Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh phú thọ

  • 56 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước, đây là một thời kỳ quan trọng mà thành công của nó sẽ đưa đất nước
ta thoát khỏi đói nghèo lạc hậu để trở thành một nước công nghiệp phát triển.
Để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đòi hỏi một nguồn vốn
đầu tư rất lớn. Hơn nữa hiện đại hóa công nghiệp hóa khiến đất nước phải hội
nhập, gia nhập một sân chơi bình đẳng và chịu sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt
đúng như bản chất của nền kinh tế thị trường.
Ngân hàng là một trong những trung gian tài chính có vai trò quan trọng
trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, và trong giai đoạn phát triển của đất
nước. Hệ thống Ngân hàng có hoạt động tốt thì mới điều hòa được nguồn vốn
cho nền kinh tế, nguồn vốn được đầu tư vào đúng nơi đúng chỗ. Do có vai trò
quan trọng nên từ sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của
hệ thống Ngân hàng có thể đánh giá được sự phát triển lành mạnh của nền kinh
tế. Khi nền kinh tế càng phát triển, nền kinh tế thị trường đã dần định hình rõ ở
nước ta, thì cũng như các doanh nghiệp trong nền kinh tế, các Ngân hàng
thương mại phải đối mặt với rất nhiều rủi ro như: Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi
suất, rủi ro thị trường...vv. Trong đó, rủi ro tín dụng gây ra tổn thất lớn nhất
cho các Ngân hàng, và Ngân hàng nào quản lý tốt đựợc rủi ro thì Ngân hàng đó
mới hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Trong thời gian gần đây, hoạt động quản lý rủi ro tại các Ngân hàng
thương mại ở nước ta đã bắt đầu được chú trọng, do yêu cầu của sự hội nhập
nền kinh tế quốc tế. Là một chi nhánh của một Ngân hàng lớn trong hệ thống
các Ngân hàng thương mại quốc doanh của nước ta Chi nhánh NHĐT&PT tỉnh
Phú Thọ đã chú trọng công tác quản lý rủi ro tín dụng trong nhiều năm nay, tuy
nhiên hiệu quả chưa được như mong muốn. Nhận thức được tầm quan trọng
của hoạt động quản lý rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại, sau thời
gian thực tập tại Chi nhánh NHĐT&PT tỉnh Phú Thọ, em đã quyết định chọn
1
đề tài : “Nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển tỉnh Phú Thọ” làm chuyên đề thực tập chuyên ngành của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả quản lý rủi ro tại
các ngân hàng thương mại.
- Nêu các biện pháp được áp dụng chủ yếu trong hoạt động quản lý
RRTD tại chi nhánh NHĐT&PT tỉnh Phú Thọ, đánh giá hiệu quả của các biện
pháp trên thông qua phân tích thực trạng RRTD tại Chi nhánh.
- Đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng
tại Chi nhánh NHĐT&PT tỉnh Phú Thọ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về quản lý rủi ro tín dụng,
hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHĐT&PT tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực tiễn hoạt động quản lý rủi ro tín
dụng tại Chi nhánh NHĐT&PT tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ 2003 đến
2005.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phân tích diễn giải, so sánh kết hợp với phương pháp
thống kê. Bên cạnh đó Chuyên đề còn sử dụng các bảng, sơ đồ để minh họa.
5. Kết cấu của chuyên đề
Sau phần mở đầu chuyên đề được chia làm 3 chương
Chương I: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại
các Ngân hàng thương mại.
Chương II: Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại Chi nhánh NHĐT&PT
tỉnh Phú Thọ.
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại chi
nhánh NHĐT&PT tỉnh Phú Thọ.
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm NHTM
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Có
nhiều cách định nghĩa về Ngân hàng thông qua chức năng, các dịch vụ hoặc
các vai trò mà nó thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên các yếu tố trên đang
không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính như công ty bảo
hiểm, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán,…đều đang cố gắng cung cấp các dịch
vụ của ngân hàng. Bên cạnh đó các ngân hàng cũng đang mở rộng phạm vi
cung ứng dịch vụ về chứng khoán, bất động sản, tham gia các hoạt động về bảo
hiểm, quĩ đầu tư và nhiều loại hình dịch vụ khác.
Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ
tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và
thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế.
1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.2.1. Huy động vốn
Ngân hàng huy động vốn rồi đem cho vay, trong khi đó hoạt động cho
vay là hoạt động cơ bản và đem lại thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng do vậy để
hoạt động có hiệu quả các NHTM phải thực hiện tốt hoạt động huy động vốn.
NHTM huy động vốn bằng các phương thức sau :
- Nhận tiền gửi: Trong bảng cân đối của NHTM thì nguồn tiền gửi
chiếm tỷ trọng lớn nhất và cũng là nguồn quan trọng nhất. Nhận tiền gửi là một
dịch vụ mà ngân hàng cung cấp để bảo quản hộ người gửi tiền với cam kết trả
đúng hạn. Các khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán là một trong
những nguồn tiền quan trọng nhất mà ngân hàng huy động. Ngân hàng trả lãi
cho các khoản tiền gửi này. Lãi suất phụ thuộc vào thời hạn, tiền gửi tiết kiệm
3
hay thanh toán và được quyết định bởi cung cầu tiền gửi trên thị trường tài
chính. Lãi tiền gửi chính là phần thưởng cho sự hy sinh việc tiêu dùng trước
mắt của khách hàng để cho ngân hàng sử dụng vào mục đích kinh doanh của
mình.
- Vay các tổ chức trung gian tài chính khác:
- Phát hành cổ phiêu, trái phiếu
- Vay Ngân hàng nhà nước
1.2.2. Cho vay
Cho vay là một hoạt động sinh lời cao, nó là một hoạt động cơ bản của
ngân hàng. Có nhiều loại hình cho vay bao gồm:
- Cho vay thương mại
Cho vay thương mại là hoạt đông các ngân hàng chiết khấu thương
phiếu. Bản chất của chiết khấu thương phiếu là việc sử dụng trước một số tiền
sẽ nhận đựoc trong tương lai. Người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân
hàng để lấy tiền trước. Sau đó ngân hàng cho vay trực tiếp đối với các khách
hàng (là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản
xuất.
- Cho vay tiêu dùng
Sự gia tăng trong thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh cho vay
đã hướng các ngân hàng tham gia vào lĩnh vực cho vay tiêu dùng. Ngân hàng
cho cá nhân hay hộ gia đình vay để phục vụ cho nhu cầu cá nhân như mua nhà,
ôtô hay tiêu dùng.
- Tài trợ dự án
Ngoài việc cho vay ngắn hạn ngân hàng còn mở rộng lĩnh vực hoạt động
sang tài trợ trung dài hạn: Tài trợ xây dựng nhà máy, phát triển ngành công
nghệ cao.
- Bảo quản tài sản
Ngân hàng nhận giữ hộ khách hàng các tài sản có giá trị cao với nguyên
tắc an toàn bí mật và thuận tiện để thu phí. Các tài sản này chủ yếu là các tài
sản tài chính , giấy tờ câm cố, hoặc những giấy tờ quan trọng của khách hàng.
4
Ngân hàng lưu giữ vàng , giấy tờ có giá của khách trong két của mình. Dịch vụ
bảo quản tài sản hộ còn được gọi là dịch vụ cho thuê két.
1.2.3. Các hoạt động khác
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Ngân hàng không chỉ bảo quản tiền gửi của khách hành mà còn thực
hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thực hiện chi trả thông qua tài khoản
ngân hàng mang lại cho khách hàng nhiều lợi ích như thanh toán nhanh, chính
xác tiết kiệm chi phí và an toàn, góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và
nâng cao thu nhập cho khách hàng. Phạm vi thanh toán qua ngân hàng càng
được mở rộng khi ngân hàng mở rộng thêm nhiều chi nhánh. Việc cung cấp
các tài khoản giao dịch của ngân hàng góp phần nâng cao hoạt động thanh toán
không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Cùng với sự phát triển của công nghệ
thông tin ngân hàng đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng điện
thoại, thẻ ATM... bên cạnh các hình thức thanh toán truyền thống như ủy
nhiệm thu, ủy nhiệm chi, L/C, séc....
- Quản lý ngân quỹ
Quản lý ngân quỹ là việc ngân hàng thay mặt khách hàng ( là các công
ty kinh doanh) quản ly việc thu chi của họ nhờ kinh nghiệm trong việc quản lý
ngân quỹ của mình. Khi có thặng dư tiền mặt tạm thời ngân hàng đầu tư vào
trứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt
để thanh toán.
- Tài trợ các hoạt động của Chính phủ
Để được phép thành lập các ngân hàng phải đáp ứng một số điều kiện
của chính phủ như phải mua trái phiếu cảu chính phủ theo một tỷ lệ nhất định
trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động. Do nhu cầu chi tiêu thường
rất lớn và cấp bách của mình mà chính phủ tìm đến các ngân hàng.
- Bảo lãnh
Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo kãnh ngày càng đa dạng và
phát triển mạnh. Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho khách hàng rất
lớn, hơn nữa vói tiềm lực tài chính của mình nên ngân hang rất có uy tín trong
5
nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách
hàng của mình trong việc mua bán chịu hành hóa thiêt bị, phát hành chứng
khoán , vay vốn...
- Cho thuê các thiết bị trung và dài hạn
Nhu cầu thuê các tài sản chủ yếu là máy móc thiết bị đang tăng nhanh.
Ngân hàng cung cấp dịch vụ cho thuê các thiết bị máy móc (thường có giá trị
lớn) thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị cho khách
hàng thuê với điều kiện khách hàng phải trử tới hơn 70% hoặc 100% giá trị của
tài sản cho thuê. Do vậy cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như
cho vay và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.
- Cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều
chuyên gia về lĩnh vực tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã
nhờ ngân hàng quản lý hộ tài sản và tài chính. Với kinh nghiệm, sự thông thạo
trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng được coi như một chuyên gia về tư vấn
tài chính. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, về thành lập,
mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.
- Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các ngân hàng đang cố gắng cung
cấp một danh mục tài chính cho phép khách hàng thỏa mãn mọi nhu cầu. Đây
là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng cung cấp dịch vụ môi giới
đầu tư chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu
và chứng khoán khác. Hiện nay một số ngân hàng còn thành lập riêng một
công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới đầu tư chứng khoán để cung cấp
dịch vụ môi giới cho khách hàng.
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm
Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều
đó bảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng gặp rủi ro như chết, tàn
phế, mất khả năng thanh toán.
- Cung cấp các dịch vụ đại lý
6
Nhiều ngân hàng trong quá trình không thể thiét lập chi nhánh hoặc văn
phòng rộng rãi. Nhu cầu thanh toán trên phạm vi rông đã khiến các ngân hàng (
thường là các ngân hàng nhỏ) sử dụng dịch vụ ngân hàng đại lý của các ngân
hàng lớn. Dịch vụ ngân hàng đại lý bao gồm việc thanh toán hộ,phát hành hộ
các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
2. Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng (RRTD) tại NHTM
2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất mà ngân hàng phải chịu do
khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và
lãi.
Họat đông tín dụng là hoạt đông quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất
của ngân hàng thương mại. Trong mọi hoạt đông nói chung đều gắn liền với rủi
ro, hoạt động tín dụng cũng vậy, luôn gắn liền với RRTD.Nhà quản lý ngân
hàng nào cũng muốn ngân hàng mình không gặp phải rủi ro, do vậy khi thực
hiện một hoạt động tài trọ cụ thể, các ngân hàng luôn tiến hành các hoạt đông
phân tích các yếu tố của người vay. Ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi rủi
ro không xảy ra. Tuy nhiên không thể giảm thiểu hết rủi ro mà chỉ hạn chế nó
đến một mức nhất định. Xác định được mức rủi ro dự kiến, thực hiện quản lý
rủi ro sao cho hạn chế đến mức cho phép rủi ro là một thành công của ngân
hàng. Khi đó haọt động quản lý RRTD được coi là có hiệu quả.
2.2. Những nguyên nhân và dấu hiệu phản ánh RRTD
Quản lý rủi ro tín dụng cần xác định những nguyên nhân cụ thể, chính
xác nguyên nhân gây ra rủi ro để có biện pháp hạn chế. Có rất nhiều nguyên
nhân gây ra rủi ro tín dụng, trong đó được chia ra làm ba loại sau:
2.2.1. Những nguyên nhân bất khả kháng
Có nhiều nguyên nhân bất khả kháng có làm cho khách hàng lâm vào
tình trạng khó khăn và dẫn tới không thể trả nợ cho Ngân hàng. Ví dụ: Thiên
tai, chiến tranh, những biến động về chính trị xã hội….
Những thay đổi này thường xuyên diễn ra có thể tạo điều kiện cho
những người vay có khả năng phân tích thị trường chớp thời cơ để kinh doanh
7
thu lợi nhuận cao, hoặc cũng có thể đưa người vay vào tình trạng không thể trả
nợ. Tuy nhiên có nhiều trường hợp người vay bị tổn thất xong vẫn thực hiện
nghĩa vụ trả nợ. Thông thường tổn thất mà người vay gặp phải càng cao thì khả
năng trả nợ của họ càng thấp.
2.2.2. Những nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay
Trong hoạt động tín dụng rất nhiều người vay sẵn sàng chấp nhận mạo
hiểm với kì vọng thu được lợi nhuận cao. Trong khi Ngân hàng luôn thận trọng
với những khoản cho vay của mình do vậy để đạt được mục đích nhiều khách
hàng đã tìm mọi thủ đoạn ứng phó với Ngân hàng như cung cấp thông tin sai,
mua chuộc. Bên cạnh đó có thể người vay không tính toán kỹ lưỡng hoặc
không có khả năng phân tích kỹ lưỡng những khó khăn có thể xảy ra hoặc
không có những khả năng thích ứng với những khó khăn trong kinh doanh.
Cũng có nhiều trường hợp khách hàng kinh doanh có hiệu quả những lại cố
tình không trả nợ.
Như vậy có thể kết luận, trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán
các vấn đề kinh doanh, trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ tín dụng hay
thiếu thiện trí trả nợ là những nguyên nhân gây ra RRTD.
2.2.3. Nguyên nhân do rủi ro đạo đức cán bộ ngân hàng
Chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc
đánh giá không tốt, cố tình làm sai ...là một trong những nguyên nhân gây ra
rủi ro tín dụng. Khách hàng của ngân hàng rất đa dạng, họ hoạt động trên nhiều
lĩnh vực ở nhièu vùng khách nhau, với phong tục tập quán khác nhau. Để
khoản cho vay an toàn cao, nhân viên ngân hàng phải am hiểu khách hàng, do
đó đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải có sự hiểu biết xâu rộng, trên nhiều lĩnh
vực, đồng thời phải có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến người vay.
Nếu nhân viên ngân hàng không đủ trình độ để hiểu kĩ lưỡng khách hàng khi
cho vay thì rủi ro tín dụng rất dẽ xảy ra. Bên cạnh đó việc sống trong môi
trường tiền bạc nhiều nhân viên ngân hàng không tránh được sự cám dỗ của
đồng tiền. Họ tiếp tay cho khách hàng rút ruột ngân hàng.
8
2.2.4. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
Tuy rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi nhưng ngân hàng phải quản
lý rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra.
Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, ngân hàng cụ thể hóa thành
những dấu hiệu phát sinh trong hoạt động tín dụng, phản ánh rủi ro tín dụng:
* Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, bao gồm:
- Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ, tỷ lệ nợ khó đòi trên nợ
quá hạn. Nợ khó đòi là nợ quá hạn có khả năng thu hồi thấp, ảnh hưởng đến
nguy cơ mất vốn của ngân hàng.
- Nợ quá hạn thông thường (có khả năng thu hồi cao)
- Tốc độ tăng giảm của các chỉ tiêu trên
* Nợ có vấn đề (có khả năng trở thành nợ quá hạn)
* Tình hình tài chính và phương án của người vay (các yếu tố của người
vay)
* Đảm bảo tiền vay
* Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng
3. Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
3.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Quản lý rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để kiểm
soát hoạt động tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng, giảm
thiểu sự tổn thất, giúp Ngân hàng tránh tình trạng đổ vỡ.
3.2 Hoạt động quản lý rủi ro tín dụng cơ bản
3.2.1. Phân loại đánh giá rủi ro _ Phân loại rủi ro theo chất lượng khoản
vay
Việc xếp hạng chất lượng khoản vay được thực hiện cho tất cả các khách
hàng. Dựa vào việc xếp hạng này ngân hàng có điều kiện theo dõi và đánh giá
cấp độ rủi ro trong từng trường hợp và từ đó phân tích, đưa ra các biện pháp
khắc phục xử lý kịp thời. Phân loại rủi ro theo chất lượng khoản vay được chia
thành 7 nhóm với 2 yếu tố định tính và yếu tố định lượng.Việc phân loại khoản
vay được thực hiện ngay sau khi xuất hiện khoản vay.
9
Yếu tố
Nhóm
Định tính Định lượng
- Khách hàng có tiềm lực mạnh, năng
lực quản trị tốt, hoạt động hiệu quả,
Nhóm I
triển vọng phát triển, thiện trí trả nợ
(Chất Khách hàng được
tốt và vững chắc.
lượng xếp nhóm A*,A
- Luồng tiền mặt > các khoản công nợ
cao)
- Có đầy đủ tài sản đảm bảo cần thiết
cho khoản vay
- Khách hàng có thể bị hạn chế về các
nguồn tài trợ nhưng nhìn chung được
coi là những đối tượng hấp dẫn đối
Nhóm II
với ngân hàng Khách hàng được
(Chất
- Thực hiện tốt các nghĩa vụ trả nợ, trả xếp nhóm A*, A, B
lượng tốt)
lãi đúng hạn.
- Có đủ tài sản đảm bảo cho khoản
vay.
- Chưa đáp ứng đủ yêu cầu về tài sản
đảm bảo, tuy nhiên, tất cả các tài sản
đảm bảo của khách hàng này có thể
chuyển đổi được để thanh toán để
thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ tài
chính thông qua thanh lý.
Nhóm III
- Dòng tiền thu được từ hoạt động sản
(chất Khách hàng được
xuất kinh doanh chính đủ để đáp ứng
lượng đạt xếp nhóm A, B
nhu cầu hoàn trả các nghĩa vụ tài
yêu cầu)
chính đã xác định rõ, mặc dù có dấu
hiệu cho thấy phải trông chờ vào các
nguồn thu nhập khác trong trường
hợp khẩn cấp.
- Dư nợ lớn hơn so với giá trị thuần
của người vay vốn.
- Xuất hiện một số khoản mục tín
Nhóm IV dụng quá hạn trả nợ gốc hoặc lãi từ 10
đến 30 ngày. Khách hàng được
(Cần theo
- Có dấu hiệu gặp khó khăn trong xếp nhóm C, D
dõi)
ngành sản xuất kinh doanh mà khách
10
hàng đang tham gia. Có dấu hiệu tài
chính không tốt, như thất thoát trong
kinh doanh.
- Khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài
chính đối với ngân hàng phụ thuọcc
vào tính thanh khoản của tài sản cố
định.
- Thiếu các thông tin tài chính
- Khoản vay phải gia hạn do khách
hàng tạm thời chưa trả được nợ.
- Tài sản đảm bảo chưa đủ cho khoản
vay.
Nhóm khách hàng này có các khoản
vay quá hạn trả nợ gốc và lãi vay từ 1
đến 3 tháng.
- Mặc dù chưa thể dự đoán chính xác
Nhóm V
các thất thoát từ những khoản tín
(Kém Khách hàng được
dụng này nhưng những yếu kém phát
chất xếp nhóm C, D, E
sinh khó có thể khắc phục như các xu
lượng)
hướng tài chính ngày càng có dấu
hiệu xấu đi.
- Tài sản đảm bảo không đủ cho
khoản vay.
- Khách hàng qua hạn trả nợ gốc và
lãi trên 3 tháng.
- Khoản tín dụng có thể bị thất thoát
Nhóm VI lãi, thậm chí có thể mất một phần nợ Khách hàng được
(Khó đòi) gốc nhưng vãn có thể hy vọng thu hồi xếp nhóm D, E
nợ thông qua xử lý TSĐB.
- Tài sản đảm bảo không đủ cho
khoản vay
Nhóm - Khách hàng hoàn toàn không có khả Khách hàng được
VII (Mất năng trả được nợ. xếp nhóm E, F
vốn) - Việc thu hồi chỉ có thể thực hiện
thông qua giải pháp duy nhất là xử lý
tài sản đảm bảo bằng các vụ kiện
pháp lý, xong khả năng thu hồi là rất
11
ít.
3.2.2. Nhận diện rủi ro qua các dấu hiệu cảnh báo và xác định vấn đề
Nhận diện rủi ro qua đó có những giải pháp tối ưu giúp ngân hàng ngăn
ngừa và xử lý các khoản tín dụng có vấn đề là khâu quan trọng trong quản lý
rủi ro tín dụng. Sau khi khoản vay phát sinh và được phân loại, cán bộ tín dụng
luôn phải theo dõi, giám sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu
hiệu cảnh báo sau:
a/ Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng:
* Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng
Biểu hiện cụ thể:
- Trì hoãn gây khó khăn, trở ngại đối với ngâng hàngtrong quá trình
kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính,
hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích minh
bạch, thuyết phục;
- Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các qui định, vi phạm pháp luật
trong quá trình quan hệ tín dụng.
- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà
không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục.
- Không có báo cáo hay dự đoán về lưu chuyển tiền tệ.
- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần mà không có lý do
thuyết phục.
- Sự giảm sút bất thường của tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng.
- Chậm thanh toán các khoản trả lãi khi đến hạn ;
- Thanh toán các nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn.
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá
nhu cầu dự kiến;
- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị giảm sút so với khi định
giá để cho vay. Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác thuê, bán hay trao đổi.
12
- Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất
thường khác, không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính..
- Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn
khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của Ngân hàng;
- Chấp nhận sử dụng các nguồn vay với giá cao, đi kèm với nhiều điều
kiện.
* Nhóm các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quan lý, tình hình
tài chính và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Nhóm dấu hiệu này khó nhận biết nếu cán bộ tín dụng không quản lý
giám sát khoản vay một cách chặt chẽ. Nó cũng đòi hỏi các giải pháp xử lý
mang tính dài hạn hơn. Nhóm dấu hiệu này cũng có tác động trực tiếp tới chất
lượng khoản vay. Các dấu hiệu bao gồm:
- Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự
kiến khi khách hàng đề nghị cung cấp tín dụng;
- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ
hoạt động của khách hàng;
- Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí bất hợp lý;
- Ban lãnh đạo thường xuyên thay đổi cơ cấu tổ chức; xuất hiện bất đồng
và mâu thuẫn trong quản trị điều hành,tranh chấp trong qua trình quản lý.
- Có dấu hiệu phát hiện quá trình khảo sát, thẩm định dự án đầu tư không
đúng dẫn đến việc đầu tư không có hiệu quả.
- Do áp lực nội bộ dẫn tới tung ra thị trường các sản phẩm dịch vụ quá
sớm khi chưa hội đủ các điều kiện chín muồi hoặc đặt ra các hạn mức thời hạn
kinh doanh, doanh số không thực tế.
- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm dịch vụ mới;
- Những thay đổi trong chính sách của nhà nươc, của chính phủ tác
động tới chính sách thuế, xuất nhập khẩu;
b/Nhóm các dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của ngân
hàng.
13
Nhóm dấu hiệu này yêu cầu Ngân hàng phải thực hiện tốt công tác kiểm
tra, kiểm soát nội bộ, cụ thể bao gồm:
- Trang quá trình đánh giá khách hàng, Ngân hàng đã đánh giá không
đúng về mức độ rủi ro, khả năng tài chính của khách hàng;
- Cấp tín dụng dựa trên các cam kết không chắc chắn và thiếu tính bảo
đảm của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do
khách hàng đem lại từ khoản tín dụng dựoc cấp;
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực
kiểm soát cũng như nguồn vốn của Ngân hàng;
- Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng hạn như
sáp nhập, thay đổi địa vị pháp lý của công ty;
- Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ,
không rõ ràng; không xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay; có ý
thỏa hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có tiềm ẩn rủi
ro;
- Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hay lỏng lẻo để kẽ hở cho khách
hàng lợi dụng;
- Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không phụ
thuộc phân đoạn thị trường tối ưu của Ngân hàng;
- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy
đủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng;
- Có khuynh hướng cạnh tranh thái quá: giảm thấp lãi suất cho vay, phí
dịch vụ hay thực hiện chiến lược “giữ chân” khách hàng bằng các khoản tín
dụng mới để họ không quan hệ với các TCTD khác mặc dù biết rõ các khoản
tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn rủi ro cao;
c/ Xác định mức độ vấn đề
Khi phát hiện thấy các dấu hiệu phát sinh rủi ro, cán bộ tín dụng phải
tiến hành ngay các bươc xác định mức độ nghiêm trọng của nó và nguyên nhân
gây ra rủi ro, đồng thời phải phân loại ngay chất lượng khoản vay.
Xác định nguyên nhân:
14
Ngân hàng phải nghiêm túc xác định rõ nguyên nhân gây nên xự xuống
hạng của khoản vay.
* Nguyên nhân do thông tin lừa đảo
Khi các ngân hàng phat hiện ra khách hàng có thông không rõ ràng, gian
dối thì chắc chắn đang tồn tại một vấn đề nghiêm trọng. Ngân hàng phải xác
minh ngay mối quan hệ giữa khách hàng và chủ nợ bao gồm số tiền, các điều
kiện nợ nần, tài sản thế chấp và điều kiện hoàn trả. Đặc biệt không được tiết lộ
các thông tin về chủ nợ cho các chủ nợ khác.
* Nguyên nhân do khách hàng không chịu hợp tác.
Nếu mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng xấu đi, khách hàng
không chịu hợp tác, không cung cấp các báo cáo tài chính... đây là dấu hiệu
cảnh báo sự nguy hiểm. Ngân hàng cần phải làm sáng tỏ vấn đề, nếu thật sụ
xuống cấp về tài chính của khách hàng thì ngân hàng phải khôn khéo tế nhị thu
hồi tối đa khoản nợ.
* Nguyên nhân do suy thoái kinh tế hoặc rủi ro thị trường
Nếu khoản vay có nguy cơ rủi ro do bị mất thị trường hoặc do nền kinh
tế bị suy thoái thì ngân hàng phải kịp thời xem xét ngay tình hình tài chính của
doanh nghiệp và tài sản thế chấp là yếu tố quan trọng đến an toàn cho khoản
vay
* Nguyên nhân do bất khả kháng, do hỏa hoạn, thiên tai, dịch bệnh,
chiến tranh.
* Nguyên nhân do trình độ, năng lực quản lý yếu kém, thiếu trách
nhiệm, mất phẩm chất của cán bộ tín dụng.
*Nguyên nhân do sự thay đổi về chính sách cơ chế nhà nước.
3.2.3. Biện pháp phòng ngừa, khắc phục và xử lý đối với các nhóm dấu hiệu
rủi ro
a/ Biện pháp phòng ngừa
Khi hoạt động kinh doanh của khách hàng xuất các dấu hiệu cảnh báo có
nguy cơ phát sinh rủi ro do bất cứ một nguyên nhân nào, để phòng ngừa rủi ro
có thể xảy ra, trước hết ngân hàng phải thực hiện các biện pháp kiểm tra giám
15
sát bắt buộc. Về nguyên tắc, tất cả các khoản vay có dấu hiệu rủi ro sau khi rà
soát bị xếp xuống hạng đều phải được đặt trong tình trạng theo dõi đặc biệt.
Trong tất cả các trường hợp nếu khoản vay bị xuống hạng, ngân hàng
phải xem xét, lựa chọn các biện pháp phòng ngừa.
* Quản lý giám sát khoản vay
Thực hiện ngay việc giám sát và thu thập các báo cáo tài chính mới nhất
của khách hàng cũng như các thông tin về tình hình tài chính và các thông tin
khác có liên quan của khách hàng để có thể giám sát khoản vay một cách chặt
chẽ.
* Rà soát và xem xét lại tài sản đảm bảo nợ vay của khách hàng.
Trong trường hợp khoản vay bị đánh gia xuống hạng, ngân hàng phải rà
soát và đánh giá lại ngay tài sản đảm bảo của khách hàng, việc đánh giá lại tài
sản đảm bảo của khách hàng phải đảm bảo thực tế và thận trọng. Ngân hàng
cần xem xét đánh giá liệu tài sản bảo đảm này có bán được trong điều kiện
kinh doanh bình thường thì như thế nào và bán trong điều kiện kinh doanh
không bình thường thì như thế nào?
* Hoàn thiện hồ sơ pháp lý
Ngân hàng cần rà soát lại ngay hồ sơ pháp lý khoản vay, trong trường
hợp hồ sơ pháp lý chưa chặt chẽ hoặc cần phải bổ sung. Ngân hàng phải bổ
sung đầy đủ một cách tối đa.
b/ Biện pháp khắc phục
Khi các khoản nợ bị xuống hạng. Có thể sự dụng các biện pháp khắc
phục sau:
* Yêu cầu bổ sung tài sản đảm bảo nợ vay
Ngay khi khoản vay có nguy cơ rủi ro cao, ngân hàng phải tìm mọi cách
để tăng thêm tài sản thế chấp, các báo cáo tài chính và các thông tin khác của
doanh nghiệp phải được kiểm tra kỹ để xác định có thể bổ sung thêm tài sản
thế chấp. Cần xác định tài sản thế chấp có thể bán được hoặc chuyển đổi ngay
sang tiền mặt mà không ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh
của con nợ.
16
* Xác định phương án cơ cấu nợ
Biện pháp này được áp dụng cho các khách hàng được quyết định tiếp
tục duy trì mối quan hệ tín dụng. Khi ngân hàng quyết định duy trì mối quan hệ
tín dụng với khách hàng này bằng biện pháp cơ cấu lại nợ thì khoản nợ phải
được giảm sát chặt chẽ. Người vay phải chứng minh được khả năng hoàn trả lãi
và gốc khi đến hạn sau khi được cơ cấu lại nợ thì ngân hàng mới có thế cho cơ
cấu lại. Ngân hàng phải phân tích và quyết định cho khách hàng cơ cấu lại nợ
để đi đến quyết định theo hướng điều chỉnh nợ, giãn nợ, gia hạn nợ. Chỉ được
phép cho cơ cấu lại nợ khi đã nghiên cứu kỹ.
* Thu hồi nợ
Khi đã rà soát và kết luận khoản vay không thể phục hồi được thì ngân
hàng phải quyết định chiến lược thu hồi nợ, nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Tận thu hồi vốn, nhưng giữ thời gian thu hồi vốn ở mức tối thiểu.
- Giảm thiểu chi phí phát sinh trong thu hồi nợ.
- Giảm thiểu sự phản ứng của khách hàng.
c/ Biện pháp xử lý
Khi khoản vay được đánh giá là kém chất lượng, khó đòi, có khả năng
mất vốn ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp xử lý sau:
* Phát mại tài sản
Ngân hàng nên cố gắng thuyết phục khách hàng tự nguyện bán tài sản
của mình. Nếu khách hàng không có thiện trí thì ngân hàng sẽ tiến hành bán tài
sản cầm cố thế chấp theo sự giám sát và phán quyết của cơ quan pháp luật.
* Trả nợ thay
Yêu cầu bên bảo lãnh trả nợ thay cho khách hàng vay vốn.
* Khởi kiện
Trong trường hợp cần khởi kiện, ngân hàng phải khẩn trương hoàn thiện
ngay các thủ tục pháp lý cần thiết để khởi kiện khách hàng.
* Bán nợ
Bán toàn bộ doanh nghiệp hoặc một phần doanh nghiệp: một trong
những quyết định quan trọng là liệu có thể có những chủ sở hữu mới có thể
17
chuyển đổi doanh nghiệp để làm ăn có lãi . Tuy vào trường hợp cụ thể, có thể
áp dụng bán toàn bộ doanh nghiệp hay một phần doanh nghiệp.
* Các biện pháp khuyến khích trả nợ
Miễn giảm một phần lãi suất, tính lại lãi, không tính lãi phạt... áp dụng
cho các khách hàng có thiện chí trả nợ gốc.
* Xử lý bằng quỹ dự phòng rủi ro
Biện pháp này được áp dụng khi đối với các khoản nợ xấu, sau khi ngân
hàng đã áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết mà không thu hồi được nợ, hoặc
các khoản nợ đã phát mại hết tài sản nhưng vẫn còn chênh lệch âm(-) ( cả gốc
và lãi) hoặc các khoản vay bị rủi ro nguyên nhân khách quan mà không thể
khắc phục được.
Sử dụng quỹ dự phòng để bù dắp những khoản rủi ro tín dụng xảy ra làm
lành mạnh hóa tài chính của ngân hàng chứ không có nghĩa là xóa toàn bộ nợ
vay cho khách hàng. Những khoản vay có rủi ro sau khi được bù đắp bằng quĩ
dự phòng rủi ro sẽ được chuyển ra ngoại bảng để theo dõi tận thu, ngân hàng
vẫn phải dùng các biện pháp khắc phục và xử lý để thu hồi nợ.
* Biện pháp đối với cán bộ ngân hàng, các bộ phận liên quan trong
ngân hàng
Nhóm dấu hiệu này liên quan nhiều đến yếu tố chủ quan từ phía ngân
hàng. Ngoài các biện pháp khắc phục xử lý nêu trên, dựa trên mức độ rủi ro và
thiếu sót từ phía cán bộ mà ngân hàng lựa chọn mức độ xử lý.
3.3. Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng
3.3.1. Khái niệm
Hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng là những kết quả đạt được trên cơ sở đã
thực hiện đầy đủ và đúng đắn các biện pháp nghiệp vụ trong hoạt động quản lý
rủi ro tín dụng _ là những hoạt động đã nêu trong phần 1.3.2. Kết quả này bao
gồm:
 Việc phân lọai khách hàng đúng thực tế. Cho vay đúng đối tượng.
 Xác định được các dấu hiệu một cách đầy đủ và toàn diện.
18
 Các biện pháp khắc phục xử lý giúp giảm thiểu tổn thất của Ngân
hàng.
Đối với các ngân hàng khác nhau, môi trường kinh doanh, thời kỳ khác
nhau, chuẩn mực về hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng là không giống nhau.
Quản lý được coi là có hiệu quả khi ngân hàng giảm thiểu được rủi ro và tổn
thất đến mức nhỏ hơn hoặc bằng mức dự kiến.
Hiệu quả RRTD được thể hiện qua các chỉ tiêu bao gồm chỉ tiêu định
tính và định lượng. Trong bất kỳ một hoạt động nào, yếu tố hiệu quả là yêu tố
quan trọng nhất. Hiệu quả chính là sự so sánh giữa kết quả đạt được của một
hoạt động với các chuẩn mực. Chuẩn mực là những kết quả đã được tính toán
một cách khoa học, nó là kết quả tôt nhất của một hoạt động với một số lượng
nhất định về thời gian, chí phí, và các nguồn lực khác. Như vậy quản lý RRTD
có hiệu quả khi kết quả của nó đạt đựơc là chuẩn mực.
3.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng
- Các chỉ tiêu định lượng
 Dư nợ tăng và tỷ lệ nợ xấu, trên tổng dư nợ nhỏ hơn hoặc bằng mức
dự kiến cho phép hoặc có xu hướng giảm.
Công thức: gọi R là tỷ lệ mà Ngân hàng đã dự kiến, nó là mức cao nhất
mà Ngân hàng có thể chấp nhận được.
Quản lý RRTD được coi là có hiệu quả khi:
TDN tăng và:
+ Tỷ lệ nợ xấu / TDN <= R.
+ Tỷ lệ nợ xấu / TDN giảm so với những năm trước
Nợ xấu là những khoản nợ có khả năng mất vốn rất cao, nợ xấu càng
nhiều thì nguy cơ mất vốn của Ngân hàng càng cao dẫn đến sự tổn thất sẽ rất
lớn. Hiện nay theo cách phân loại nợ xấu trong quyết định 493 của Ngân hàng
nhà nước, thì những khoản nợ được xếp từ nhóm 2 đến nhóm 5 là nợ xấu, bao
gồm các khoản NQH từ 90 ngày trở lên. Như vậy chỉ tiêu nợ xấu là chỉ tiêu
định lượng quan trọng phản ánh RRTD tại các NHTM và khi tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ giảm trong khi tổng dư nợ tăng thì hoạt động quản lý RRTD của
19
NHTM được coi là có hiệu quả.Trong thời gian trước khi có quyết định 493 về
phân loại nợ xấu thì NQH được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh RRTD
tại các NHTM.
 Dư nợ tăng và nợ khó đòi (nợ có khả năng trở thành nợ xấu ) trên
tổng dư nợ nhỏ hơn mức dự kiến hoặc có xu hướng giảm.
Bên cạnh chỉ tiêu nợ xấu và nợ quá hạn, chỉ tiêu nợ có vấn đề cũng là
một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá RRTD. Nợ có vấn đề là những khoản nợ có
khả năng trở thánh nợ xấu, mặc dù chưa đến thời hạn phải trả lãi hoặc gốc
nhưng cán bộ tín dụng dựa vào những thông tin thu thập được từ khách hàng
để đánh giá khả năng xáy ra RRTD đối với khoản nợ đó là cao.
Tỷ lệ nợ có vấn đề trên nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả
quản lý RRTD, vì nó cho thấy khả năng xác định mức độ rủi ro và đưa ra các
biện pháp giải quyết trong họat động quản lý RRTD có hiệu quả không. Khi tỷ
lệ này có xu hướng giảm có nghĩa là quản lý RRTD có hiệu quả.
- Các chỉ tiêu định tính
 Chỉ tiêu định tính quan trọng nhất trong hoạt động quản lý RRTD đó
là sự phản ánh một cách chính xác và trung thực thực trạng RRTD cũng như
những kết quả đạt được. Chỉ tiêu này rất khó đánh giá và muốn đánh giá
chính xác chỉ tiêu này phải đánh giá cả một quá trình thực hiện hoạt động
tín dụng. Bao gồm việc đánh giá quy trình tín dụng, cán bộ tín dụng, quá
trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ, và dựa vào kết quả thực tế mà các Ngân
hàng khác và cả hệ thống Ngân hàng đạt được trong hoạt động quản lý
RRTD.
 Chỉ tiêu định tính thứ hai chính là những kinh nghiệm và những bài
học rút ra trong hoạt động quản lý RRTD.Qua mỗi thời kỳ, sự nâng cao
nhận thức về tầm quan trọng trong hoạt động quản lý RRTD của cán bộ tín
dụng nói riêng và toàn thể cán bộ Ngân hàng nói chung là một trong những
kết quả tích cực, nhất là đối với hệ thống Ngân hàng thương mại quốc
doanh nơi mà hoạt động quản lý RRTD chưa thực sự có hiệu quả cao.
3.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rủi ro tín dụng
20