Nâng cao hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại habubank chi nhánh cầu giấy

  • 64 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của chuyên đề
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ kéo theo tất cả các
ngành kinh tế phát triển. Đi tiên phong trong đó là ngành ngân hàng tài chính.
Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, ngành ngân hàng đang đóng vai trò
quan trọng trong kết quả đạt được của cả đất nước. Vì vậy hiệu quả trong tất cả
các hoạt động của ngân hàng được cả nước quan tâm.
Đối với ngân hàng thì hoạt động cho vay là quan trong nhất vì nó mang
lại thu nhập cao nhất cho ngân hàng. Ngân hàng cho vay đối với doanh nghiệp
nhà nước, công ty cổ phần, công ty tư nhân,…Khách hàng truyền thống của các
ngân hàng Việt Nam là các doanh nghiệp. Tuy nhiên với điều kiện kinh tế phát
triển cá nhân ngày càng tham gia nhiều vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong khi đó cá nhân không thể huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu như
doanh nghiệp, vốn tự có nhỏ, vay mượn ngoài thường chịu mức lãi suất cao.
Hơn nữa pháp luật đang khuyến khích các ngân hàng mở rộng hoạt động, cho
phép ngân hàng mới được thành lập, mở rộng dần phạm vi hoạt động của ngân
hàng nước ngoài, vì vậy các ngân hàng đang cạnh nhau quyết liệt để dành thị
phần. Vì vậy cho vay khách hàng cá nhân là tất yếu và là xu hướng phát triển
chung của cả hệ thống ngân hàng. Khách hàng tư nhân đã và đang là mảng
khách hàng tiềm năng, được nhiều ngân hàng chú trọng khai thác. Tuy nhiên để
đạt được hiệu quả cao nhất cho các khoản vay cá nhân không phải ngân hàng
nào cũng làm tốt. Vì vậy nghiên cứu và đưa giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
cho vay đối với khách hàng cá nhân là việc làm thiết thực và có ý nghĩ không
chỉ với chi nhánh Cầu Giấy mà còn có ý nghĩ đối với toàn Habubank.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu của đề tài, chuyên đề chọn đối tượng và phạm vi
nghiên cứu không phải tất cả các chủ thể trong quan hệ cho vay với ngân hàng
mà chỉ tập trung vào đối tượng cụ thể là khách hàng cá nhân. Mặt khác cũng chỉ
đề cập đến hoạt động cho vay đối với đối tượng này.
Việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu này phù hợp và có ý nghĩ
về nhiều mặt. Khi nền kinh tế phát triển thì hoạt động cho vay của khách hàng
cá nhân cũng phát triển theo. Và đây là đối tượng tiềm năng mà ngân hàng cần
quan tâm hơn nữa.
3. Phương pháp nghiên cứu
Tuân thủ và theo đuổi tính khoa học, thực tế và khách quan, bài viết sử
dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử coi đó như là một
phương pháp thích hợp và cần thiết. Khi đặt đối tượng vào trạng thái luôn vận
động và có quan hệ tác động qua lại với các lĩnh vực khác cũng đang ở trong
trạng thái vận động như thế. Sử dụng phương pháp nghiên cứu này, bài viết đi từ
cơ sở lý thuyết rồi đề cập đến những gì đang diễn ra ở thực tế và đúc rút ra
những biện pháp thích hợp.
4. Nội dung và kết cấu của đề tài
Đề tài nghiên cứu của chuyên đề là “Nâng cao hiệu quả cho vay khách
hàng cá nhân tại Habubank_ Chi nhánh Cầu Giấy”. Nội dung chính của đề tài
là tìm hiểu các vấn đề liên quan đến hiệu quả cho vay của khách hàng cá nhân
tại ngân hàng, và đưa ra những giải pháp cơ bản nhằn nâng cao hiệu quả của
hoạt động này.
Ngoài lời mở đầu và kết luận cùng phụ lục liên quan, thì đề tài có kết cấu
gồm ba chương.
- Chương I: Lý luận chung về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
- Chương II: Thực trạng về hiệu quả cho vay khách hàng cá nhân tại
Habubank_Chi nhánh Cầu Giấy.
- Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả cho vay
của Habubank_ Chi nhánh Cầu Giấy.
Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm chung về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Với lịch sử hình thành và phát triển lâu đời ngân hàng đã và đang đóng một
vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Nó là đòn bẩy để kinh tế phát triển và là
công cụ đắc lực cho sự quản lý của chính phủ. Ngân hàng hoạt động với chức
năng chính là: là trung gian tài chính, tạo phương tiện thanh toán, và là trung
gian thanh toán. Trong đó chức năng tạo ra phương tiện thanh toán là nổi trội và
khác biệt hơn cả. Khi gửi tiền vào ngân hàng, khách hàng có thể thực hiện thanh
toán trên số dư tiền gửi đó. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và
dịch vụ. Do đó bằng việc cho vay các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh
toán.
Để hiểu rõ về hoạt động cho vay của ngân hàng cần phải phân biệt giữa
khái niệm đầu tư và cho vay. Theo nghĩa rộng cho vay là một hoạt động tín
dụng và là một trong những hoạt động đầu tư. Cho vay là việc người có tiền
giao cho người cần tiền một số tiền nhất định với điều kiện phải trả gốc và lãi
theo đúng thời hạn đã định. Đầu tư là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại với kì vọng
thu được nhiều hơn trong tương lai. Cho vay và đầu tư theo hoạt động của
ngân hàng có những đặc điểm khác biệt. Hoạt động cho vay là hoạt động trực
diện với khách hàng thông qua các cuộc thương lượng. Còn trong hoạt động
đầu tư thì bản thân ngân hàng lựa chọn một loạt các danh mục chứng khoán
với kì hạn định sẵn. Trong hoạt động cho vay người khởi xướng giao dịch là
khách hàng, còn hoạt động đầu tư sẽ do ngân hàng chủ động khởi xướng. Một
điểm khác biệt nữa là đối với hoạt động cho vay thì ngân hàng là một trong vài
chủ nợ của người vay, còn đầu tư thì ngân hàng là một trong rất nhiều chủ nợ.
Theo Điều 3 quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN thì “ Cho vay là một hình
thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một
khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắt có hoàn trả cả gốc và lãi ”. Hoạt động cho vay của ngân hàng gồm:
cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu thương phiếu. Cho vay là một
hình thức cơ bản của hoạt động tín dụng. Ngân hàng nào hoạt động cũng có hình
thức cho vay. Ngân hàng trực tiếp giao tiền hoặc giao qua tài khoản cho khách
hàng sử dụng số tiền vay đó. Khách hàng sau khi vay tiền không được tùy ý sử
dụng mà phải sử dụng theo đúng mục đích và thời gian nhất định. Mục đích sử
dụng tiền và thời gian sử dụng đã được ngân hàng và khách hàng cùng thống
nhất thông qua và được ký kết thành hợp đồng. Theo hợp đồng được ký kết
ngân hàng phải cung cấp tiền cho khách hàng đủ và đúng thời gian quy định, và
theo đó khách hàng phải đảm bảo trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn.
Khách hàng muốn vay vốn của bất kì ngân hàng nào cũng phải thỏa mãn
những điều kiện pháp luật quy định. Trước hết khách hàng phải có năng lực
pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sư và chịu trách nhiệm dân sự theo quy
định của pháp luật. Điều này sẽ giúp ngân hàng sàng lọc được khách hàng tốt
cho mình, và hơn thế nữa ngân hàng sẽ được pháp luật bảo vệ lợi ích khi khách
hàng không thực hiện đúng hợp đồng. Mục đích sử dụng vốn vay của ngân hàng
phải hợp với pháp luật. Tức là khách hàng không được sử dụng vốn vay để kinh
doanh hàng hóa mà pháp luật cấm, không được sử dụng vốn vay để đảo nợ,…
Khách hàng phải có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ có
hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra khách hàng phải thực
hiện đảm bảo tiền vay như cầm cố, thế chấp, bảo lãnh,.. theo quy định của pháp
luật.
1.1.2. Phân loại cho vay
Cho vay là hoạt động thương xuyên, chứa đựng nhiều rủi ro và mang lại lợi
nhuận cao nhất cho ngân hàng. Trong hoạt động này ngân hàng giao cho khách
hàng một khoản vốn để tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh, sau một khoảng
thời gian nhất định khách hàng phải trả gốc và lãi cho ngân hàng. Hoạt động
cho vay cũng được chia ra làm nhiều loại.
Phân loại theo thời gian : Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Cho vay
ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn dưới 12 tháng. Các khoản vay trung hạn có
thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng. Còn lại là các khoản vay dài hạn.
Phân loại theo mục đích vay: Vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh,
vay tiêu dùng, vay khác.
Phân loại theo tài sảm đảm bảo: món vay có đảm bảo bằng cầm cố, thế
chấp, bảo lãnh, hoặc vay không có tài sản đảm bảo.
Phân loại theo hình thức cho vay: Đây là các phân loại phổ biến nhất.
Cho vay thấu chi: Khi khách hàng có một tài khoản tiền gửi ở ngân hàng,
khách hàng có thể chi vượt một giới hạn nhất định so với số tiền có trên tài
khoản của mình trong một khoản thời gian xác định. Khi khách hàng có tiền gửi
vào tài khoản, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi của khách hàng. Vì hoạt động kinh
doanh, hay nhu cầu mua sắm của khách hàng không phải bao giờ cũng được dự
đoán trước nên hình thức thấu chi tạo ra sự thuận lợi và linh hoạt hơn cho khách
hàng trong quá trình thanh toán. Tuy nhiên không phải khách hàng nào cũng
được sử dụng dịch vụ này của ngân hàng, đó phải là những khách hàng độ tin
cậy cao, thu nhập ổn định, kì thu nhập ngắn để ngân hàng đảm bảo khoản thấu
chi được thu hồi lại.
Cho vay trực tiếp từng lần: Cho vay từng lần là phương pháp cho vay mà
mỗi lần vay khách hàng và ngân hàng đều phải làm thủ tục cần thiết ( khách
hàng lập hồ sơ vay vốn, ngân hàng xét duyệt cho vay…)
Cho vay theo trực tiếp từng lần là hình thức cho vay theo món, khi có nhu
cầu khách hàng xin vay một khoản tiền cho một mục đích sử dụng vốn cụ thể
như: thanh toán tiền, mua nguyên vật liệu đầu vào…Đây là hình thức phổ biến
mà khách hàng vay vốn sử dụng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của
mình. Phương pháp này áp dụng đối với những khách hàng có nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên, khách hàng có nhu cầu vay và đề nghị vay từng lần hoặc
ngân hàng xét thấy cần thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm
tra, quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ hơn. Số tiền vay của khách hàng được
xác định căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng, giá trị tài sản đảm bảo,
khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, khả năng nguồn vốn của ngân hàng, giới
hạn cho vay theo luật định.
Nhu cầu vay = Nhu cầu vốn lưu động – Vốn chủ sở hữu và vốn huy động khác.
Thời hạn cho vay và kì hạn trả nợ gốc xác định phụ thuộc vào chu kì kinh
doanh của doanh nghiệp, nguồn thu trong thời hạn vay. Trong mỗi hợp đồng tín
dụng khách hàng có thể rút vốn vay làm nhiều lần tùy theo tiến độ và nhu cầu
vốn vay thực tế. Khi rút vốn vay khách hàng phải lập bản kê rút vốn theo mẫu
của ngân hàng và được ngân hàng chấp nhận. Ngân hàng có thể chấp nhận toàn
bộ hoặc một phần số tiền mà khách hàng yêu cầu, số tiền đó trở thành khoản nợ
chính thức của lần rút đó.
Việc trả nợ được thực hiện theo đúng hợp đồng đã thỏa thuận từ trước. Khi
đến hạn trả khách hàng phải tự giác trả nợ cho ngân hàng. Nếu khách hàng chậm
trễ việc trả nợ, ngân hàng có thể trừ trực tiếp trên tài khoản tiền gửi của khách
hàng. Hoặc chuyển thành nợ quá hạn để theo dõi và áp dụng với một lãi suất
mới.
Ngân hàng cũng có thể cho vay theo hình thức “ cho vay trên tài sản ” loại
cho vay này được đảm bảo trực tiếp bằng các khoản phải thu hoặc hàng tồn kho
của khách hàng. Ngân hàng cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá
trị ghi sổ của các khoản phải thu hoặc trên giá trị hàng tồn kho. Khi thu hồi các
khoản phải thu hoặc bán hàng, khách hàng sẽ trả nợ cho ngân hàng. Trong
trường hợp này giống như các ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ hàng bán.
Cho vay theo hạn mức: Cho vay theo hạn mức cho vay là phương pháp cho
vay mà ngân hàng và khách hàng thảo thuận một hạn mức cho vay, duy trì trong
một khoảng thời gian nhất định. Hạn mức cho vay là mức dư nợ tối đa được duy
trì trong một thời hạn nhất định mà ngân hàng và khách hàng đã thỏa thuận
trong hợp đồng cho vay.
Ngân hàng và khách hàng căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh doanh,
phương án, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tỷ lệ cho vay tối đa so với tài sản
đảm bảo, khả năng nguồn vốn của ngân hàng để tình toán một hạn mức tín dụng
duy trì trong một khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kì sản xuất kinh
doanh. Trong hạn mức tín dụng còn lại khách hàng được rút tiền vay để mua
hàng dự trữ hoặc tài trợ cho các chi phí kinh doanh khác.
Cho vay theo hạn mức thường được áp dụng đối với những khách hàng có
nhu cầu vay vốn_ trả nợ thường xuyên, có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân
chuyển vốn không phù hợp với cho vay từng lần, có uy tín với ngân hàng. Quy
mô của hạn mức tín dụng được xác định trên cơ sở dự tính về lượng vốn lớn
nhất mà doanh nghiệp có thể cần tại bất kể thời điểm nào trong suốt thời hạn
duy trì hạn mức cho vay.
Nhu cầu vay vốn lớn nhất = Chi phí sản xuất cần thiết / vòng quay VLĐ –
Vốn chủ sở hữu – Vốn huy động khác.
Mỗi lần rút tiền vay, khách hàng kí vào kế ước nhận nợ, trong đó nêu rõ
thời gian trả nợ cho từng lần rút vốn. Thời gian này được xác định căn cứ vào kỳ
luân chuyển của đối tượng vay vốn hoặc thời gian thu tiền của khách hàng.
Khi cho vay có thể ngân hàng sẽ đòi khách hàng phải trả phí cam kết và
yêu cầu khách hàng phải duy trì một số dư tối thiểu về tiền gửi thanh toán tại
ngân hàng. Nó được xác định trên tổng hạn mức hoặc theo phần hạn mức chưa
được sử dụng. Điều này giúp ngân hàng kiểm soát việc sử dụng tiền vay của
khách hàng được chặt chẽ hơn cũng như nâng cao trách nhiệm của người vay
trong quá trình sử dụng vốn.
Cho vay luân chuyển: Hình thức cho vay này áp dụng đối với các doanh
nghiệp có chu kì tiêu thụ hàng hóa ngắn ngày, có quan hệ vay thường xuyên với
ngân hàng. Thủ tục của hình thức vay này khá đơn giản, khách hàng chỉ phải gửi
đến ngân hàng chứng từ và hóa đơn nhập hàng cùng với số tiền cần vay. Khách
hàng chỉ phải làm thủ tục vay một lần cho nhiều lần vay. Tuy nhiên để làm được
việc này ngân hàng và khách hàng phải ngồi lại với nhau để tính toán kế hoạch
lưu chuyển hàng hóa, dự đoán dòng ngân quỹ trong tương lai. Ngân hàng
thường yêu cầu khách hàng đảm bảo bằng chính hàng hóa và các khoản phải
thu. Khi hàng được bán ra thì khoản tiền thu được sẽ nhập vào tài khoản tiền vay
để trả nợ cho ngân hàng trước khi trích vào tài khoản thanh toán của khách
hàng. Vì vậy khoản vay này ít rủi ro, tuy nhiên khi doanh nghiệp gặp khó khăn
trong tiêu thụ hàng hóa thì việc thu hồi sẽ gặp khó khăn do thời hạn của khoản
vay không được quy định rõ ràng.
Cho vay trả góp: Bản chất của hình thức này là khách hàng có thể trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Trước kia hình thức cho vay
trả góp rất ít khi xuất hiện trong hồ sơ cho vay của ngân hàng, nhưng bây giờ
hình thức này khá phổ biến. Ngân hàng trả tiền mua hàng hóa của khách hàng
cho người bán. Người bán có thể trở thành trung gian thu tiền hàng kỳ cho ngân
hàng, hoặc khách hàng có thể trực tiếp trả tiền cho ngân hàng. Hình thức này
khuyến khích việc tiêu thụ hàng hóa nên ở các nước phát triển hình thức này rất
phổ biến, nhưng ở các nước đang phát triển các ngân hàng còn khá e dè. Cho
vay trả góp khách hàng thường đảm bảo bằng chính hàng hóa mua trả góp, khả
năng thu nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay vì vậy khoản cho
vay này ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Khách hàng phải trả lãi rất cao cho khoản vay
này, mức lãi suất cho vay trả góp thường cao nhất trong khung lãi suất cho vay
của ngân hàng.
Cho vay gián tiếp: Bên cạnh hình thức cho vay trực tiếp truyền thống thì
ngân hàng còn cho vay gián tiếp qua các tổ chức trung gian. Tổ chức trung gian
có thể là các hội nông dân, hội cựu chiến binh, các nhà bán lẻ….Cho vay gián
tiếp áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa
ngân hàng. Cho vay qua trung gian nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng.
Nhưng nhiều trung gian lợi dụng vị thế của mình, việc không kiểm soát được
của ngân hàng đã nâng lãi suất cho vay, giữ tiền không cung cấp cho người vay.
Điều này gây thiệt hại cho cả ngân hàng và người vay.
Trong tất cả các hình thức cho vay thì vấn đề được cả ngân hàng và khách
hàng quan tâm nhiều nhất đó chính là lãi suất của khoản vay. Việc quyết định lãi
suất cho vay phải dựa trên những căn cứ nhất định và phải bù đắp được tất cả các
chi phí có liên quan, tạo ra một khoản sinh lời cần thiết để hoạt động của ngân
hàng có lãi và tăng trưởng. Những yếu tố cầu thành nên lãi suất gồm: thứ nhất là
vốn chủ sở hữu. Đây là chi phí cơ hội của chủ sở hữu khi bỏ vốn ra cho ngân
hàng kinh doanh. Vốn này có thể xác định bằng lãi suất tiền gửi liên ngân hàng
cùng kì hạn của khoản vay. Thứ hai là chi phí huy động vốn: là chi phí huy động
vốn theo kì hạn hoặc chi phí huy động vốn bình quân của nguồn vốn. Vì không
một ngân hàng nào có thể hoạt động chỉ dựa trên vốn chủ sở hữu, nguồn vốn này
chiếm một phần nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Nên ngân hàng phải
huy động vốn bằng cách huy động tiền gửi, vay các tổ chức tín dụng… Ngân
hàng đóng vai trò là người đi vay nên ngân hàng phải trả lãi cho khoản vay đó.
Khoản chi phí này ngân hàng cũng phải bù đắp lại. Thứ ba là chi phí hoạt động:
Bao gồm chi phí tiền lương trả cho cán bộ công nhân viên, chi phí văn phòng, chi
phí quản lý, chi phí tiếp thị, quảng cáo, …Đây là chi phí tối thiểu buộc phải chi để
ngân hàng hoạt động. Thứ tư là chi phí dự phòng rủi ro cho vay: chi phí này được
xác định phù hợp với hạng khách hàng và mức độ rủi ro của ngành hàng, phương
án, dự án vay vốn. Tất cả các ngân hàng đều phải phân loại các khoản cho vay,
xếp loại nợ và trích lập dự phòng theo luật định. Khoản trích lập này không tạo ra
thu nhập cho ngân hàng trong khi ngân hàng vẫn phải trả lãi cho việc huy động
chúng, nên ngân hàng phải tính cả chi phí dự phòng để bù đắp. Cuối cùng là chi
phí thanh khoản: Là chi phí vốn đảm bảo tính thanh khoản cho hệ thống ngân
hàng. Đó chính là các khoản tiền dự trữ bắt buộc, dự trữ riêng của ngân hàng. Nó
là khoản bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Mỗi món vay sẽ có một hình thức vay riêng, lãi suất riêng. Khách hàng và
ngân hàng cùng xem xét hình thức cho vay hợp lý nhất để đảm bảo cân đối lợi
ích của cả hai.
1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay
Cho vay là hoạt động cơ bản của ngân hàng. Hoạt động cho vay có vai trò
quan trọng đối với cả nền kinh tế, đối với ngân hàng và cả khách hàng.
Đối với nền kinh tế: Ngân hàng với vai trò là một trung gian tài chính của
nền kinh tế. Ngân hàng là người trung gian chung chuyển vốn giữa người thiếu
vốn, có nhu cầu sử dụng vốn và người có vốn nhàn rỗi. Vì vậy ngân hàng sẽ thu
hút vốn từ người thừa vốn, và cho người thừa vốn vay. Hoạt động cho vay giúp
nền kinh tế có điều kiện phát triển nhanh hơn. Nguồn vốn dư thừa trong dân
chúng không bị ứ đọng mà được cung cấp kịp thời để tạo thêm của cải cho nền
kinh tế. Với khả năng quản lý tốt hoạt động cho vay của ngân hàng cũng giúp
giảm thiểu chi phí và rủi ro. Ngân hàng tập chung vốn nhàn rỗi và phân phối cho
vay với nhiều kì hạn, khoản vay linh hoạt phục vụ được hầu hết các nhu cầu của
người cần vốn. Với tính chuyên nghiệp của mình ngân hàng cũng giảm thiểu
được rủi ro cho cả người vay vốn và người thừa vốn. Hoạt động cho vay của
ngân hàng cũng góp phần nâng cao đời sống người dân qua hoạt động cho vay
tiêu dùng của mình, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh diễn ra nhanh
chóng và hiệu quả.
Đối với ngân hàng: Cho vay có vai trò chủ chốt trong hoạt động của ngân
hàng. Trước hết, cho vay mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Khi cho
khách hàng vay ngân hàng sẽ thu được lãi và các khoản phí nhất định. Thu nhập
từ lãi sẽ bù đắp chi phí huy động vốn, chi phí quản lý và tạo ra lợi nhuận cho
ngân hàng. Lãi từ các khoản cho vay chiếm khoảng 60% thu nhập hàng năm của
ngân hàng. Hoạt động cho vay cũng phục vụ cho các hoạt động khác của ngân
hàng phát triển. Như các hoạt động thanh toán quốc tế, hoạt động kinh doanh
thẻ,… cũng sẽ phát triển hơn lên.
Đối với khách hàng: Với hoạt động cho vay của ngân hàng, khách hàng có
thể dễ dàng thỏa nãm các nhu cầu trong tiêu dùng và trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình. Khách hàng rất khó có thể thỏa mãn nhu cầu về vốn của
mình đúng thời gian và đúng số lượng. Do rất khó để có sự phù hợp giữa người
cần vốn và người thiếu vốn. Có thể người thiều vốn không tìm được người thừa
vốn muốn cho vay, khoản vay có độ lớn không phù hợp, hoạt thời hạn vay
không trùng thời hạn cho vay. Trong khi đó khi cần vốn khách hàng chỉ cần đến
ngân hàng vay bất kỳ lúc nào, với thời hạn và món vay khá linh hoạt. Hoạt động
cho vay của ngân hàng phục vụ đông đảo đối tượng, từ các tập đoàn lớn, các
công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân, cho đến các cá nhân hộ gia đình.
Khách hàng có thể vay vốn với nhiều thời hạn là ngắn hạn, trung hạn, hay dài
hạn. Mục đích vay cũng đa dạng: vay để bổ sung vốn lưu động, vay để thực hiện
dự án, hoặc vay để tiêu dùng… Hoạt động cho vay còn tránh cho khách hàng
phải vay với lãi suất cao, nhiều rủi ro nếu người cho vay không thực hiện đúng
hợp đồng. Trong quan hệ vay mượn với ngân hàng, khách hàng còn được tư
vấn, giúp đỡ nếu hoạt động sản xuất kinh doanh có khó khăn. Khách hàng còn
được ưu ái sử dụng các dịch vụ tiện ích của ngân hàng với chi phí rẻ hơn. Với
những khách hàng có quan hệ cho vay tốt có thể vay vốn với chi phí rẻ, được
giúp đỡ trong những lúc sản xuất kinh doanh gặp khó khăn.
Như vậy ngân hàng cho vay giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và
bền vững, giúp ngân hàng thu lợi nhuận và giúp khách hàng thỏa mãn các nhu cầu
về vốn. Với vai trò quan trọng như vậy hoạt động cho vay của các ngân hàng đã
ngày càng phát triển và hoàn thiện. Từ các món vay nhỏ, các hình thức vay ít, đến
nay các ngân hàng đã đa dạng thêm nhiều loại vay mới, với nhiều loại lãi suất và
phục vụ ngày càng nhiều hơn nhu cầu của khách hàng.
1.2. Hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại
Có rất nhiều khái niệm về hiệu quả. Trong mỗi lĩnh vực hiệu quả lại có
những khái niệm khác nhau. Hiệu quả có thể được hiểu là những kết quả khả
quan đạt được cùng với những tiền năng tiếp tục khai thác tốt hơn trong tương
lai. Với khái niệm này hiệu quả không chỉ thể hiện kết quả tốt đẹp hơn của hiện
tại so với quá khứ, mà hoạt động đó còn phải là tiền đề cho hoạt động tốt hơn
trong tương lai. Hiệu quả cũng có thể được thể hiện bằng việc thu được lợi ích
tối đa với chi phí tối thiểu. Như vậy muốn có hiệu qủa cao nhất thì khoảng cách
giữa lợi ích thu được và chi phí bỏ ra phải là lớn nhất. Trong hoạt động sản xuất
kinh doanh thì doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khi họ thu được lợi ích lớn nhất
ở hiện tại và hoạt động đó phải tạo tiền đề phát triển trong tương lai. Hoạt động
cho vay của ngân hàng cũng tương tự như vậy. Hoạt động cho vay được cho là
hiệu quả khi ngân hàng không tăng dư nợ cho vay nhưng tăng thu nhập từ khoản
vay, hoặc ngân hàng mở rộng cho vay để tăng doanh thu nhưng đảm bảo tốc độ
tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng dư nợ cho vay. Việc tăng thu nhập của khoản
vay không chỉ được xem xét tại thời điểm hiện tại mà còn phụ vụ cho hoạt động
cho vay trong tương lai. Như vậy hiệu quả cho vay luôn gắn liền với lợi ích đạt
được của ngân hàng ở hiện tại và tương lai phải tăng.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay của ngân hàng
1.2.2.1. Nhóm các chỉ tiêu định tính
Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay trên cơ sở pháp lý việc
tuân thủ các quy chế quy trình nghiệp vụ, việc thực hiện theo đúng cam kết hợp
đồng.
Trên cơ sở pháp lý: Việc cho vay có hiệu quả khi nó tuân theo đúng pháp
luật của nhà nước, luật các tổ chức tín dụng, quy chế cho vay….và tuân theo các
luật khác liên quan như luật dân sự,... Khoản cho vay không thể được đánh giá
là có hiệu quả cao nếu nó trái với pháp luật quy định, quy chế cho vay bị vi
phạm. Giả sử khi ngân hàng cho vay cố tình cho vay để khách hàng kinh doanh
những mặt hàng bị cấm, thực hiện hành động đảo nợ thì khoản vay đó là trái
pháp luật và không được đánh giá là có hiệu quả mặc dù nó mang lại lơi nhuận
cao.
Trên cơ sở quy chế cho vay của ngân hàng thương mại đó: Mỗi ngân hàng
sẽ có các đường lối chiến lược kinh doanh riêng. Đó là điều kiện cần thiết cho
hoạt động cho vay của ngân hàng được thống nhất và mang lại lợi ích cao nhất
cho ngân hàng. Vì vậy khoản vay có hiệu quả khi nó tuân thủ đúng các quy
trình, quy chế cho vay của ngân hàng. Tuy mỗi ngân hàng có một quy trình cho
vay riêng nhưng nó phải tuân thủ các bước cơ bản là: Bước đầu tiên và quan
trọng nhất là phân tích trước khi cho khách hàng vay vốn. Cán bộ tín dụng có
thể phỏng vấn trực tiếp khách hàng vay vốn, có thể tìm hiểu về khách hàng qua
bạn hàng của khách hàng, đọc các thông tin mà khách hàng cung cấp để có thể
nắm được năng lực pháp lý, năng lực tài chính, đạo đức,… của người vay. Bước
thứ hai ngân hàng xây dựng và kí kết hợp đồng cho vay. Trong bước này ngân
hàng xác định và ghi rõ về mục đích sử dụng vốn vay, số lượng khoản tiền vay,
lãi suất, phí, thời hạn tín dụng, loại đảm bảo, điều kiện và thời hạn giải ngân.
Hợp đồng cho vay sẽ do hai bên kí kết và nắm giữ. Cả hai bên đều phải thực
hiện đúng với hợp đồng kí kết. Bước tiếp theo ngân hàng tiến hành giải ngân và
kiểm soát trong khi cấp tiền cho khách hàng. Ngân hàng phải cấp tiền cho khách
hàng đồng thời kiểm soát khách hàng về mục đích sử dụng tiền, tiến độ hoạt
động kinh doanh…Nếu không thấy biểu hiện nào bất thường thì đánh giá đây là
khoản cho vay tốt. Còn nếu thấy khoản vay bị đe dọa ngân hàng cần có các biện
pháp sử lý kịp thời. Bước cuối cùng ngân hàng thu nợ hoặc đưa ra phán quyết
tín dụng mới. Quan hệ cho vay kết thúc khi ngân hàng thu được hết gốc và lãi.
Khi khách hàng cố ý nợ nần dây dưa, hoặc làm ăn yếu kém,…khi đó ngân hàng
thực hiện các phương pháp thanh lý như phong tỏa tài khoản, thanh lý tài sản
đảm bảo…Còn trong trường hợp khách hàng có khó khăn về tài chính nhưng có
quyết tâm và khả quan trả nợ thì ngân hàng áp dụng phương án khai thác bao
gồm: gia hạn nợ, giảm lãi, cho vay thêm. Trong tất các bước của qui trình cho
vay ngân hàng nên tuân thủ đầy đủ và linh hoạt đối với từng khoản cho vay và
với từng khách hàng khác nhau. Nó sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được các
khoản cho vay an toàn và có hiệu quả cao. Đồng thời giảm bớt được các thiệt
hại ngoài ý muốn.
Trên cơ sỏ hoạt động cho vay: Trước khi cho vay ngân hàng và khách hàng
phải thỏa thuận với nhau về việc sử dụng vốn của khách hàng, thời gian trả nợ
gốc và lãi, cách xử lý nếu các tình huống xấu xảy ra. Khoản cho vay đạt hiệu
quả khi nó được thực hiện đúng hợp đồng vay.
1.2.2.2. Nhóm các chỉ tiêu định lượng
Thứ nhất là nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
Đây là nhóm chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh hiệu quả cho vay khách
hàng cá nhân. Vì mục tiêu cuối cùng của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng
là khả năng sinh lời của nó. Vì vậy đánh giá hiệu quả cho vay không thể bỏ qua
nhóm chỉ tiêu này. Nhóm các chỉ tiêu sinh lời gồm có: Lợi nhuận thu được từ
khoản cho vay, dư nợ cho vay, số lượng khách hàng vay, độ lớn món vay….
Trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận thu được.
Lợi nhuận thu được phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Lãi suất cho vay là
nhân tố quyết định đầu tiên đến lợi nhuận đạt được. Khoản cho vay với lãi suất
cao thì lãi vay của ngân hàng cũng vì thế mà tăng thêm. Tuy nhiên lãi vay cũng
phải phù hợp, vì nếu cao quá sẽ làm giảm tính cạnh tranh của ngân hàng. Trong
khi đó các ngân hàng Việt Nam vẫn còn đang cạnh tranh với nhau về lãi suất.
Lãi suất cho vay cao làm hoạt động kinh doanh của nguời vay gặp khó khăn do
chi phí trả lãi quá lớn. Các khoản chi phí thực hiện khoản vay sẽ làm giảm lợi
nhuận đạt được từ khoản vay. Các khoản chi phí đó là chi phí huy động vốn, chi
phí làm thủ tục vay, chi phí trả lương cho cán bộ tín dụng. Trong đó chi phí huy
động vốn làm quan trọng nhất. Lãi suất huy động ảnh hưởng trực tiếp đến lãi
suất cho vay. Lãi suất cho vay bao giờ cũng lớn hơn lãi suất huy động một
khoảng, để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, chi phí quản lý và một
phần là lợi nhuận mà ngân hàng có được.
Dư nợ cho vay của khách hàng tăng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng tăng thu
nhập. Dư nợ cho vay là hiệu số giữa khoản tiền khách hàng vay nợ và số mà
khách hàng đã trả trong kì. Thường thì lãi thu được là tích giữa lãi suất cho vay
x thời hạn vay x dư nợ cho vay. Vì vậy nếu dư nợ cho vay cao thì lợi nhuận mà
ngân hàng thu được cũng tăng cao. Dư nợ cho vay tăng có thể là do độ lớn của
món vay tăng, số lượng khách hàng tăng. Ngân hàng thường khống chế mức cho
vay đối với một khoản vay. Với khách hàng cá nhân món vay thường có giá trị
thấp hơn rất nhiều so với độ lớn của món vay đối với khách hàng là doanh
nghiệp. Số lượng khách hàng tăng lên cũng là nhân tố quan trọng để dư nợ cho
vay của ngân hàng tăng lên. Nó cũng thể hiện việc mở rộng hoạt động cho vay,
thu hút được thêm khách hàng. Đó cũng là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện tính
hiệu quả của hoạt động cho vay.
Thứ hai là nhóm các chỉ tiêu phản ánh rủi ro
Hiệu quả của khoản cho vay không chỉ được thể hiện thông qua khả năng
sinh lời của món vay, mà nó còn được thể hiện qua rủi ro mà món vay có thể
gặp phải. Rủi ro trong cho vay là khả năng tổn thất trong hoạt động ngân hàng
của do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ
theo đúng hợp đông quy định. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong hoạt động cho
vay gồm có: Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, nợ có vấn đề, nợ
khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ, tính đa dạng hóa của khoản cho vay,
tình hình tài chính và phương án của người vay, xếp hạn tín dụng của người
vay, đảm bảo tiền vay, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, môi
trường hoạt động của người vay.
Nợ quá hạn là chỉ tiêu tốt nhất thể hiện sát thực rủi ro của khoản vay. Nợ
quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn.
Ngân hàng phân các khoản nợ thành năm nhóm chính. Nhóm 1 là các khoản nợ
đủ tiêu chuẩn. Đó là các khoản nợ trong hạn mà ngân hàng đánh giá là có đủ khả
năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn. Hoặc là các khoản vay khách hàng trả đủ và
đúng lãi và gốc hoặc có khả năng đó, sau khi đã được gia hạn thì cũng được cho
vao nhóm 1. Các khoản nợ nhóm 1 thì rủi ro dường như là không có, ngân hàng
có thể yên tâm về việc thu hồi đối với các khoản nợ này. Nhóm 2 là nợ cần chú
ý. Khi các khoản nợ đã quá hạn dưới 90 ngày, các khoản nợ đã cơ cấu lại nợ và
đang trong thời gian cơ cấu lại thì được phân vào nhóm 2. Nhóm 3 là các khoản
nợ dưới tiêu chuẩn. Đó là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày, các khoản
nợ đã được cơ cấu lại nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại, và
một số khoản nợ khác. Nhóm 4 là các khoản nợ nghi ngờ. Bao gồm các khoản
nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày, các khoản nợ đã được cơ cấu lại và đang quá
hạn từ 90 đến 180 ngày. Cuối cùng là khoản nợ thuộc nhóm 5, nợ có khả năng
mất vốn. Khoản nợ này có thời gian quá hạn từ 360 ngày trở lên, các khoản nợ
khoang chờ chính phủ xử lý, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ và đang quá
hạn trên 180 ngày, và một số các khoản nợ mà ngân hàng nhà nước quy định.
Trong các khoản nợ quá hạn thì nhóm nợ xấu ( thuộc nhóm 3,4,5) trên tổng dư
nợ đánh giá chất lượng tín dụng của khách hàng. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ quá
hạn trên tổng dư nọ quá lớn và tăng liên tục qua các năm thể hiện hiệu quả yếu
kém trong cho vay. Tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng dư nợ phụ thuộc cả vào hai yêu tố:
Nợ quá hạn và tổng dư nợ. Nếu tổng dư nợ tăng lên nhưng nợ quá hạn không
thay đổi, điều đó sẽ thể hiện hiệu quả cho vay có chất lượng tốt. Nhưng nếu tổng
dư nợ tăng lên nhưng tốc độ tăng của nợ quá hạn tăng cao hơn thì hiệu quả cho
vay của ngân hàng là đang xấu đi. Việc mở rộng hay thu hẹp dư nợ cho vay còn
phải phụ thuộc vào khả năng quản lý của ngân hàng nếu không ngân hàng sẽ gặp
rủi ro trong họat động của mình.
Ngân hàng có nhiều hình thức cho vay sẽ đáp ứng được nhiều nhu cầu vay
của khách hàng. Mỗi hình thức cho vay sẽ có những đặc thù riêng. Vì thế việc
đa dạng hóa các hình thức cho vay sẽ thu hút được khách hàng, đồng thời giảm
được rủi ro do đa dạng được hình thức và đối tượng phục vụ. Tuy nhiên việc đa
dạng hóa hình thức cho vay cũng phải tiến hành phù hợp với thực lực quản lý
của ngân hàng, nếu không nó sẽ chỉ làm tăng hơn nữa rủi ro cho ngân hàng, ảnh
hưởng xấu đến hiệu quả của khoản cho vay.
Tính hình tài chính và phương án của người vay sẽ quyết định khả năng trả
nợ của khách hàng. Với tình hình tài chính mạnh, phương án sử dụng vốn khả thi
thì khả năng trả nợ cao. Đối với khoản vay tiêu dùng ngân hàng thường xét trên
tình hình tài chính của khách hàng để quyết định cho vay, ví dụ như: Lương hàng
tháng của khách hàng, khả năng thu nhập đều đặn của khách hàng. Còn với các
khoản cho vay kinh doanh thì các dự án, phương án sản xuất kinh doanh có tính
khả thi và hiệu quả cao sẽ được ngân hàng xem xét cho vay. Để đánh giá được
tình hình tài chính và phương án của người vay đòi hỏi ngân hàng phải có một đội
ngũ nhân viên giỏi, am hiểu nhiều lĩnh vực.
Tinh hình khoản đảm bảo. Khoản vay có thể được đảm bảo bằng tài sản
hoặc không có tài sản đảm bảo. Với những khoản cho vay không có tài sản đảm
bảo ngân hàng phải chắc chắn về khả năng trả nợ của khách hàng, hoặc do chính
phủ quy định. Khoản đảm bảo sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro khi khách
hàng không thực hiện đúng hợp đồng. Tuy nhiên với khả năng quản lý tốt, với
điều kiện cạnh tranh ngày cáng khó khăn thì điều kiện đảm bảo của các ngân
hàng ngày càng được mở rộng. Điều này giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận với
nguồn vốn của ngân hàng, tuy nhiên nếu việc quản lý của ngân hàng không tốt
thì hiệu quả của khoản vay cũng bị de dọa.
Quan hệ của khách hàng với ngân hàng, xếp hạng tín dụng của khách hàng,
điều kiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng ảnh hưởng tới rủi ro của khoản
vay. Với những khách hàng có quan hệ tín dụng tốt, có xếp hạng tín dụng tốt thì
rủi ro xảy ra với khoản vay ít. Điều kiện kinh doanh của khách hàng tốt sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho khách hàng làm ăn có lãi, và ngân hàng có khả năng thu
được lãi và gốc nhiều hơn.
Để khắc phục những hậu quả do rủi ro gây ra ngân hàng thường lập các
khoản dự phòng rủi ro. Khoản dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự
phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ
cam kết. Theo quy định của ngân hàng nhà nước thì dự phòng rủi ro được tính
theo dư nợ gốc của khoản cho vay.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại
Để tìm cách cho hoạt động cho vay đạt hiệu quả tốt nhất, ngân hàng trước hết
phải biết được đâu là yếu tố tác động nên hiệu quả cho vay. Có ba nhóm nhân tố
chính tác động đến hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại.
Thứ nhất: nhóm nhân tố thuộc chủ quan từ phía ngân hàng.
Ngân hàng là ngành kinh doanh không có tính độc quyền. Tính cạnh tranh
giữa các ngân hàng về sản phẩm dịch vụ là không có, vì vậy việc cho vay đạt
hiệu quả cao phụ thuộc chủ yếu vào năng lực hoạt động của chính bản thân ngân
hàng. Hiệu quả cho vay của ngân hàng phụ thuộc chặt chẽ vào các nhân tố như:
chính sách cho vay của ngân hàng, chất lượng cho vay, năng lực tài chính và khả
năng quản lý của ngân hàng, trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng, hoạt
động quảng bá của ngân hàng…
Chính sách cho vay.
Mỗi ngân hàng đều phải xây dựng cho mình một chính sách cho vay riêng
phù hợp với từng thời điểm, từng hoàn cảnh cụ thể. Chính sách cho vay phải thể
hiện cương lĩnh tài trợ của mỗi ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho các
bộ tín dụng, tăng cường tính chuyên môn hóa trong hoạt động cho vay, tạo sự
thống nhất chung trong hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro,
nâng cao khả năng sinh lời. Chính sách cho vay phải được lập dựa trên nhu cầu
của khách hàng, khả năng sinh lời, rủi ro tiềm ẩn của khách hàng, quy mô vốn
của ngân hàng…Ngân hàng phải xem xét nhu cầu của khách hàng với các đặc
tính khác nhau như: khách hàng lớn, nhỏ, khách hàng lâu năm có quan hệ tín
dụng tốt với ngân hàng hay khách hàng mới, khách hàng vay để sản xuất kinh
doanh, thực hiện các dự án lớn hay khách hàng vay để phục vụ chi tiêu cá
nhân… Khả năng sinh lời và rủi ro của khách hàng sẽ quyết định hiệu quả của
khoản vay. Ngân hàng phải xem xét tính khả thi, khả năng thu lợi trong tương
lai của khách hàng. Đối với những khoản vay có khả năng sinh lời cao thì xem
xét rủi ro tiềm ẩn, vì khách hàng có thể theo đuổi lợi nhuận cao làm khoản vốn
vay của ngân hàng rủi ro lớn. Với quy mô vốn của mình ngân hàng sẽ xem xét
theo đuổi các chính sách cho vay riêng. Ví dụ đối với những ngân hàng có
nguồn vốn chủ sở hữu lớn có thể theo đuổi chính sách cho vay mạo hiểm để
kiếm lợi nhuận cao. Các ngân hàng có nguồn tiền gửi lớn, ổn định có thể gia
tăng các khoản cho vay trung và dài hạn, tài trợ các dự án lớn. Chính sách cho
vay cũng phải được xây dựng trên cơ sở chính sách của chính phủ, của ngân
hàng nhà nước về chế độ ưu đãi, chính sách lãi suất…
Nội dung cơ bản của chính sách cho vay chính là chính sách về khách
hàng, chính sách về quy mô và giới hạn cho vay, về thời hạn, kì hạn trả nợ, lãi
suất cho vay, về tài sản đảm bảo.
Về chính sách khách hàng: Khách hàng vay vốn của ngân hàng rất đa dạng,
từ cá nhân, hộ gia đình, các cơ quan nhà nước, công ty cổ phần…Tuy nhiên
pháp luật cũng cấm một số đối tượng không được vay vốn của ngân hàng. Ngân
hàng tiến hành phân loại khách hàng để có chính sách phục vụ phù hợp. Đối với
các cá nhân thường vay các món nhỏ lẻ, thời hạn ngắn, còn doanh nghiệp
thường vay cac món lớn, thời hạn đa dạng. Vì vậy ngân hàng phải phân tích rõ
các đặc điểm của từng đối tượng khách hàng để có chính sách phù hợp. Ngân
hàng cũng phân loại khách hàng truyền thống, có quan cho vay tốt với ngân
hàng để được hưởng các ưu đãi hơn so với các khách hàng mới, hoặc có quan hệ
tín dụng không tốt với ngân hàng. Ngân hàng phải cố gắng để giữ chân được
khách hàng truyền thống đồng thời thu hút được nhiều hơn nữa khách hàng đến
vay. Có như thế hoạt động cho vay của ngân hàng mới đạt hiệu quả bền vững,
tạo tiền đề cho ngân hàng phát triển tốt.
Về chính sách quy mô và giới hạn, ngân hàng cam kết tài trợ cho khách
hàng với món tiền hoặc hạn mức nhất định. Số lượng tài trợ có thể chia nhỏ
trong khoảng thời gian khác nhau và dưới các hình thức tiền tệ khác nhau. Ngân
hàng có thể xem xét tính khả thi và khả năng trả nợ của khoản vay để tài trợ
toàn bộ nhu cầu xin vay, hoặc theo một mức nhất định. Quy mô cho vay nếu
vượt quá khả năng trả nợ của khách hàng sẽ làm ngân hàng gặp thiệt hại, còn
nếu ngân hàng cho vay ít quá so với nhu cầu thì khách hàng cũng gặp trở ngại
trong kinh doanh, trực tiếp ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ của người vay.
Về lãi suất cho vay. Ngân hàng có các mức lãi suất khác nhau tùy theo thời
hạn vay ( ngắn, trung, hạn), tùy theo các loại tiền vay, và tùy từng đối tượng
khách hàng. Ngân hàng khi thỏa thuận về lãi suất cho vay phải tính đến, lãi suất
cơ bản của ngân hàng nhà nước quy đinh, trần và sàn lãi suất cho vay, các quy
định chung về lãi suất của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, lãi suất hòa vốn, lãi
suất cạnh tranh trên thị thường. Bên cạnh khung lãi suất định trước ngân hàng
còn cung cấp các lãi suất thỏa thuận với từng khách hàng cụ thể. Lãi suất có thể
cố định trong suất kì hạn cho vay, hoặc có thể thay đổi tùy theo biến động của
lãi suất tham khảo, hoặc kết hợp lãi suất cố định có điều chỉnh trong một khoảng
thời gian xác định. Lãi suất cho vay do ban giám đốc của ngân hàng thông qua.
Chính sách về lãi suất cần phải linh hoạt, đa dạng trong việc đặt giá trên cơ sở
đảm bảo đúng quy định của pháp luật, khả năng sinh lời và đảm bảo tính cạnh
tranh với các ngân hàng khác.Chính sách lãi suất cần chỉ rõ các bộ phận cơ bản
cấu thành nên lãi suất như: lãi suất nguồn huy động, chi phí khác, rủi ro, thuế và
tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu. Lãi suất luôn là nhân tố quan tâm hàng đầu của khách
hàng khi đến ngân hàng vay tiền, vì vậy có một chính sách về lãi suất phù hợp sẽ
giúp ngân hàng thu hút được đông khách hàng, đồng thời nâng cao hiệu quả cho
vay.
Về kì hạn trả nợ và thời hạn vay. Theo QĐ1627: “Thời hạn cho vay là
khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời
điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
giữa ngân hàng và khách hàng”. Và “ Kì hạn trả nợ là khoảng thời gian trong
thời hạn cho vay đã được thỏa thuận giữa tổ chức cho vay và khách hàng mà tại
cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ vốn
vay cho tổ chức cho vay”. Ngân hàng thường xác định cụ thể kì hạn cho vay
trong hợp đồng cho vay là 6 tháng, 9 tháng, 1 năm,…tùy theo chu kì kinh doanh
sau khi thỏa thuận với khách hàng. Cũng có trường hợp thời hạn vay không xác
định từ trước mà tùy theo mức luân chuyển của vật tư hàng hóa như trong hình
thức vay luân chuyển. Đối với các khoản vay trung, dài hạn cho các dự án lớn
thì ngân hàng thường giải ngân theo tiến độ công trình. Thời hạn trả nợ có thể là
cuối kì hoặc theo các kì hạn trong thời hạn cho vay. Kì hạn trả nợ liên quan mật
thiết đến tính thanh khoản, rủi ro của ngân hàng cũng như chu kì kinh doanh của
người vay. Thời hạn cho vay phải cân đối giữa thời hạn của nguồn ( chủ yếu do
kì hạn tiền gửi và các khoản vay của ngân hàng ) và thời hạn tài trợ ( do tính
luân chuyển của vốn và quy mô thu nhập của khách hàng qui định). Từ đó ngân
hàng xác định kì hạn để đảm bảo cân bằng kì hạn trung bình. Ngân hàng thường
dựa trên kì hạn của nguồn để quyết định chính sách kì hạn cho vay nếu khả
năng tìm kiếm nguồn và khả năng chuyển hóa nguồn của ngân hàng không cao.
Việc chuyển hóa kì hạn nguồn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất vì nó
tạo ra khe hở lãi suất. Nếu ngân hàng có khả năng chuyển hoán nguồn và huy
động nguồn trung và dài hạn tốt, chính sách thời hạn cho vay và kì hạn trả nợ
nghiêm về đáp ứng kì hạn của người vay.
Về tài sản đảm bảo. Ngân hàng xác định điều kiện đảm bảo dựa vào uy tín
của khách hàng. Những khoản vay của khách hàng truyền thống, có độ tin cậy
cao thì ngân hàng không yêu cầu tài sản đảm bảo. Trường hợp độ an toàn của
khoản vay không đảm bảo thì khách hàng buộc phải có đảm bảo thì ngân hàng
mới thực hiện cho vay. Tài sản đảm bảo sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu được thiệt
hại khi khách hàng khó khăn trong việc trả nợ, hoặc trong trường hợp khách hàng
cố ý không trả nợ. Đảm bảo có thể bằng hình thức cầm cố hoặc thế chấp. Chính
sách tài sản đảm bảo gồm các quy định về các loại đảm bảo, đánh giá và quản lý
đảm bảo. Các ngân hàng thường cung cấp cho khách hàng danh mục các tài sản
đảm bảo mà ngân hàng chấp nhận và các trường hợp vay cần có đảm bảo. Các tài
sản đảm bảo mà ngân hàng chấp nhận thường là: giấy tờ có giá, hàng trong kho,
nhà cửa, thiết bị, bảo lãnh của người thứ ba. Để đề phòng các trường hợp bất trắc
xảy ra ngân hàng thường yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm đối với khoản vay.