ và giờ họ đã trở thành
những nhà văn có tên tuổi như: Nguyên Hương (giải nhất lần 1, năm 1996), Nguyễn
Ngọc Tư (giải nhất lần 2, năm 2000), Trần Thị Hồng Hạnh (giải nhất lần 3, năm
-4-
2005), Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Vũ Đình Giang, Dương Thụy...
Vừa qua, lễ trao giải cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 4 đã được diễn ra vào
ngày 05/9/2010, Lê Văn Thảo, trưởng ban chung khảo cuộc thi đã có nhận định rằng:
Ðiều đáng quý nhất là đa số truyện là của các tác giả trẻ, tác giả trẻ viết về thế hệ
mình, mạnh dạn khai phá những vấn đề mới. Thứ đến, có thể nói là quan trọng nhất là
tính giản dị, chân thật của tác phẩm; cuộc sống, tầm nhìn trần trụi, thô mộc được
phản ánh sinh động, đa dạng, phong phú. Văn học những năm gần đây chuộng sự thật,
tính tư liệu, thông tin, tự sự là không thể thiếu. Cuộc thi lần này phần nào thể hiện
được điều đó. Ðó cũng chính là mặt mạnh của văn học trẻ hiện đại [6]. Những tác
phẩm đoạt giải trong cuộc thi này đã có một sự đóng góp nhất định cho nền văn học
nước nhà. Tuy nhiên, vì đây là những tác phẩm mới nên chưa có nhiều bài viết, bài
nghiên cứu, nhận định về chúng. Vì thế, thiết nghĩ việc nghiên cứu về những tác phẩm
mới này là vấn đề cần được đặt ra và cần được giải quyết.
Trong quá trình tiếp cận, tìm hiểu, cảm nhận những tác phẩm đoạt giải của cuộc
thi Văn học tuổi 20 lần 4, chúng tôi thấy mỗi tác phẩm đều có những ưu điểm riêng,
những nét đặc sắc riêng, cũng như ông Lê Văn Thảo đã có nhận xét: Ban giám khảo
chúng tôi đã làm việc kỹ càng, khó khăn trong việc lựa chọn vì các tác phẩm suýt soát
nhau, hơn kém không nhiều [6]. Vì thế, mặc dầu tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của
Mai Anh Tuấn là tác phẩm đoạt giải 3 nhưng chúng tôi vẫn quyết định nghiên cứu về
Nghệ thuật tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn.
2. Lịch sử vấn đề
Giảng đường yêu dấu là một tiểu thuyết mới ra đời nên đến thời điểm hiện tại
vẫn chưa có nhiều bài viết, bài nghiên cứu về tác phẩm này một cách có hệ thống toàn
diện và sâu sắc. Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy bài viết của Nguyễn Thành Thi
trong bài viết giới thiệu về tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu đã có những nhận định,
đánh giá khá sâu sắc về tác phẩm. Nguyễn Thành Thi đã đề cập đến cả hai mặt: nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm, song ở bài viết này, chúng tôi chỉ bàn về những ý
kiến của ông xoay quanh nghệ thuật tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu.
Trước hết, Nguyễn Thành Thi cho rằng: Giảng đường yêu dấu được kết cấu
theo lối truyện lồng truyện, hay đúng hơn, phim lồng trong tiểu thuyết [7; tr. 6]. Để lí
giải cho nhận định này, ông cho rằng, nhân vật trong tiểu thuyết và trong kịch bản
-5-
phim là hai hệ thống nhân vật chồng lên nhau. Hai hệ thống nhân vật này có tên gọi, số
phận và tính cách có trường hợp trùng khớp với nhau, có trường hợp thay đổi. Và, đặc
điểm kép về thể loại của tiểu thuyết này trên thực tế cũng làm toát lên một ý tưởng
nghệ thuật sâu sắc [7; tr. 7].
Thứ hai, nói về Giảng đường yêu dấu, ông Nguyễn Thành Thi cũng đã nhận
định: Tiểu thuyết này là một sự pha tạp – đúng hơn, phải nói là có sự tương tác theo
hình thưc tổng hợp thể loại – khá ngoạn ngục [7; tr. 8]. Theo ông, Giảng đường yêu
dấu đã có sự pha tạp giữa tiểu thuyết và phim, giữa tự truyện và nhật ký, giữa hư cấu
và tư liệu. Và đặc biệt, theo ông: Yếu tố tư liệu đã được tổng hợp và truyền tải vào văn
bản tiểu thuyết bằng một kênh khá lạ lẫm đối với văn hư cấu quốc ngữ xưa nay – kênh
cước chú [7; tr. 8]. Ở nhận định này, ông đặc biệt nhấn mạnh đến sự pha tạp giữa hư
cấu và tư liệu. Chúng tôi thừa nhận tiểu thuyết này có yếu tố tư liệu, tuy nhiên nếu gọi
hư cấu và tư liệu là hiện tượng pha tạp thể loại như cách nói của ông thì nó không hợp
lí và chính xác. Bởi vì hư cấu và tư liệu không phải là thể loại văn chương mà thuộc về
tính chất của văn chương.
Thứ ba, theo ý kiến của Nguyễn Thành Thi: thể loại pha tạp, tất nhiên ngôn
ngữ của tác phẩm cũng pha tạp - ở đây là sự hoà trộn nhiều phong cách, sắc điệu
ngôn từ, nhiều sắc thái giọng điệu [7; tr. 8]. Đồng thời, trên bình diện ngôn từ tác
phẩm, yếu tố sex, cái tục cũng được vận dụng một cách linh hoạt tùy theo ý đồ nghệ
thuật của tác giả. Tất cả những yếu tố đó đã tạo được không khí thời hiện đại và sự
phong phú về sắc thái giọng điệu cho tác phẩm [7; tr. 9].
Bên cạnh những ý kiến của Nguyễn Thành Thi, thì cũng có nhiều bài viết xuất
hiện trên blog, web về tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu nhưng những bài viết này
không có tên tác giả và những blog, web này mang tính cá nhân, tự phát nên chúng tôi
không xem nó là lịch sử nghiên cứu. Chúng tôi thiết nghĩ, những nhận xét, đánh giá
của Nguyễn Thành Thi về tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn là điều
hết sức quý báu và đáng trân trọng. Tuy nhiên, những nhận định này còn khá sơ lược,
chưa khai thác ở bình diện có hệ thống như một công trình nghiên cứu. Các ý kiến,
nhận định của ông chưa có minh hoạ dẫn chứng cụ thể, chỉ là những nhận định mang
tính khái quát, chưa khai thác ở từng khía cạnh nhỏ để làm rõ vấn đề. Bên cạnh đó,
nghệ thuật tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu còn có những nét nổi bật khác mà chưa
thấy ông đề cập đến. Vì thế, chúng tôi sẽ cố gắng làm sáng tỏ hơn những vấn đề về
-6-
Nghệ thuật tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn trong công trình
nghiên cứu này, và thiết nghĩ những ý kiến nhận xét của Nguyễn Thành Thi sẽ là
nguồn tài liệu quý báu cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài.
3. Mục đích – yêu cầu
Khi chọn đề tài nghiên cứu Nghệ thuật tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của
Mai Anh Tuấn, chúng tôi đã đặt ra các mục đích và yêu cầu sau. Trước tiên, phải làm
rõ về nghệ thuật trong tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu. Chúng tôi phân tích, đánh giá
những đặc sắc cũng như những hạn chế về nghệ thuật của tác phẩm. Kế đến, trên cơ sở
đó, chúng tôi đưa ra những nhận định, đánh giá về tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu
nhằm giúp người đọc có một hướng tiếp cận về tác phẩm.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đối với bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu vấn đề nghệ thuật được thể
hiện trong tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn. Bên cạnh đó, chúng
tôi có thể đề cập đến một số vấn đề khác nhằm liên hệ, đối chiếu, so sánh để làm nổi
bật hơn Nghệ thuật tiểu tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên
cứu khác nhau. Đầu tiên, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê, khi tập hợp các tài
liệu, các bài viết có liên quan đến đề tài đã chọn. Thứ hai, chúng tôi kết hợp hai
phương pháp phân tích và tổng hợp trong quá trình nghiên cứu. Nghĩa là, chúng tôi đi
vào phân tích, tìm hiểu những biểu hiện cụ thể của vấn đề đặt ra, sau đó đúc kết lại đưa
ra kết luận chung. Đồng thời, trong quá trình trình bày, chúng tôi sử dụng kết hợp các
thao tác nghị luận như: giải thích, chứng minh, bình luận và so sánh để làm nổi bật vấn
đề. Sau cùng, kết hợp cả hai phương pháp diễn dịch và quy nạp để trình bày kết quả
thu được thông qua quá trình nghiên cứu.
-7-
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ TIỂU
THUYẾT VÀ TIỂU THUYẾT GIẢNG ĐƯỜNG YÊU DẤU
1.1. Vài nét về tiểu thuyết
1.1.1. Tiểu thuyết là gì?
Muốn hiểu tiểu thuyết là gì, trước tiên ta có thể tìm hiểu về nguồn gốc ra đời
của tiểu thuyết. Vậy sự xuất hiện của tiểu thuyết trên thế giới và ở Việt Nam là như thế
nào?
Ở châu Âu, tiểu thuyết xuất hiện rất sớm, vào thời kì cổ đại tan rã cũng như văn
học cổ đại suy tàn. Tiểu thuyết ra đời khi mà lợi ích cá nhân của con người không còn
gắn bó một cách chặt chẽ với lợi ích của cộng đồng xã hội cổ đại nữa. Lúc ấy, những
vấn đề về đời sống riêng tư cá nhân được đặt ra một cách gay gắt. Lúc mới đầu, đề tài
và cốt truyện của tiểu thuyết khá đơn giản. Đề tài thường là những câu chuyện li kì
ngẫu nhiên xảy đến đối với số phận của một con người, của đôi tình nhân, những
chuyện phiêu lưu mạo hiểm. Vì thế, có thể nói, sự quan tâm đời tư của con người như
một nét đặc trưng của thể loại tiểu thuyết thoạt đầu đã hình thành từ thời cổ đại [13;
tr. 388]. Thời Phục hưng châu Âu (thế kỉ XIV – XVI), lúc mà con người được thoát
khỏi thần quyền của nhà thờ, khi con người đã bắt đầu được ý thức như một thực thể
xã hội là điều kiện thuận lợi để tiểu thuyết phát triển. Tiểu thuyết bắt đầu bước sang
một giai đoạn mới. Chi tiết sinh hoạt, chi tiết lịch sử, phong tục tăng lên, kết cấu mở
rộng [13; tr. 388]. Tiểu thuyết dần dần tăng cường miêu tả các nguyên nhân xã hội,
không còn đi sâu vào các sự kiện li kì ngẫu nhiên thường thấy trong tiểu thuyết cổ.
Đến thế kỷ XIX, tiểu thuyết ngày càng phát triển phong phú và có nhiều thành tựu rực
rỡ. Tiểu thuyết đi sâu vào miêu tả đời sống riêng tư cá nhân, những lợi ích dục vọng cá
nhân được miêu tả một cách sâu sắc, khái quát hơn. Tiểu thuyết đã xây dựng được
những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Đặc biệt, tiểu thuyết đã có sự kết
hợp trên nhiều phương diện: nội dung đời tư với nội dung thế sự, nội dung đời tư với
nội dung lịch sử dân tộc,… Thời kì này đã xuất hiện những bộ tiểu thuyết có tầm vóc
lớn lao như Tấn trò đời của Bandắc, Chiến tranh và Hoà bình của L. Tônxtôi,…
Tiểu thuyết ở Trung Quốc cũng xuất hiện sớm khoảng vào đời Nguỵ Tấn (thế kỉ
III–IV) dưới dạng chí quái, chí nhân. Đến thời Đường, có sự phân hoá lớn về giai cấp
tạo sự đối lập sâu sắc, thành thị lại phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho loại văn
-8-
học ngoài kinh sử phát triển. Tiểu thuyết đời Đường cũng đã tập trung thể hiện đời
sống riêng tư cá nhân. Đời Tống (thế kỉ XI – XII), tiểu thuyết vẫn tiếp tục thể hiện vấn
đề số phận và phẩm chất cá nhân trong đời sống. Đến đời Minh, với việc xâu chuỗi các
truyện giảng sử, giảng kinh của các đời trước đã tạo nên những tiểu thuyết chương hồi
nổi tiếng như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây
Du kí của Ngô Thừa Ân, Kim Bình Mai của Tiếu Tiếu Sinh,... Đời Thanh, xã hội
Trung Hoa ngày cành thối nát, số phận con người được quan tâm sâu sắc hơn là điều
kiện để xuất hiện những tiểu thuyết nói về đời tư, về đạo đức thế sự như Chuyện làng
Nho của Ngô Kính Tử, Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần,…
So với thế giới, tiểu thuyết ở Việt Nam phát triển muộn hơn, từ thế kỉ X – XII
mới xuất hiện những truyện văn xuôi dưới dạng các thần phả, các truyền thuyết dân
gian. Đầu thế kỉ XIX, với sự xuất hiện của Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia Văn
phái mới có quy mô của một tiểu thuyết chương hồi. Tuy nhiên, Hoàng Lê nhất thống
chí vẫn còn mang đậm chất sử thi bởi nội dung phản ánh của tác phẩm gắn với sự
hưng vong của triều đại, đất nước. Mãi đến đầu thế kỉ XX, với sự xuất hiện hàng loạt
của những tiểu thuyết được viết bằng chữ quốc ngữ đã đưa tiểu thuyết Việt Nam bước
vào thời kỳ phát triển. Tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đã thật sự phát triển
mạnh và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong các thể loại sáng tác văn học.
Bức tranh sơ lược trên giúp ta thấy rõ hơn về sự ra đời và phát triển của tiểu
thuyết. Chúng ta thấy tiểu thuyết đóng một vai trò rất quan trọng trong các loại hình
sáng tác. Tiểu thuyết cùng các loại hình sáng tác khác đã làm phong phú thêm cho thể
loại văn học. Vậy tiểu thuyết là gì? Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ
biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần
thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong
tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính
cách đa dạng [13; tr. 387]. Hay nói theo một cách khác: Là một hình thức tự sự cỡ lớn,
tiểu thuyết có những khả năng riêng trong việc tái hiện với một quy mô lớn những bức
tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa đựng nhiều vấn đề sâu sắc của đời sống xã
hội, của số phận con người, của lịch sử, của đạo đức, của phong tục... Nghĩa là tiểu
thuyết có năng lực phản ánh hiện thực một cách bao quát sinh động theo hướng tiếp
cận trên cả bề rộng lẫn chiều sâu của nó [2; tr. 185].
-9-
Nói chung, tiểu thuyết là một thể loại văn học tự sự, có dung lượng lớn, hình
thức khá tự do, có thể phản ánh được cả chiều rộng và chiều sâu đời sống cá nhân con
người.
1.1.2. Đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết
1.1.2.1. Tiểu thuyết nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư
Nếu như anh hùng ca (sử thi) tập trung cho loại chủ đề lịch sử dân tộc, miêu tả
các sự kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh
của cộng đồng dân tộc; ngụ ngôn là một kiểu phúng dụ bằng văn xuôi hoặc thơ mang
nội dung giáo dục đạo đức; thì tiểu thuyết lại nhìn cuộc sống ở góc độ đời tư. Tiểu
thuyết xoay quanh phạm trù đời tư: tình yêu, hạnh phúc hoặc bất hạnh của đời sống
con người. Ý thức về số phận cá nhân con người là nhân tố quyết định hình thành thể
loại tiểu thuyết cũng là hạt nhân của sự sáng tạo nghệ thuật tiểu thuyết.
Thật vậy, nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư là một đặc điểm tiêu biểu của tiểu
thuyết. Khi mới ra đời, tiểu thuyết cổ Hi Lạp đã bắt đầu chú ý đến đời tư của con
người. Chẳng hạn như Con lừa vàng của Lucius Apuleius xoay quanh cuộc đời một
chàng thanh niên Lucius uống nhằm thuốc bùa, bị biến thành con lừa, bị bọn cướp
mang đi, lần lượt bị bán, phải làm nhiều việc vất vả, cuối cùng được vị nữ thần Trăng
Isis cứu, được làm người trở lại và chàng quyết định đi tu. Tiểu thuyết Việt Nam cũng
vậy. Từ khi ra đời, tiểu thuyết Việt Nam cũng đã khai thác góc độ đời tư của cuộc
sống. Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã nói đến quyền sống của con người như
tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, bên cạnh đó, có truyện thể
hiện đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật..., còn Truyện Kiều của Nguyễn Du đã đi
sâu vào miêu tả cuộc đời oan trái của nàng Kiều, mười lăm năm chìm nổi hoa trôi bèo
dạt.
1.1.2.2. Tiểu thuyết tái hiện cuộc sống không thi vị hoá, lãng mạn hoá, lí
tưởng hoá. Tiểu thuyết đậm đặc chất văn xuôi
So với các thể loại như truyện thơ, trường ca, thơ trường thiên và sử thi thì chất
văn xuôi trong tiểu thuyết đậm đặc hơn. Có lẽ Hêghen là người đầu tiên nói một cách
khá sâu sắc về tính “văn xuôi” (caractere prosaique) của thể loại tiểu thuyết. Hêghen
sử dụng từ này không phải theo nghĩa hẹp (văn xuôi khác với thơ ca), mà muốn nói
- 10 -
đến một đặc trưng thẩm mĩ của thể loại. Ông cho rằng “tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện
đại giả thiết phải có một hiện thực đã thành văn xuôi làm tiền đề cho nó” [10; tr. 100].
Tiểu thuyết không chỉ khai thác cái cao thượng, đẹp đẽ như trong cổ tích, cũng không
phải xoáy sâu vào những người anh hùng với những chiến công lừng lẫy mang vẻ đẹp
của cộng đồng dân tộc như ở anh hùng ca; mà tiểu thuyết bao chứa tất cả cái ngổn
ngang của cuộc đời: từ cái cao cả, cái nghiêm túc, cái bi, cái lớn lao cho đến cái tầm
thường, cái buồn cười, cái hài và cái nhỏ nhoi,… Đó chính là chất văn xuôi của tiểu
thuyết. Chính tính chất này đã làm cho tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân mình mọi yếu
tố bề bộn của cuộc sống, rồi tái hiện lại bằng một thể thống nhất chứa đựng những
màu sắc thẩm mĩ. Bởi vậy, tiểu thuyết đã phơi bày được sự phức tạp muôn màu của
hiện thực cuộc sống.
Tiểu thuyết của Bandắc, Xtăngđan, Phlôbe, Đôxtôiepxki, L.Tônxtôi, Sêkhôp,
Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyễn Minh Châu,…
đều thể hiện rất đậm nét chất văn xuôi. Chẳng hạn đến với Anna Karenina của
L.Tônxtôi, chúng ta thấy ở đó vừa có cuộc ngoại tình éo le, chấm dứt bằng cái chết
đáng thương và bi thảm của Anna Karenina, cuộc sống gia đình lục đục của Oblonxki,
mối tình trắc trở nhưng hạnh phúc của Levin. Bên cạnh đó, Anna Karenina còn phơi
trần nhiều mặt xấu xa của đời sống quý phái, từ lối sống xa hoa, lười biếng, vợ chồng
lừa dối nhau, bạn bè ghen ghét, xảo trá, đến thói quen sĩ diện hảo, giả nhân giả nghĩa,
tranh giành địa vị, bon chen luồn cúi, nhu nhược của tầng lớp quý tộc Nga.
Tiểu thuyết tái hiện cuộc sống không thi vị hoá, lãng mạn hoá, lí tưởng hoá, nó
tái hiện cuộc sống như nó vốn có nên nó gần gũi với cuộc sống. Cũng như Thạch Lam
đã từng nói: Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bây giờ là hết sức gần sự sống để được
linh hoạt và thực như cuộc đời [15, tr. 119]. Đúng vậy. Cuộc sống trong tiểu thuyết
hiện lên toàn diện, phong phú nhiều mặt. Bão biển của Chu Văn đã tái hiện nhiều lĩnh
vực của cuộc sống. Ở Bão biển có những mâu thuẫn giai cấp, có cuộc sống bình
thường của phong tục, lễ nghi, đời sống sinh hoạt lao động, thậm chí là đời sống riêng
tư, là phòng ngủ của những cha cố,... Bão biển không chỉ ca ngợi con người lao động
đang đắp đê lấn biển chinh phục thiên nhiên, mà còn dẫn người đọc vào những chuyện
xấu xa thầm kín của nữ tu, nhũng chuyện ăn uống tục tĩu, thô bỉ,...
Tiểu thuyết đậm đặc chất văn xuôi, chân thực gần gũi với cuộc sống nhưng nó
không phải là sự chụp ảnh cuộc sống. Nhà văn nhìn vào cuộc sống, tìm hiểu nó, thấu
- 11 -
hiểu nó và tái tạo lại thành tiểu thuyết. Chúng ta tìm thấy trong tiểu thuyết có sự tươi
đẹp và cả những góc cạnh xù xì của đời sống. Hơn thế nữa, tiểu thuyết còn cho ta một
cách nhìn, cách nghe, cách nghĩ sâu sắc, tinh tế.
1.1.2.3. Nhân vật tiểu thuyết là con người nếm trải
Con người chính là đối tượng trung tâm của văn chương. Trong thơ, con người
xuất hiện với vai trò là nhân vật trữ tình, xuất hiện chủ yếu ở những khắc cảm xúc cụ
thể. Trong kịch, con người là nhân vật hành động, con người thường phải đương đầu
với những sóng gió, với những khó khăn, họ nhanh chóng bị đẩy vào những xung đột
gay gắt. Trong truyện ngắn, con người thường xuất hiện vào những thời điểm có ý
nghĩa quyết định tới số phận, con người thường hiện lên với một vài sự kiện tiêu biểu
có tính chất quyết định. Còn trong tiểu thuyết, với một loại hình tự sự cỡ lớn, sự vô tận
của không gian, thời gian cho phép con người hiện lên với đầy đủ, tỉ mỉ những thăng
trầm của cuộc đời.
Xét về sử thi, kịch, truyện trung cổ, thì con người thường xuất hiện dưới vai trò
là những nhân vật hành động. Nhân vật trong sử thi, kịch, truyện trung cổ thường có
tính cách định hình từ lúc xuất hiện cho đến cuối tác phẩm vẫn không thay đổi, tất cả
những hành động của họ đều có thể quy thành tốt hoặc xấu, tính cách nhân vật không
biến đổi. Trái lại, nhân vật trong tiểu thuyết là những con người chịu đựng những đau
khổ, nếm trải nỗi đau, niềm vui của cuộc đời, và tính cách nhân vật biến đổi theo theo
hoàn cảnh. Nhân vật trong tiểu thuyết như một con người dần trưởng thành, biến đổi
theo cuộc sống, như được chính cuộc đời dạy cho trưởng thành.
Đó có thể là người mẹ Nhilốpna (Người mẹ - M. Gorki) là hiện thân của một
người phụ nữ lao động Nga hiền lành, đau khổ, chiụ ba tầng áp bức về thể xác lẫn tinh
thần: áp bức xã hội, áp bức gia đình, áp bức tôn giáo. Một người mẹ luôn sợ tất cả mọi
người: sợ chồng, sợ chúa và khiếp nhược đã trở thành thứ bệnh kinh niên dai dẳng của
bà mẹ. Đồng thời, bà cũng là một người mẹ rất mực yêu con, luôn theo sát từng bước
đi, việc làm của con, lo sợ cho sự an nguy của con rồi bà từ cảm mến cái tốt, cái thiện,
một cái gì vĩ đại và chói lọi như vầng thái dương toát ra từ những người chiến sĩ cách
mạng, trong đó có con trai bà - Paven , người mẹ bị cuốn hút vào thực tiễn đấu tranh
cách mạng. Ánh sáng chân lí cách mạng soi rọi dần vào ngôi nhà hoang vừa mù, vừa
điếc của tâm hồn người mẹ. Người mẹ trải qua biết bao sóng gió của cuộc đời đã dẫn
- 12 -
đến sự chuyển biến trong nhận thức của người mẹ, từ một người nô lệ chuyển sang bà
mẹ tự ý thức được mình và cuối cùng trở thành người mẹ chiến sĩ. Hình tượng người
mẹ Nhilốpna chính là một con người nếm trải. Đó cũng có thể là Nhêkhliuđôp (Phục
sinh – L. Tônxtôi) với những băn khoăn, sự dằn vặt và hối hận về những sai lầm của
mình; hay đó còn là cuộc sống của những Thứ, San, Đích, Oanh (Sống mòn – Nam
Cao), cuộc sống của những trí thức nghèo với đầy những thử thách trong cuộc sống,
nếm trải những thử thách của cuộc sống nghèo khó, họ phải dằn vặt đấu tranh với
chính nhân phẩm của bản thân,… Tất cả họ là những con người phải đương đầu với
thực tại cuộc sống, có lúc cuộc sống làm cho họ tiến bộ hơn, nhưng đôi khi chính
những chướng ngại của cuộc đời đã làm họ thay đổi theo hướng tiêu cực hơn. Họ là
con người nếm trải.
1.1.2.4. Trong tiểu thuyết có các yếu tố thừa
Đối với truyện ngắn, truyện vừa, các yếu tố trong tác phẩm được tổ chức sát với
cốt truyện, ngược lại, ở tiểu thuyết lại có nhiều yếu tố thừa. Cái thừa ấy lại chính là
một phần quan trọng của tiểu thuyết. Đó có thể là: các suy tư của nhân vật về thế giới,
về đời người, sự phân tích cặn kẽ những diễn biến tình cảm của nhân vật, sự trình bày
tường tận về tiền sử nhân vật,… Nếu xét ở bình diện này, chúng ta thấy: Tam quốc
diễn nghĩa, Thuỷ hử, Tây du kí, Hoàng Lê nhất thống chí đậm chất anh hùng sử thi hơn
tiểu thuyết, hay trong Bước đường cùng, Tắt đèn cũng lại gần với truyện vừa hơn tiểu
thuyết.
Dễ dàng nhận thấy nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết không quá lệ thuộc
vào mạch chính của cốt truyện. Xen giữa trục chính của cốt truyện có thể là những
đoạn trữ tình ngoài đề, những suy tư chồng chất về con người và thế giới xung quanh,
những triết lí mang tính luận đề,... Ngay giữa mạch chính của cốt truyện, tác giả có thể
chuyển sang phân tích cặn kẽ những thay đổi của hoàn cảnh cũng như diễn biến tâm lí
nhân vật. Đọc tiểu thuyết của Victor Hugo, chúng ta dễ bắt gặp những đoạn trữ tình
ngoại đề, văn Đôxtôiepki có nhiều đoạn miêu tả, phân tích cặn kẽ những suy nghĩ,
diễn biến tâm lí nhân vật về thế giới, sự vật, sự việc… Đó là những yếu tố ngoài cốt
truyện, là yếu tố thừa của tiểu thuyết, đồng thời chính những đoạn này cũng làm linh
hoạt giọng điệu của tiểu thuyết.
- 13 -
Tuy gọi đây là những yếu tố thừa của tiểu thuyết nhưng đó là yếu tố quan trọng
làm nên chất tiểu thuyết. Chính cái thừa này làm rõ hơn về nhân vật tiểu thuyết; nhà
văn cũng có thể cài vào đó thêm những tình tiết ngoài cốt truyện nhằm bổ sung thêm
cho tư tưởng tác phẩm; đó cũng là một cách để nhà văn lồng vào đó những suy nghĩ tư
tưởng của mình,… Bởi thế, tuy được xem là yếu tố ngoài cốt truyện, song những yếu
tố thừa lại là phần không thể thiếu của tiểu thuyết.
1.1.2.5. Xoá bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung trần thuật
Đọc anh hùng ca, ta dễ dàng nhận thấy có khoảng cách giữa người trần thuật và
nội dung trần thuật. Bởi vì, anh hùng ca ca ngợi người anh hùng mang vẻ đẹp lí tưởng
của cộng đồng, là con người vượt lên trên những người khác. Họ là con người phi
thường. Chính vì thế mà giữa người trần thuật và nội dung trần thuật phải có một
khoảng cách nhất định. Trái lại, tiểu thuyết hướng về miêu tả hiện thực như cuộc sống
hiện tại đương thời của người trần thuật. Bởi vậy, người trần thuật của tiểu thuyết có
thể tiếp xúc, nhìn nhận các nhân vật một cách gần gũi như những con người bình
thường trong cuộc sống đời thường, đôi khi người trần thuật có thái độ thân mật thậm
chí suồng sã đối với nhân vật. Và cũng bởi vì thế, mà người trần thuật tiểu thuyết có
thể nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong tiểu thuyết ở nhiều khía cạnh, nhiều phương
diện, có thể sử dụng nhiều giọng điệu trong trần thuật. Tuy nhiên, nhà văn với một ý
đồ nghệ thuật của mình có thể cố tình lặp lại một kiểu giọng điệu nhất định trong tác
phẩm.
Là một hình thức tự sự, tiểu thuyết cũng lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng
điệu chính cho tác phẩm. Nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết rất đa dạng về phong
cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng tôi, cũng có thể là
một nhân vật khác trong tác phẩm,... Nghệ thuật kể chuyện như thế là dạng tiểu thuyết
có một điểm nhìn. Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là
việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật
xưng tôi được san sẻ cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm. Một tiểu thuyết có
thể có rất nhiều người kể chuyện (người trần thuật), có thể là những hồi ức, ký ức của
các nhân vật liên kết lại để tạo nên một câu chuyện. Chính vì vậy mà câu chuyện của
tiểu thuyết trở nên gần gũi và trần thuật, nội dung trần thuật như hiện lên chính từ con
người trần thuật.
- 14 -
1.1.2.6. Tiểu thuyết có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng
nghệ thuật của các loại văn học khác
Chúng ta đọc thơ Tố Hữu dề dàng nhận thấy có sự hài hoà giữa các yếu tố trữ
tình - chính trị - sử thi; hay chất chính luận trong thơ Hồ Chủ Tịch; hoặc người ta cũng
thường nhắc đến kịch tự sự của Béctôn Brết,…. Đó chính là sự tổng hợp về thể loại.
Và, nếu nói về sự tổng hợp thể loại, chúng ta không thể không nhắc đến tiểu thuyết.
Tiểu thuyết có thể tổng hợp những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn
học khác. Tiểu thuyết có thể vận dụng những những rung động tinh tế của thơ, tính
xung đột xã hội của kịch, tính hiện thực đời sống của ký; các thủ pháp nghệ thuật của
những loại hình ngoại biên như: màu sắc của hội hoạ, thanh âm của âm nhạc, sự cân
xứng, chi tiết của điêu khắc, khả năng liên kết các bức màn hiện thực của điện ảnh; và
thậm chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâm học, đạo đức học và
các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng khác.
Có lẽ, tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả
năng nghệ thuật của các loại văn học khác. Đọc Chiến tranh và hoà bình của Tônxtôi,
chúng ta thấy có cả yếu tố sử thi và tâm lí; đến với bộ ba tiểu thuyết của Gorki: Thời
thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi thì có yếu tố trữ tình và thế sự; hoặc
Chuông nguyện hồn ai của Hêminguây thì mang đậm tính trữ tình và sử thi; thậm chí
là sự kết hợp giữa chất huyền thoại và chất tiểu thuyết trong sáng tác của Market; hay
đó còn là các yếu tố tư liệu, chính luận cũng được tác giả vận dụng đưa vào tiểu
thuyết.
Tiểu thuyết có thể tổng hợp những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn
học khác. Nhà văn có thể đưa vào tiểu thuyết những rung động tinh tế của thơ ca; tính
xung đột xã hội của kịch; hiện thực đời sống của ký. Tiểu thuyết cũng có thể hấp thụ
vào nó các thủ pháp nghệ thuật của những loại hình ngoại biên. Tiểu thuyết có thể tiếp
thu tính giàu màu sắc của hội hoạ vào việc miêu tả những bức tranh thiên nhiên sinh
động; thanh âm của âm nhạc trong miêu tả những thanh âm của đời sống; sự cân xứng,
chi tiết trong điêu khắc, khả năng liên kết các bức màn hiện thực của điện ảnh. Thậm
chí, tiểu thuyết còn có khả năng hấp thụ vào trong nó các bộ môn khoa học khác như:
tâm lý học, phân tâm học, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học
viễn tưởng khác... Nhiều thiên tài nghệ thuật đã thành công với khả năng tổng hợp
nhiều thể loại của tiểu thuyết như: Tônxtôi với tiểu thuyết - sử thi, Đôxtôiepxki với thể
- 15 -
loại tiểu thuyết - kịch, Sôlôkhôp với tiểu thuyết anh hùng ca - trữ tình, Roman Roland
với tiểu thuyết - giao hưởng.
Bên cạnh đó, ở thơ và kịch cũng có sự tổng hợp về thể loại nhưng do giới hạn
về dung lượng, về đặc trưng nên sự tổng hợp thể loại ở đây cũng bị giới hạn ở một
mức độ nhất định. Còn ở tiểu thuyết thì khả năng tổng hợp thể loại phong phú hơn, đa
dạng hơn chính vì thế đã làm cho bản thân tiểu thuyết cũng vận động, không đứng yên.
1.1.3. Kết cấu tiểu thuyết
1.1.3.1. Kết cấu tiểu thuyết là gì?
1.1.3.1.1. Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động của tác phẩm
Cũng giống như một công trình kiến trúc, một tác phẩm văn chương cũng đòi
hỏi kết cấu hợp lí. Từ những ý tưởng, những vốn sống thực tế, nhà văn phải nhào nặn
lại, thêm bớt sao cho thật phù hợp, tổ chức thành một chỉnh thể có giá trị nghệ thuật.
Có thể nói kết cấu tác phẩm là toàn bộ tổ chức tác phẩm phục tùng đặc trưng nghệ
thuật và nhiệm vụ nghệ thuật cụ thể mà nhà văn tự đặt ra cho mình. Kết cấu tác phẩm
không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và tư tưởng trong tác phẩm [13; tr. 295]
Kết cấu không những tổ chức các yếu tố thuộc nội dung tác phẩm như: tính
cách và hoàn cảnh, hành động và biến cố trong cốt truyện; mà còn tổ chức các yếu tố
về hình thức như: bố cục, hệ thống ngôn ngữ, nhịp điệu,… Trong tiểu thuyết, mối liên
hệ giữa các tuyến nhân vật phải được kết cấu xử lí, sắp xếp phù hợp. Đối thoại của các
nhân vật, những bình luận trữ tình ngoại đề của tác giả, cho đến các đoạn, các phần,
các chương của tiểu thuyết được tổ chức, sắp xếp sao cho thành một hệ thống liên kết,
tạo ra hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ.
Như vậy, Tác phẩm nghệ thuật bao gồm nhiều yếu tố, nhiều thành phần phức
tạp. Tất cả những bộ phận khác nhau đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một hệ
thống, một trật tự nhất định gọi là kết cấu [10; tr. 257].
1.1.3.1.2. Kết cấu là phương tiện khái quát nghệ thuật
Kết cấu tác phẩm có quan hệ chặt chẽ với việc xây dựng hệ thống hình tượng và
xây dựng sườn truyện, cốt truyện. Kết cấu ra đời cùng một lúc với ý đồ nghệ thuật của
tác phẩm. Khi bắt tay vào viết tiểu thuyết, thì đồng thời nhà văn đã chuẩn bị cho quá
- 16 -
trình phát triển của cốt truyện và đó cũng là bản phác thảo đầu tiên cho kết cấu tương
lai của tác phẩm. Tức là, kết cấu và hình tượng cùng được nhà văn sáng tạo ra cùng
một lúc, bản thân kết cấu cũng được xem như là một mặt của hình tượng nghệ thuật
được sáng tạo. Kết cấu là phương tiện khái quát nghệ thuật của tác phẩm.
Kết cấu tác phẩm không đơn thuần là sự liên kết các hiện tượng, sự việc, các
nhân vật mà nhà văn phải tạo ra một kết cấu như thế nào để làm bật lên được cái chính
yếu, cái quan trọng. Trong tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã dành hơn hai phần ba tác
phẩm để diễn tả hàng loạt sự việc diễn ra trong một ngày. Tác giả đã cố gắng dồn nén
tất cả những mâu thuẫn vào trong một thời gian thật ngắn nhằm có điều kiện thể hiện
một cách tập trung nhất bản chất của bọn địa chủ, quan lại và nỗi điêu đứng, cơ cực,
đau xót của người nông dân đối với sưu cao, thuế nặng. Trong Thuỷ hử, mở đầu tác
phẩm, tác giả Thi Nại Am đã viết về Cao Cầu mà không viết về 108 người, bởi vì sự
nổi loạn là từ Cao Cầu - từ trên chứ không phải từ 108 người – từ dưới. Chúng ta thấy,
tác giả Thuỷ hử đã tinh tế trong xây dựng kết cấu truyện.
Như vậy, kết cấu của tác phẩm bao giờ cũng tăng cường sức mạnh nghệ thuật
của tác phẩm văn học, tạo nên sức hấp dẫn cho người đọc. Phân tích kết cấu tác phẩm,
người đọc có thể so sánh nó với các hình thức, thủ pháp kết cấu chung nhưng điều
quan trọng là phải xuất phát từ bản thân tác phẩm và xem nó có thể hiện tốt nhất chủ
đề tư tưởng của tác phẩm hay không. Rõ ràng, kết cấu luôn luôn là phương tiện tổ
chức hình tượng nghệ thuật và khái quát tư tưởng - cảm xúc [13; tr. 298]. Bởi thế, việc
lựa chọn kết cấu cho tác phẩm là vấn đề hết sức gay gắt đối với người sáng tác. Người
viết phải xây dựng một kết cấu như thế nào để nâng cao được sức biểu hiện của đề tài,
chủ đề, cảm xúc thẩm mĩ,…
1.1.3.2. Một số hình thức kết cấu trong tiểu thuyết
Hình thức kết cấu trong tác phẩm văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói
riêng rất phong phú và đa dạng. Nó có thể chịu sự quy định của thể loại, của từng giai
đoạn lịch sử khác nhau... Vì vậy, khó có thể xác định những hình thức kết cấu nếu
thoát li thực tế sáng tác. Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm hiểu một số hình thức kết cấu
tiểu thuyết đã từng xuất hiện trong lịch sử văn học và đã tạo nên nhiều tác phẩm có giá
trị.
- 17 -
1.1.3.2.1. Kết cấu theo trình tự thời gian
Khảo sát về quá trình hình thành, phát triển của tiểu thuyết, phần lớn các tiểu
thuyết thời kỳ cổ đại và trung cổ phong kiến thường tổ chức cốt truyện theo lối xâu
chuỗi các sự kiện và những sự kiện đó được tác giả kể lại theo trình tự thời gian. Các
sự kiện được sắp xếp, xâu chuỗi lại và lần lượt xuất hiện không bị đứt quãng. Hầu hết
những tác phẩm chương hồi sử dụng lối kết cấu này. Chẳng hạn như những kết cấu
chương hồi ở Trung Quốc và ở Việt Nam: Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Tây du kí,
Hoàng Lê nhất thống chí,… Ở đây, tác phẩm được chia thành nhiều chương, hồi theo
sự phân bố về mặt hành động và sự kiện của cốt truyện. Mỗi chương, mỗi hồi thường
gắn liền với một giai đoạn nào đó của cốt truyện và nhiêu khi khá trọn vẹn. Kết cấu
này đặc biệt quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật. Loại kết cấu này giúp
người đọc dễ theo dõi câu chuyện nhưng nhiều khi lại đơn điệu.
1.1.3.2.2. Kết cấu đa tuyến
Tiểu thuyết muốn phản ánh hiện thực một cách bao quát sinh động theo hướng
tiếp cận trên cả bề rộng lẫn chiều sâu thì đòi hỏi phải có một kết cấu hoàn chỉnh, phù
hợp và đặc sắc mới có thể phản ánh được nhiều vấn đề của đời sống xã hội mà không
bị rời rạc gây nhàm chán. Loại kết cấu theo thời gian có thể phản ánh được nhiều vấn
đề cuộc sống nhưng nó lại khá đơn điệu vì chỉ theo một mạch tuyến tính. Tiểu thuyết
thế kỷ XX có nhiều cách tân về mặt kết cấu, các nhà văn lớn muốn phán ánh trên bình
diện sâu và rộng hiện thực xã hội, họ thường xây dựng tiểu thuyết theo lối kết cấu đa
tuyến.
Trong những bộ tiểu thuyết lớn, để khái quát về một bức tranh xã hội rộng lớn
gồm nhiều hạng người, nhiều mối quan hệ đan xen nhau, khai thác nhiều mặt khác
nhau của đời sống, các nhà văn thường sử dụng hình thức kết cấu theo tuyến nhân vật.
Trong những tác phẩm này, nhà văn tổ chức các nhân vật theo các tuyến dựa trên
những mối quan hệ về gia đình, nghề nghiệp, giai cấp.
Hình thức kết cấu này thường được sử dụng trong văn học hiện đại, nhất là
trong các tiểu thuyết lớn. Tiểu thuyết thế kỷ XX có nhiều chỗ khác với tiểu thuyết thế
kỉ XIX, vốn xây dựng trên lịch sử một con người hay một gia đình. Tiểu thuyết thế kỷ
XX có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đan chéo vào nhau, nhà văn thường hay
đưa người đọc từ thành phố này sang thành phố khác, đôi khi đi sang một nước khác.
- 18 -
Có thể coi những bộ tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của L. Tônxtôi, Sông Ðông
êm đềm của Sôlôkhôp hay Vỡ bờ của Nguyễn Ðình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng,...
đều sử dụng lối kết cấu này.
Trong Sông Ðông êm đềm, Sôlôkhôp đã xây dựng hai tuyến lớn và ở mỗi tuyến
lớn lại có nhiều tuyến nhỏ tập họp các nhân vật theo từng dòng họ, từng gia đình. Còn,
Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, tiểu thuyết này dường như không có nhân vật chính. Các
tuyến lịch sử: sự thành lập chiến khu Đông - triều, đảo chính Nhật - Pháp, phong trào
tiền khởi nghĩa xen lẫn với những cốt truyện cá nhân: mối tình Tư - Phượng, Tư -
Bích, Toàn - Nina. Tất cả đã làm nổi bật lên cái xã hội bế tắc, ngột ngạt đang chuyển
mình, sắp bung ra và đổi mới, là sự vận động của hàng loạt nhân vật tiến tơi cuộc tổng
khởi nghĩa tháng Tám.
Nhìn chung, đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại là tính chất nhiều tuyến, nhiều
bình diện, sự luân phiên giữa các cảnh khác nhau, sự đan chéo giữa những tuyến cá
nhân và những tuyến lịch sử. Bằng cách kết cấu đa tuyến, các nhà văn có thể đưa vào
tác phẩm của mình nhiều vấn đề của xã hội, làm cho nó thêm phong phú, tác phẩm
phán ánh rộng và sâu hơn.
1.1.3.2.3. Kết cấu tâm lí
Bước sang thế kỷ XIX, tiểu thuyết cổ điển phương Tây đã có biến đổi lớn. Phần
lớn, tiểu thuyết phương Tây xây dựng không phải theo quy luật trình tự trước sau của
thời gian mà chủ yếu là theo quy luật phát triển tâm lí. Ở Việt Nam, bước sang những
năm đầu thế kỷ XX, lối kết cấu chương hồi cũng ít được các nhà văn vận dụng sáng
tác. Đặc biệt, các tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn hầu hết đều được xây dựng theo kiểu
kết cấu tâm lí. Các nhà văn Tự lực văn đoàn không lấy những tình tiết sự kiện gây cấn
của tác phẩm đề làm trục chính của truyện mà câu chuyện đi theo quá trình tâm lí nhân
vật.
Kết cấu tâm lí là hình thức kết cấu dựa theo quy luật phát triển tâm lí của các
nhân vật trong tác phẩm. Loại kết cấu này xuất hiện cùng với sự xuất hiện của các trào
lưu văn học khẳng định vai trò của cá nhân trong xã hội. Khi xã hội càng phát triển,
đời tư của con người ngày càng được quan tâm nhiều hơn, thì loại kết cấu này cũng
được các nhà văn sử dụng rộng rãi hơn. Kết cấu này thường dựa vào trạng thái tâm lí
có ý nghĩa nào đó để sắp xếp các sự kiện, nhân vật, cốt truyện,... Trong Sống mòn,
- 19 -
Nam Cao đã sắp xếp nhiều mẩu chuyện vặt vãnh, quẩn quanh trong sinh hoạt hằng
ngày với những trạng thái tâm lí bi quan, bất lực, tự ti, khinh bạc,... của các nhân vật.
Kết cấu đó góp phần thể hiện cuộc sống chật hep, tù túng, bế tắc của người tiểu tư sản
nghèo trong xã hội cũ.
Tiểu thuyết Việt Nam đương đại thường đa dạng và linh hoạt về kết cấu nghệ
thuật, trong đó đáng chú ý là kiểu kết cấu mở. Kết cấu theo kiểu kết thúc mở là biểu
hiện của tư duy văn học hiện đại vì cuộc sống biến đổi không ngừng. Nét mới trong
kết cấu nghệ thuật là kết cấu theo dòng ý thức, tiếp tục phát triển kiểu kết cấu tâm lí.
Kết cấu trong tiểu thuyết truyền thống thường hoàn chỉnh với các tình tiết diễn biến
logic, các nhân vật tương đối có tính cách vào bao giờ cũng có chủ đề nhất định; còn
kết cấu tâm lí thoạt nhìn không rõ ràng về cốt truyện, nó là chuỗi diễn biến tâm lí nhân
vật. Chẳng hạn, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, tác phẩm được dệt nên bằng hàng
loạt những giấc mơ, ký ức đứt nối, hỗn loạn nhưng lại thống nhất trong một dòng chảy
ý thức của nhân vật Kiên. Chính bằng cách kết cấu tâm lí, thông qua nhân vật Kiên,
Bảo Ninh đã đào sâu hiện thực chiến tranh bằng những trải nghiệm cá nhân để làm
phong phú thêm cái nhìn của cộng đồng về hiện thực lịch sử. Nhìn thẳng bộ mặt tàn
khốc của chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về những hiểm họa của chiến tranh để
lại. Đồng thời, dựng lại hình ảnh của những con người bằng sự chịu đựng và sức mạnh
anh hùng đã làm nên sức mạnh cho cuộc chiến, làm nên chiến thắng hôm nay.
Nhìn chung, kết cấu tâm lí có những ưu điểm riêng của nó. Nếu nhà văn vận
dụng một cách khéo léo sẽ làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, nhất là những mạch
truyện đòi hỏi đi sâu phân tích tâm lí nhân vật. Kết cấu theo tâm lí nhân vật cũng làm
cho mạch truyện thêm tự nhiên, ít bị gượng ép. Tuy nhiên, nếu chúng ta không linh
hoạt, khéo léo, thì kiểu kết cấu này cũng dễ làm mạch truyện rời rạc, mang tính chấp
vá, làm người đọc khó nắm bắt cốt truyện.
1.2. Vài nét về tiểu thuyết Giảng đường yêu dấu của Mai Anh Tuấn
1.2.1. Vài nét về Mai Anh Tuấn
Mai Anh Tuấn tên thật là Mai Anh Tuấn sinh ngày 14 tháng 6 năm 1983 tại xã
Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Mai Anh Tuấn tốt nghiệp chuyên ngành Ngữ Văn tại trường Đại học Sư phạm
Hà Nội vào năm 2005, tốt nghiệp chuyên sâu Lí luận Phê bình Điện ảnh tại trường
- 20 -