Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty tnhh sản xuất một thành viên minh đức

  • 86 trang
  • file .pdf
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
LƢU ĐỘNG TẠI CÔNG TY
1.1. Các khái niệm liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại công ty
1.1.1. Khái niệm về vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Mỗi một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài tài sản cố định
(TSCĐ) còn phải có các tài sản lưu động (TSLĐ) tùy theo loại hình doanh nghiệp mà
cơ cấu vốn lưu động khác nhau. Tuy nhiên đối với công ty sản xuất TSLĐ được cấu
thành bởi hai bộ phận là TSLĐ sản xuất và tài sản lưu thông.
TSLĐ sản xuất bao gốm những tài sản ở khâu sản xuất như nguyên vật liệu
chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu,..và tài sản ở khâu sản xuất như bán thành phẩm,
sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ…
Tài sản lưu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa chưa được tiêu
thụ (hàng tồn kho), vốn bằng tiền và các khoản phải thu.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên
tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng TSLĐ nhất định. Do vây, để hình thành
nên TSLĐ doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào loại tài sản này, số vốn đó
được gọi là vốn lưu động.
Tóm lại vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên
TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện
thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông
và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ
kinh doanh.
1.1.2. Đặc điểm của nguồn vốn lưu động tại công ty sản xuất
Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Trong
quá trình đó, vồn lưu động chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết
thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và vốn lưu động được thu hồi.
Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động được chuyển qua nhiều hình thái khác
nhau qua từng giai đoạn. Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen với nhau
mà không tách biệt riêng rẽ. Vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý vốn
lưu động có một vai trò quan trọng. Việc quản lý vốn lưu động đòi hỏi phải thường
xuyên nắm sát tình hình luân chuyển vốn, kịp thời khắc phục những ách tắc sản xuất,
đảm bảo đồng vốn được lưu chuyển liên tục và nhịp nhàng.
Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính, sự vận động của vốn lưu
động được gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động. Vòng quay của
vốn càng quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm được vốn, giảm chi phí
1
sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, doanh nghiệp có
điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không nhừng cải thiện đời sống của công
nhân viên chức của doanh nghiệp.
1.1.3. Phân loại các vốn lưu động trong công ty
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, thông thường vốn lưu động được
phân loại theo các tiêu thức khác nhau:
1.1.3.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện:
Theo tiêu thức này, vốn lưu động được chia thành:
Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán:
Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, kể cả
kim loại quý (Vàng, bạc, đá quý …)
Vốn trong thanh toán: Các khoản nợ phải thu của khách hàng, các khoản tạm
ứng, các khoản phải thu khác..
Vốn vật tư hàng hóa (hay còn gọi là hàng tồn kho) bao gồm nguyên, nhiên vật
liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động, sản phẩm dở dang và thành phẩm.
Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh có
liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của
nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí thuê tài sản, chi phí
nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm
thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản …
1.1.3.2. Phân loại vốn theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình SXKD.
Theo cách phân loại này vốn lưu động được chia thành 3 loại:
Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên, vật
liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động
nhỏ.
Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm giá trị sản phẩm dở dang và vốn về
chi phí trả trước.
Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền,
các khoản đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn …) các
khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng …)
1.1.4. Vai trò và tầm quan trong của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ
Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng… doanh
nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật
liệu…phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để
2
Thang Long University Library
doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn lưu động là điều kiện tiên quyết
của quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp
được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh giá
quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp.
Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặc
điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra được
giá thành sản phẩm cộng được tính toán trên cơ sở bù đắp thêm một phần lợi nhuận. Do
đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để
đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nói chung của doanh
nghiệp. Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động cho phép các nhà
quản lý tài chính doanh nghiệp có một cái nhìn chính xác, toàn diện về tình hình quản
lý và sử dụng vốn lưu động của đơn vị mình từ đó đề ra các biện pháp, các chính sách
các quyết định đúng đắn, phù hợp để việc quản lý và sử dụng đồng vốn nói chung và
VLĐ nói riêng ngày càng có hiệu quả trong tương lai.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ làm cho việc sử dụng vốn hợp
lý hơn, vòng quay vốn nhanh hơn tốc độ chu chuyển vốn do đó tiết kiệm được vốn lưu
động cho toàn bộ quá trình sản xuất.
1.1.5. Xác định nhu cầu sử dụng vốn lưu động tại công ty
Xác định nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp đóng các vai trò chủ yếu như
sau:
- Đảm bảo đủ lượng vốn lưu động, tránh tình trạng thiếu hoặc thừa vốn lưu động
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo quá trình sản xuất của doanh
nghiệp tiếp diễn liên tục
- Hình thành các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
nhanh và ổn định.
- Đảm bảo việc sử dụng vốn lưu động hiệu quả và tiết kiệm, là cơ sở để đánh giá
hiệu quả quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Khi xác định nhu cầu vốn lƣu động, doanh nghiệp cần quan tâm đến các
nguyên tắc sau
- Phải xuất phát từ nhu cầu sản xuất, đảm bảo đủ vốn lưu động cho sản xuất vì
nhu cầu vốn lưu động phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
tại mỗi thời kỳ xác định.
3
- Thực hiện tiết kiệm vốn lưu động, giảm lượng vốn lưu động dư thừa, đảm bảo
sử dụng lượng vốn lưu động ở mức tối ưu cho sản xuất kinh doanh,
- Xác định nhu cầu vốn lưu động phải dựa trên các kế hoạch về tiêu thụ sản
phẩm, kế hoạch sản phẩm, kế hoạch chi phí, kế hoạch thu mua nguyên vật liệu.
- Xác định nhu cầu vốn lưu động phải quan tâm đến việc thu thập thông tin từ
các phòng ban, có sự phối hợp và đóng góp ý kiến của các phòng ban chức năng.
Thực hiện nguyên tắc này đảm bảo việc xác định nhu cầu vốn lưu động chính xác,
phù hợp với nhu cầu thực tế về sản xuất kinh doanh.
1.2. Nội dung quản lý các khoản mục vốn lƣu động tại công ty
1.2.1. Chính sách quản lý vốn lưu động
VLĐ tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mọi
hoạt động kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp đều liên quan đến VLĐ, trực tiếp làm
VLĐ thay đổi. Vì vậy, việc quản lý VLĐ quyết định đến kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản lý VLĐ là việc các doanh nghiệp sử dụng các khoản vốn bằng tiền, hàng
tồn kho, các khoản phải thu, đầu tư tài chính ngắn hạn một cách hiệu quả nhằm tối đa
hóa lợi nhuận.
Dựa vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, cấu trúc, quy mô phát triển mà doanh
nghiệp có thể lựa chọn các chính sách VLĐ khác nhau. Việc thay đổi cấu trúc tài sản
và nơ, doanh nghiệp có thể làm thay đổi chính sách VLĐ một cách đáng kể.
Dưới đây là mô hình 3 chính sách quản lý VLĐ trong doanh nghiệp.
Bảng 1.1. Chính sách cấp tiến, thận trọng và dung hòa
Cấp tiến Thận trọng Dung hòa
TSNH Vốn TSNH Vốn TSNH Vốn
NH NH NH
TSDH TSDH
Vốn Vốn Vốn
DH TSDH DH DH
Nguồn: [3,trang 54]
Chính sách quản lý vốn lưu động cấp tiến: là sự kết hợp mô hình quản lý tài sản
cấp tiến và nợ cấp tiến.
Đặc điểm
4
Thang Long University Library
- Chi phí thấp: Quản lý TSLĐ và Nợ ngắn hạn theo trường phát cấp tiến sẽ làm
giảm chi phí. Phải thu khách hàng ở mức thấp nên các chi phí quản lý cũng ở mức
thấp. Hàng lưu kho được giữ ở mức tối thiếu làm giảm các chi phí lưu kho và những
tổn thất do lỗi thời, hư hỏng. Lãi suất ngắn hạn thấp hơn lãi suất dài hạn làm chi phí lãi
vay ngắn hạn thấp hơn dài hạn.
- Sự ổn định của nguồn vốn không cao do nguồn vốn huy động chủ yếu từ nguồn
ngắn hạn (thời gian sử dụng dưới 1 năm).
- Rủi ro về khả năng thanh toán ngắn hạn: Theo trường phái cấp tiến, doanh
nghiệp chỉ giữ một lượng tiền tối thiểu và thường duy trì TSLĐ ở mức thấp nhất . Do
vậy, nếu công ty không có những chính sách quản lý có hiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng
doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
- Chính sách này sẽ đem lại cho doanh nghiệp thu nhập cao do chi phí quản lý,
lãi vay, lưu kho,…đều thấp làm cho lợi nhuận cao hơn. Tuy nhiên, nó cũng mang đến
những rủi ro như: không có đủ tiền để thực hiện chính sách quản lý có hiệu quả, doanh
nghiệp dự trữ hàng thấp dẫn đến doanh thu có thể bị mất khi hết hàng dự trữ.
Chính sách quản lý vốn lưu động thận trọng: là sự kết hợp mô hình quản lý tài
sản thận trọng và nợ thận trọng.
Đặc điểm
- Khả năng thanh toán được đảm bảo do doanh nghiệp luôn duy trì TSLĐ ở mức
độ tối đa luôn đủ để trả các khoản nợ ngắn hạn.
- Tính ổn định của nguồn vốn cao do nguồn vốn huy động chủ yếu từ nguồn dài
hạn, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn này đầu tư vào các hoạt động SXKD mà
chưa phải lo ngay đến việc trả nợ.
- Thời gian quay vòng tiền dài: do hàng lưu kho và các khoản phải thu khách
hàng tang, làm cho thời gian quay vòng, kéo dài chu kỳ kinh doanh, từ đó dẫn tới tăng
thời gian quay vòng tiền.
- Hạn chế rủi ro: quản lý VLĐ theo trường phái thận trọng có thể gặp phải một số
rủi ro như: biến động lãi suất cho vay dài hạn,..Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể
tránh được một số rủi ro như biến động tang giá thành sản phẩm do dự trữ hàng tồn
kho ở mức cao, giúp làm giảm chi phí.
Chính sách vốn lưu động dung hòa cân bằng rủi ro của chính sách cấp tiến và
chính sách thân trọng. Dựa trên cơ sở của nguyên tắc tương thích: TSLĐ được tài trợ
hoàn toàn bằng nguồn ngắn hạn và TSCĐ được tài trợ bằng nguồn dài hạn. Chính sách
dung hòa có đặc điểm kết hợp quản lý tài sản thận trọng với nợ cấp tiến hoặc quản lý
tài sản cấp tiến với nợ thận trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, để đạt được trạng thái tương
thích không hề đơn giản do vấp phải những vấn đề như sự tương thích kì hạn, luồng
5
tiền hay khoảng thời gian, do vậy chính sách này chỉ cố gắng tiến tới trạng thái dung
hòa rủi ro và tạo ra mức thu nhập trung bình nhằm hạn chế nhược điểm của hai chính
sách trên.
1.2.2. Quản lí vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là một bộ phận tài sản lưu động của doanh
nghiệp tồn tại dưới hình thái tiền tệ. Với tính lưu hoạt cao, vốn bằng tiền có thể thanh
toán ngay các khoản nợ, thực hiện ngay các nhu cầu mua sắm và chi phí.
Căn cứ vào tình hình tồn tại vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm:
Tiền Việt Nam: là loại tiền phù hiệu. Đây là loại tiền giấy do Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam phát hành hay còn gọi là ngân hàng trung ương và chỉ có ngân hàng
trung ương độc quyền phát hành. Tiền Việt Nam được sử dụng làm phương tiện giao
dịch chính thức đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiền ngoại tệ: là loại tiền phù hiệu. Đây là loại tiền giấy không phải do ngân
hàng trung ương Việt Nam phát hành nhưng được phép lưu hành chính thức trên thị
trường Việt Nam như đồng đôla Mỹ, Bảng Anh, Franc Pháp, Yên Nhật…
Vàng bạc, đá quý, kim loại quý: là loại tiền thực chất, tuy nhiên được lưu trữ chủ
yếu là vì mục tiêu an toàn hoặc một mục đích bất thường nào đó chứ không phải vì
mục đích thanh toán trong kinh doanh.
Căn cứ vào trạng thái tồn tại, vốn bằng tiền được chia ra làm các loại sau:
Tiền mặt tại quỹ doanh nghiệp: bao gồm tiền Việt Nam, tiền ngoại tệ, vàng bạc,
đá quý, kim loại quý, ngân phiếu…đang được lưu giữ tại két bạc của doanh nghiệp để
phục vụ cho chi tiêu trực tiếp hàng ngày của doanh nghiệp.
Tiền gửi ngân hàng: bao gồm tiền Việt Nam, tiền ngoại tệ,vàng bạc, đá quý, kim
loại qỳy, ngân phiếu…mà doanh nghiệp đã mở tài khoản tại ngân hàng để phục vụ cho
việc giao dịch, thanh toán trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Tiền đang chuyển: là số tiền mà doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng, kho bạc
Nhà nước hoặc chuyển qua bưu điện để chuyển qua ngân hàng hay đã làm thủ tục
chuyển tiền từ tài khoản tại ngân hàng để trả cho các đơn vị khác.
Đặc điểm của quản lý vốn bằng tiền là:
 Theo dõi thu, chi, thanh toán và số dư tức thời của tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
và tiền vay của từng tài khoản ở từng ngân hàng.
 Quản lý các khoản tiền bằng tiền VNĐ và nguyên tệ gốc
 Kiểm tra số dư tức thời của các tài khoản vốn bằng tiền
6
Thang Long University Library
 Theo dõi thanh toán thu chi các đối tượng như: khách hàng, nhà cung cấp,
nhân viên, hợp đồng, hóa đơn, công trình
 Theo dõi thanh toán theo các khoản mục chi phí.
 Hiển thị số dư tức thời của từng tài khoản/ngân hàng ngay khi nhập liệu
1.2.2.1. Theo dõi hoạt động thu - chi tiền mặt
Tiền mặt của doanh nghiệp bao gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền trên tài khoản ngân
hàng. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền
thuế, trả các khoản nợ đến hạn…Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do
vậy trong quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ là quan trọng
nhất.
Quản lý tiền mặt là một quá trình bao gồm việc thu hồi nợ, kiểm soát chi tiêu, bù
đắp thâm hụt ngân sách, dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp, đầu tư những
khoản tiền nhàn rỗi và trả tiền cho các ngân hàng cung cấp những hoạt động thuộc quá
trình quản lý tiền mặt kể trên. Việc kiểm tra thường xuyên hệ thống quản lý tiền mặt
cho phép công ty tìm ra những phương thức, biện pháp cải thiện hệ thống, đồng thời
đưa ra được sự đảm bảo về tính tin cậy của dữ liệu tài chính của công ty mà không cần
thực hiện việc kiểm toán hàng ngày. Để tăng hiệu quả hoạt động thu tiền, doanh
nghiệp có thể rút ngắn thời gian chuyển thư, rút ngắn thời gian xử lý chứng từ, rút
ngắn thời gian thanh toán bù trừ. Bên cạnh việc tăng hiệu quả hoạt động thu tiền thì
các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải giảm thời gian chi tiền, trì hoãn dòng tiền ra
đến hết mức có thể nhưng không làm ảnh hưởng đến uy tín thanh toán của doanh
nghiệp với nhà cung cấp, người lao động… Dựa vào khoản tiền nhãn rỗi đó các doanh
nghiệp sẽ đầu tư sinh lời làm tăng lợi nhuận công ty.
Để chọn lựa phương thức hiệu quả, nhà quản lý cần phải so sánh giữa lợi ích và
chi phí tăng them của các phương thức thu – chi sao cho lợi ích đem lại là lớn nhất đối
với doanh nghiệp. Dưới đây là sự so sánh lợi ích sau thuế tăng thêm và chi phí sau
thuế tăng thêm khi thay đổi sang sử dụng phương thức mới.
ΔB = Δt x TS x I x ( 1 – T)
ΔC = (C2- C1) x (1 – T)
Trong đó:
ΔB: Lợi ích tăng thêm của phương thức mới so với phương thức hiện tại
Δt: Thay đổi thời gian chuyển tiền (theo ngày)
TS: Quy mô chuyển tiền
I: Lãi suất
7
T: Thuế thu nhập cận biên của công ty
C1: Chi phí của phương thức hiện tại
C2: Chi phí của phươn thức mới
ΔC: Chi phí tăng thêm của phương thức mới so với phương thức hiện tại
Dựa vào kết quả tính toán theo mô hình trên, nhà quản lý có thể đưa ra quyết định:
Nếu ΔC > ΔB thì giữ nguyên phương thức thu tiền hiện tại
Nếu ΔC < ΔB thì chuyển sang phương thức mới
Nếu ΔC = ΔB thì bàng quan với cả hai phương thức
Ngoài vấn để tăng thu, doanh nghiệp còn phải duy trì giảm chi, tức là nên trì
hoãn việc thanh toán (nhưng trong phạm vi thời gian cho phép) để có thể tận dụng
những lợi ích có từ các khoản chậm thanh toán này. Hình thức thông dụng nhất được
các doanh nghiệp sử dụng phổ biến là trả lương chậm và trả lương thưởng bằng sản
phẩm. Cụ thể hơn là đối với hình thức trả lương chậm, doanh nghiệp sẽ thiết lập một
hệ thống thời gian trả lương cho từng bộ phận nhân viên và trả lương theo thời gian biểu
đó thay vì trả lương đồng thời cho tất cả các nhân viên một lúc. Đối với hình thức trả
lương bằng sản phẩm, doanh nghiệp có thể trích lại một phần lương hoặc lương thưởng
để trả bằng chính sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra với một giá trị tương đương với số
tiền lương hoặc lương thưởng đó. Hình thức này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được
một khoản chi phí đáng kể.
+ Quyết định số dư tiền mặt mục tiêu.
Số dư tiền mặt mục tiêu là số dư công ty hoạch định lưu trữ dưới hình thức tiền
mặt( theo nghĩa rộng). Quyết định số dư tiền mặt mục tiêu liên quan đến việc đánh đổi
giữa chi phí cơ hội do giữ quá nhiều tiền mặt và chi phí giao dịch do giữ quá ít tiền
mặt.Sơ đồ dưới đây mô tả tổng chi phí giữ tiền mặt bao gồm chi phí cơ hội và chi phí
giao dịch.
8
Thang Long University Library
Đồ thị 2.1. Tổng chi phí giữ tiền mặt
Chi phí giữ tiền mặt
Tổng chi phí giữ tiền mặt Chi phí cơ hội
Chi phí giao dịch
C* Quy mô tiền mặt
Chi phí cơ hội là chi phí mất đi do giữ tiền mặt khiến cho tiền không được đầu tư
vào mục đích sinh lợi. chi phí giao dịch là chi phí liên quan đến chuyển đổi từ tài sản
đầu tư thành tiền mặt sẵn sang cho chi tiêu. Nếu công ty giữ quá nhiều tiền mặt thì chi
phí giao dịch sẽ nhỏ nhưng ngược lại chi phí cơ hội sẽ lớn. Tổng chi phí giữ tiền mặt
chính là tổng chi phí cơ hội và chi phí giao dịch. Trong sơ đồ trên, tổng chi phí tiền mặt
nhỏ nhất tại điểm C*, cho nên, C* là điểm ở đó số dư tiền mặt tối ưu. Đây chính là số dư
tiền mặt mục tiêu công ty cần hoạch định. Dưới đây là một số mô hình xác định số dư
tiền mặt tối ưu.
1.2.2.2. Mô hình Baumol
William Baumol là người đầu tiên đưa ra mô hình quyết định tồn quỹ kết hợp
giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch. Mô hình này được áp dụng nhằm thiết lập quỹ
tồn mục tiêu.
+ Chi phí giao dịch ( TrC = Transaction Cost)
TrC = (T/C) * F
Trong đó:
T: Tổng nhu cầu về tiền mặt trong một thời kỳ ( thường là một năm )
C: Quy mô một lần bán chứng khoán
F: Chi phí cố định của một lần bán chứng khoán
T/C: Số lần mà công ty phải bán chứng khoán một năm.
Tổng chi phí giao dịch được xác định dựa vào số lần công ty phải bán chứng
khoán trong một thời kỳ ( thường là một năm )
Chi phí giao dịch= Số lần bán chứng khoán * Phí giao dịch cố định = (T/C) * F
+ Chi phí cơ hội (OC – Opportunity Cost)
9
Tổng chi phí cơ hội bằng tồn quỹ trung bình nhân với lãi suất đầu tư chứng
khoán ngắn hạn:
Chi phí cơ hội = OC = (C/2) * K
Trong đó:
C/2: Mức dự trữ tiền mặt trung bình
K: Lãi suất chứng khoán/ thời kỳ ( thường là một năm)
+ Tổng chi phí (TC – Total Cost)
Tổng chi phí liên quan đến tồn quỹ bằng chi phí cơ hội cộng chi phí giao dịch:
Tổng chi phí = TC = TrC + OC = [(T/C) * F] + [(C/2) * K]
Có thể không xét 1 thời kỳ là 1 năm nhưng phải có sự đồng nhất thời gian của T và K
+ Xác định mức dự trữ tiền tối ưu
Tổng chi phí sẽ đạt min tại điểm mà đạo hàm bậc nhất của nó theo biến C bằng 0.
Ta có: TC= (T/C) * F] + [(C/2) * K
dTC/ dC = K/2 – T*F/
Và dTC/ dC = 0
 K/2 – T*F / =0
C= √
1.2.2.3. Mô hình Miller Orr
Merton Millere và Daniel Orr phát triển mô hình tồn quỹ với luồng thu và chi
biến động ngẫu nhiên hàng ngày. Mô hình Miller Orr liên quán đến cả luồng thu và
luồng chi tiền mặt và giả định luồng tiền ròng( luồng thu trừ luồng chi) có phân phối
chuẩn. Luồng tiền tệ ròng hàng ngày có thể ở mức rất cao hoặc rất thấp. Tuy nhiên,
chúng ra giả định luồng tiền mặt ròng bằng 0, tức là luồng thu đủ bù đắp nguồn chi.
10
Thang Long University Library
Đồ thị 2.2. Mô hình Miller Orr
Tiền mặt Giới hạn trên
(H)
Mức tiêu (Z)
Giới hạn dưới(L)
Thời gian
X Y
Có ba khái niệm cần chú ý trong mô hình này:
Giới hạn trên (H)
Giới hạn dưới (L)
Tồn quỹ mục tiêu (Z)
Ban quản lý công ty thiết lập H căn cứ vào chi phí cơ hội giữ tiền và L căn cứ
vào rủi ro do thiếu tiền mặt. Công ty cho phép tồn quỹ biến động ngẫu nhiên trong
phạm vi giới hạn và nếu như tồn quỹ vẫn nằm trong mức giới hạn trên và mức giới hạn
dưới thì công ty không cần thiết thực hiện mua hay bán chứng khoán ngắn hạn. Khi
tồn quỹ đụng giới hạn trên ( tại điểm X) thì công ty sẽ mua ( H-Z) đồng chứng khoán
ngắn hạn để giảm tồn quỹ trở về Z. Ngược lại, khi tồn quỹ giảm đụng giới hạn dưới (
tại điểm Y )thì công ty sẽ bán (Z-L) đồng chứng khoán ngắn hạn để gia tăng tồn quỹ
lên Z.
Giống như mô hình Baumol, mô hình Miller – Orr xác định tồn quỹ dựa vào chi
phí giao dịch và chi phí cơ hội. Chi phí giao dịch F là chi phí liên quan đến việc mua
bán chứng khoán ngắn hạn để chuyển đổi từ tài sản đầu tư cho mục đích sinh lời ra
tiền mặt nhằm mục đích thanh toán. Chi phí giao dịch cố định cho mỗi lần giao dịch,
không phụ thuộc vào doanh số mua bán chứng khoán ngắn hạn. Chi phí cơ hội do giữ
tiền mặt là K, bằng lãi suất ngắn hạn.
Khác với mô hình Baumol, trong mô hình Miller – Orr, số lần giao dịch của mỗi
thời kỳ là số ngẫu nhiên, thay đổi tùy thuộc vào sự biến động của luồng thu và luồng
11
chi tiền mặt. Kết quả là chi phí giao dịch phụ thuộc vào số lần giao dịch chứng khoán
ngắn hạn kỳ vọng còn chi phí cơ hội phụ thuộc vào tồn quỹ kỳ vọng.
Với tồn quỹ thấp nhất L đã cho, giải mô hình Miller – Orr, chúng ta tìm được tồn
quỹ mục tiêu Z và giới hạn trên H.
Tồn quỹ tiền mặt mục tiêu
Z* = (3Fσ2/4K+L)1/3
Trong đó:
Z* là số dư tiền mặt tối ưu
F Là chi phí cố định phát sinh khi giao dịch trên thị trường tài chính
σ2 là phương sai của dòng tiền mặt hàng ngày
K là chi phí cơ hội giữ tiền mặt
L là tồn quỹ tiền mặt tối thiểu (giới hạn dưới)
Tồn quỹ tiền mặt tối đa
H* = 3Z*- 2L
Tồn quỹ tiền mặt trung bình
Ctrung bình = (4Z* - L)/3
1.2.3. Quản lí các khoản phải thu
1.2.3.1. Các chính sách bán hàng
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa
hoặc dịch vụ. Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng
với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát nổi.
Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro.
Nếu không bán chịu hàng hóa thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó, mất đi lợi
nhuận. Nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có nguy
cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng.
Vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu phù hợp.
Khoản phải thu của doanh nghiệp phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố
như tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, và chính sách bán
chịu của doanh nghiệp. Trong các yếu tố này, chính sách bán chịu ảnh hưởng mạnh
nhất đến khoản phải thu và sự kiểm soát của giám đốc tài chính. Giám đốc tài chính có
thể thay đổi mức độ bán chịu để kiểm soát khoản phải thu sao cho phù hợp với sự đánh
đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu có thể kích thích được nhu
cầu dẫn tới gia tăng doanh thu và lợi nhuận, nhưng vì bán chịu sẽ làm phát sinh khoản
12
Thang Long University Library
phải thu, và do bao giờ cũng có chi phí đi kèm theo khoản phải thu nên giám đốc tài
chính cần xem xét cẩn thận sự đánh đổi này.
Dưới đây là mô hình chính sách bán mà công ty áp dụng.
Sơ đồ 1.1. Mô hình chính sách thắt chặt
Giảm khoản Tiết kiệm chi
Chính sách phải thu phí cho khoản
bán thắt phải thu
chặt
Giảm doanh Tiết kiệm chi phí
thu bù đắp lợi nhuận
giảm không?
Giảm lợi
nhuận Quyết định
Nguồn: Phòng Tài chính – Kế toán
Chính sách bán thắt chặt là chính sách hạn chế cho khác hàng mua chịu. Khi áp
dụng chính sách này, khoản phải thu của công ty sẽ giảm, kéo theo lợi nhuận và doanh
thu cũng giảm do lượng hàng bán ra sẽ ít hơn, đồng thời không lôi kéo được nhiều
khách hàng mới. Đổi lại, công ty sẽ tiết kiệm được chi phí để quản lý các khoản phải
thu đó. Việc ra quyết định có áp dụng chính sách không sẽ tùy thuộc vào khoản tiết
kiêm chi phí có đủ bù đắp lợi nhuận giảm hay không.
1.2.3.2. Mô hình cấp tín dụng cơ bản
Để xác định xem công ty có nên cấp tín dụng hay không, chúng ta so sánh giá trị
hiện tại của lợi ích( giá trị của dòng tiền vào hay dòng tiền sau thuế các năm) và chi
phí của việc cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước. Giá trị hiện tại ròng, NPV, của
quyết định cấp tín dụng được tính toán như sau:
NPV = CFt/k – CF0
Trong đó:
CFt: Dòng tiền sau thuế mỗi kỳ
k : Tỷ lệ thu nhập yêu cầu sau thuế phản ánh nhóm rủi ro của khách
hàng tiềm năng.
CF0: Giá trị mà doanh nghiệp đầu tư vào khoản phải thu khách hàng.
Trên cơ sở giá trị hiện tại ròng, doanh nghiệp sẽ quyết định về cấp tín dụng như sau:
Nếu NPV > 0: Cấp tín dụng
13
Nếu NPV < 0: Không cấp tín dụng
Nếu NPV = 0: Bàng quan
Đưa ra quyết định tính dụng
Để tính được giá trị hiện tài ròng, ta phải xác định được dòng tiền sau thuế mỗi
kỳ CFt và giá trị đầu từ vào khoản phải thu khách hàng CF0 . Đó là:
CF0 = VC x S x (ACP/365 ngày)
CFt = [S x (1-VC) – S x BD – CD] x (1- T)
Trong đó:
VC :tỷ lệ chi phí biến đổi trên 1 đồng tiền vào (%)
S :doanh thu dự kiến mỗi thời kỳ
ACP :thời gian thu tiền trung bình (ngày)
BD :tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu (%)
CD :CFout tăng thêm của bộ phận tín dụng
T: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong một vài trường hợp, doanh nghiệp cần so sánh giá trị hiện tại ròng của các
phương án cấp tín dụng khác nhau để lựa chọn được phương án đem lại lợi ích ròng là
lớn nhất. Chúng ta xét mô hình cơ bản nhất là so sánh giữa phương án cấp tín dụng và
không cấp tín dụng, vận dụng mô hình cơ bản này chúng ta có thể hoàn toàn làm
tương tự khi so sánh lợi ích ròng của các phương án cấp tín dụng khác nhau từ đó đưa
ra quyết định tối ưu.
Để quyết định xem có nên cấp tín dụng hay không, doanh nghiệp phải so sánh
giá trị hiện tại ròng của từng phương án:
Giá trị hiện tại ròng của việc không cấp tín dụng cho khách hàng
NPV0 = P0 * Q0 – AC0Q0
Giá trị hiện tại ròng của việc cấp tín dụng cho khách hàng.
NPV1 = (P1 * Q1 * h)/(1+ R1) – AC1 * Q1
Quyết định lựa chọn:
Nếu NPV0 > NPV1 : Không cấp tín dụng
Nếu NPV0 < NPV1 : Cấp tín dụng
Nếu NPV0 = NPV1 : Bàng quan
14
Thang Long University Library
1.2.3.3. Cấp tín dụng và không cấp tín dụng
Bảng 1.2. Cấp tín dụng và không cấp tín dụng
Chỉ tiêu Không cấp tín dụng Cấp tín dụng
Số lƣợng bán (Q) Q0 Q1 (Q1 > Q0)
Giá bán (P) P0 P1 (P1 > P0)
Chi phí sản xuất bình quân
AC0 AC1 (AC1 > AC0)
(AC)
Xác suất thanh toán 100% h (h <= 100%)
Thời hạn nợ 0 T
Tỷ suất chiết khấu 0 R
Giá trị hiện tại ròng của việc không cấp tín dụng
NPV = P0Q0 – AC0Q0
Giá trị hiện tại ròng của việc cấp tín dụng
NPV1 = P1Q1h/(1+R) – AC1Q1
Quyết định lựa chọn:
Nếu NPV > NPV1: Không cấp tín dụng
Nếu NPV < NPV1: Cấp tín dụng
Nếu NPV = NPV1: Bàng quan
1.2.3.4. Cấp tín dụng sử dụng thông tin rủi ro tín dụng
Bảng 1.3. Sử dụng và không sử dụng thông tin rủi ro tín dụng
Chỉ tiêu Không sử dụng thông Sử dụng thông tin
tin rủi ro rủi ro
Số lƣợng bán (Q) Q1 Q1h
Giá bán (P) P1 P1
Chí phsi sản xuất bình quân (AC) AC1 AC1
Chi phí thông tin rủi ro 0 C
Xác suất thanh toán H 100%
Thời hạn nợ T T
Tỷ suất chiết khấu R R
Giá trị hiện tại ròng của việc không sử dụng thông tin rủi ro
15
NPV1 = P1Q1h/(1+R) – AC1Q1
Giá trị hiện tại ròng của việc sử dụng thông tin rủi ro
NPV2 = P1Q1h/(1+R) – AC1Q1h – C
Quyết định lựa chọn:
NPV1 > NPV2: Không cấp tín dụng sử dụng thông tin rủi ro tín dụng
NPV1 < NPV2: Cấp tín dụng sử dụng thông tin rủi ro tín dụng
NPV1 = NPV2: Bàng quan
1.2.4. Quản lí hàng tốn kho
1.2.4.1. Sự cần thiết phải quản lý hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một trong những tài sản có giá trị lớn trong doanh nghiệp. Bản
than vấn đề quản lý hàng tồn kho có hai mặt trái ngược nhau là: để đảm bảo sản xuất
liên tục, tránh đứt quãng trên dây chuyền sản xuất, đảm bảo sản xuất đáp ứng nhanh
chóng nhu cầu của người tiêu dung trong bất cứ tình huống nào. Ngược lại, hàng tồn
kho tăng lên, doanh nghiệp lại phải tốn thêm những chi phí khác có liên quan đến dự
trữ chúng. Quản lý hàng tồn kho tốt cũng góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất- kinh
doanh của doanh nghiệp trước những yêu cầu đặt ra ngày càng cao của thị trường. Vì
vậy, bản than doanh nghiệp phải tìm cách xác định mức độ cân bằng giữa mức độ đầu
tư cho hàng tồn kho và lợi ích do thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và nhu cầu người tiêu
dung với chi phí tối thiểu nhất.
1.2.4.2. Nội dung quản lý hàng tồn kho
Quản lý hàng tồn kho là một công việc khá phức tạp, đòi hỏi nhà quản lý doanh
nghiệp phải biết vận dụng sáng tạo các phương phpas quản lý vào thực tiễn hoạt động
của doanh nghiệp mình. Đồng thời, hàng tồn kho lại bao gồm rất nhiều thành phần với
đặc điểm khác nhau, mỗi thành phần lại có độ tương thích khác nhau với các phương
thức quản lý đó.
Vì hàng tồn kho có thể xuất hiện trong mọi công đoạn sản xuất nên ta cần nghiên
cứu luồng dịch chuyển vật chất trong một hệ thống sản xuất- kinh doanh bao gồm
nhiều công đoạn khác nhau để thấy được sự hiện diện của hàng tồn kho cũng như các
loại kho trong từng công đoạn đó.
Hệ thống sản xuất được diễn tả như là sự chuyển hóa các đầu vào qua hộp đen kĩ
thuật thành các đầu ra. Xét trong hệ thống sản xuất chế tạo, các đầu vào là sản phẩm
hữu hình, quá trình chuyển hóa có thể biểu hiện ra như một quá trình dịch chuyển vật
chất từ đầu vào qua suốt các quá trình chuyển hóa thành đầu ra. Cụ thể nguyên vật liệu
ở đầu vào, dịch chuyển từ nơi làm việ này đến nơi làm việc khác trở thành sản phẩm
lan tỏa khắp các kênh phân phối đến khách hàng cuối cùng.
16
Thang Long University Library
Ta có thể thấy hàng tồn kho xuất hiện ở mọi công đoạn sản xuất, biểu hiện của
nó chính là các kho nguyên vật liệu, kho thành phẩm và kho bán thành phẩm. Đầu tiên,
doanh nghiệp mua hàng của các nguồn cung cấp rồi chuyển vào kho nguyên vật liệu.
Thông qua các giai đoạn sản xuất, những nguyên vật liệu này được chế tạo thành sản
phẩm và bán thành phẩm và được chuyển vào trong kho sản phẩm và bán thành phẩm
để chờ bán cho khách hàng. Ngoài ra, công ty còn gửi hàng cho các đại lý, sản phẩm
của công ty lại một lần nữa được chuyển vào kho của đại lý chờ tiêu thu. Ta có thể
thấy trong cả quá trình nhập nguyên vật liệu, chế tạo rồi tiêu thụ đều thông qua kho. Vì
vậy, nội dung của quản lý hàng tồn kho cũng liên quan đến dòng dịch chuyển vật chất
trong hệ thống sản xuất- kinh doanh. Quản lý hàng tồn kho là tính lượng tồn kho tối ưu
sao cho chi phí tồn kho là nhỏ nhất.
Chi phí tồn kho
Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ, các loại chi phí tất yếu sẽ phát sinh như chi
phí bốc xếp nguyên vật liệu, hàng hóa…., chi phí bảo quản, chi phí đặt hàng, chi phí
bảo hiểm…Chi phí tồn kho liên quan đến các mô hình dự trữ. Vì thế, việc nghiên cứu
về các loại chi phí tồn kho là cần thiết trước khi đưa ra các mô hình.
Dưới đây là một vài công thức biểu hiện từng bộ phận của chi phí tồn kho:
Lƣợng cung ứng mỗi lần Q =
Lƣợng tồn kho trung bình A =
Tổng chi phí tồn kho : TCC= C1 x
Trong đó:
C1: Chi phí lưu kho một đơn vị hàng hóa
Chi phí đặt hàng
Đây là chi phí cho việc đặt một đợt hàng mới. Chi phí này bao gốm chi phí quản
lý, giao dịch và vận chuyển hàng hóa. Chi phí này thường cố định cho một lô hàng đặt
cho dù lô hàng lớn hay nhỏ. Do vậy, chi phí đặt hàng thường thấp nếu lô đặt hàng lớn
và ngược lại chi phí này sẽ cao nếu lô hàng đặt nhỏ. Tổng chi phí đặt hàng vì thế sẽ
tăng lên nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm đi.
Tổng chi phí đặt hàng TOC = C2 x Số lần đặt hàng trong năm
= C2 x
Trong đó:
C2: Chi phí cố định cho một lần đặt hàng
17
Các chi phí khác: bao gồm các chi phí thành lập kho, trả lương cho công nhân
viên ngoài giờ…..
Tổng phí tổn tồn kho ( Total Inventory Cost) TIC = Tổng chi phí tồn kho + Tổng chi phí đặt
hàng
Phƣơng trình tổng quát tính tổng chi phí tồn kho sẽ là :
TIC = C1 x + C2 x
Các phương pháp quản lý hàng tồn kho
Khi nghiên cứu các phương pháp quản lý hàng tồn kho, chúng ta cần giải quyết
hai câu hỏi trọng tâm là :
Lượng hàng cho mỗi đơn hàng là bao nhiêu thì chi phí sẽ thấp nhất
Khi nào thì tiến hàng đặt hàng
Dưới đây là các mô hình thông dụng được sử dụng trong quản lý hàng tồn kho tại
các doanh nghiệp:
Mô hình EOQ
Mô hình kiểm soát dự trữ cơ bản EOQ được đề xuất và ứng dụng từ năm 1915
cho đến nay nó vẫn được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng. Kỹ thuật kiểm soát dự trữ
theo mô hình này rất dễ áp dụng, nhưng khi sử dụng nó, người ta đã phải dựa vào
những giả thiết quan trọng, đó là :
Nhu cầu phải biết trước và nhu cầu không đổi;
Phải biết trước thời gian kể từ khi đặt hàng cho tới khi nhận được hàng và thời
gian đó không đổi;
Lượng hàng của mỗi đơn hàng được thực hiện trong một chuyến hàng và được
thực hiện ở một thời điểm đã định trước;
Chỉ có duy nhất 2 loại chi phí là chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng;
Sự thiếu hụt trong kho hoàn toàn không xảy ra nếu như đơn đặt hàng được thực
hiện đúng thời gian.
18
Thang Long University Library
Sơ đồ 1.2. Mô hình hàng tồn kho cơ bản
Lượng hàng cung ứng
Q*
Dự trữ trung bình
Q*/2
O A B C Thời gian
Trong đó:
Q*: Sản lượng của một đơn hàng ( lượng hàng dự trữ tối đa)
O: Dự trữ tối thiểu
Q*/2: Lượng dự trữ trung bình
OA=AB=BC là khoảng cách kể từ khi nhận hàng đến khi sử dụng hết hàng của
một đợt đặt hàng dự trữ.
Với mô hình này, lượng dự trữ sẽ giảm theo một tỉ lệ không đổi vì nhu cầu không
thay đổi theo thời gian.
Mục tiêu của các mô hình dự trữ đều nhằm tối thiểu hóa tổng chi phí dự trữ. Khi
nghiên cứu về chi phí hàng tồn kho ta đã có phương trình:
TIC = C1 x + C2 x (1)
Xét phương trình (1), ta lấy vi phân TIC theo Q. Từ đó ta có thể tính được lượng
hàng cung ứng mỗi lần tối ưu Q* như sau:
Q*=√
Như vậy, lượng dự trữ tối ưu hay lượng đơn hàng tối ưu Q* sẽ là một lượng xác
định sao cho tại đó tổng chi phí TIC là nhỏ nhất. Q* tối ưu tại điểm có chi phí đặt hàng
và chi phí tồn trữ (chi phí cơ hội) bằng nhau.
Công thức này được thể hiện qua đồ thị sau:
19
Đồ thị 2.3. Đồ thị lƣợng dự trữ tối ƣu
Chi phí Chi phí lƣu kho C1 x Q/2
Chi phí đặt hàng C2x D/Q
O Lƣợng hàng cung
ứng
Mô hình ABC
Kỹ thuật phân tích ABC được đề xuất dựa vào nguyên tắc Pareto. Kỹ thuật phân
tích ABC phân loại toàn bộ hàng dự trữ của doanh nghiệp thành 3 nhóm: A, B, C, căn
cứ vào mối quan hệ giữa giá trị dự trữ hàng năm với số lượng chủng loại hàng.
Giá trị hàng hóa dự trữ hàng năm được xác định bằng tích số giữa giá bán một
đơn vị dự trữ với lượng dự trữ hàng năm.
Số lượng chủng loại hàng là số các loại hàng hóa dự trữ của doanh nghiệp trong
năm. Tiêu chuẩn cụ thể của từng nhóm hàng dự trữ được xác định như sau:
Nhóm A, bao gồm những loại hàng dự trữ có giá trị hàng năm cao nhất, chiếm
70-80% tổng giá trị hàng dự trữ, nhưng về mặt số lượng, chủng loại chúng chỉ chiếm
15% tổng số chủng loại hàng dự trữ.
Nhóm B, bao gồm những loại hàng dự trữ có giá trị hàng năm ở mức trung bình,
chiếm 15-25% tổng giá trị hàng dự trữ, nhưng về số lượng, chủng loại chúng chiếm
khoảng 30% tổng số chủng loại hàng dự trữ.
Nhóm C, bao gồm những loại hàng dự trữ có giá trị hàng năm nhỏ, chỉ chiếm
khoảng 5% tổng giá trị các loại hàng hóa dự trữ, tuy nhiên số lượng chủng loại chiếm
khoảng 55% tổng số chủng loại hàng dự trữ.
20
Thang Long University Library