Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp xây lắp tại chi nhánh nhđt&pt điện biên

  • 67 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo hiện nay, hệ
thống ngân hàng thương mại đã có những đóng góp vô cùng quan trọng để thúc
đẩy nền kinh tế phát triển, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Khi nền
kinh tế càng phát triển mạnh thì nhu cầu vốn rất lớn, bao gồm cả ngắn, trung và
dài hạn. Tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện cho các chủ thể đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, từ đó tăng trưởng kinh tế vững mạnh, từng bước hội nhập
với khu vực và thế giới.
Cùng với sự trưởng thành và lớn mạnh của NHĐT&PT Việt Nam,
NHĐT&PT Điện Biên cũng đã hình dung được vai trò to lớn của mình trong
việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Mặc dù là một tỉnh miền núi còn gặp
nhiều khó khăn do địa bàn chia cắt, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chưa phát
triển song không vì thế mà việc tuyên truyền về những chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội bị hạn chế.
Trong những năm vừa qua, số lượng khách hàng có quan hệ với
NHĐT&PT Điện biên ngày càng tăng, đặc biệt khách hàng là Doanh nghiệp xây
lắp. Sự phát triển loại hình doanh nghiệp này từ lâu được đánh giá là thị trường
quan trọng cho việc nâng cao và tăng trưởng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Với vai trò của mình, tín dụng ngân hàng có tác động tích cực trong việc đáp ứng
nhu cầu bức thiết về vốn giúp Doanh nghiệp xây lắp đổi mới trang thiết bị, mua
nguyên vật liệu, mua sắm máy móc, thiết bị thi công... góp phần tạo ra bộ mặt
mới cho tỉnh Điện Biên. Chính vì vậy, từ khi thành lập cho đến nay, NHĐT&PT
Điện Biên (NHĐT&PT Lai Châu cũ) luôn coi việc nâng cao chất lượng tín dụng
với khách hàng là Doanh nghiệp xây lắp là nhiệm vụ hết sức quan trọng vì nó
quyết định đến sự phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượng
tín dụng đối với Doanh nghiệp xây lắp gặp rất nhiều khó khăn do đặc điểm riêng
biệt của loại hình doanh nghiệp này và do cơ chế quản lý của ngân hàng. Vậy
1
câu hỏi đặt ra ở đây là, làm thế nào để nâng cao chất lượng tín dụng đối với
Doanh nghiệp xây lắp. Là người trực tiếp thực tập tại NHĐT&PT Điện Biên, em
thấy được sự cần thiết phải có những biện pháp thiết thực và cụ thể cho công tác
này. Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng tín dụng đối
với Doanh nghiệp xây lắp tại Chi nhánh NHĐT&PT Điện Biên” cho chuyên
đề của mình.
Ngoài mở đầu và kết luận, nội dung chuyên đề gồm ba phần chính, đó là:
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng của ngân
hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp xây
lắp tại NHĐT&PT Điện Biên
- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh
nghiệp xây lắp tại NHĐT&PT Điện Biên
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song cũng không thể tránh khỏi những khiếm
khuyết trong chuyên đề của mình. Em xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên hướng
dẫn và NHĐT&PT Điện Biên (cụ thể là phòng Tín dụng – nơi em thực tập) đã
giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành bài chuyên đề một cách tốt nhất.
Em xin chân thành cảm ơn !
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm, các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Tuỳ theo sự phát triển của nền kinh tế và hệ thống tài chính của mỗi
quốc gia, ngân hàng bao gồm nhiều hình thức khác nhau như ngân hàng thương
mại quốc doanh, ngân hàng thương mại tư nhân, ngân hàng thương mại cổ phần,
ngân hàng thương mại liên doanh hoặc chi nhánh ngân hàng thương mại nước
ngoài.
1.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân
hàng. Đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế.
Các nhà nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho rằng nghề ngân
hàng đã xuất hiện thời Trung cổ trên cơ sở của sự phát triển và lưu thông hàng
hóa. Các thương nhân buôn bán, các lãnh chúa giàu có có khối lượng tiền lớn và
xuất hiện nhu cầu cất giữ an toàn. Và những người giàu có, các thợ vàng đã đóng
vai trò của người giữ hộ. Nhưng thời gian sau nhận thấy được nhu cầu chi trả hộ,
nhu cầu về vốn của các thương nhân ngày càng cao trong khi đó mình lại giữ
một khối lượng tiền lớn cho nên những người làm nghề giữ hộ đã đem cho vay
và lấy lãi. Mặt khác để thu hút lượng tiền gửi ngày càng nhiều, các nhà giữ hộ
tiền thay đổi từ hình thức thu phí sang hình thức trả lãi cho người gửi tiền. Bằng
cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng
nhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất. Cứ như vậy với sự
phát triển của kinh tế và công nghệ, xuất hiện các tổ chức thực hiện các hoạt
3
động như: huy động vốn, cho vay, trung gian thanh toán - lúc đó ngân hàng thực
sự ra đời.
Cùng với sự phát triển của kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã
có những bước tiến rất nhanh. Và cho tới ngày nay, ngân hàng vẫn được khẳng
định là loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Các ngân hàng có thể
được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện
trong nền kinh tế, do đó có một số khái niệm về ngân hàng thương mại (NHTM).
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên
phương diện các dịch vụ tài chính mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế". Sự đa
dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc hình thành các
ngân hàng đa năng như ngày nay.
Hoặc "Ngân hàng thương mại là đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ
với những hoạt động chủ yếu và thường xuyên nhận tiền gửi với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay và làm phương tiện thanh toán”.
Luật Các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
lại định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để
cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
1.1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và
cung cấp các dịch vụ quản lý cho khách hàng, đồng thời nó cũng thực hiện nhiều
vai trò khác trong nền kinh tế. Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc
vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu,
thực hiện dịch vụ đó một cách có hiệu quả. Các dịch vụ của ngân hàng được thể
hiện thông qua các hoạt động cơ bản của nó.
4
a) Nghiệp vụ huy động vốn
Nguồn vốn của ngân hàng tập trung chủ yếu vào 3 nhóm: tiền gửi, tiền vay
và vốn tự có. Nguồn quan trọng nhất là các khoản tiền gửi thanh toán và tiết
kiệm của khách hàng.
- Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của
NHTM. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở các
khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân
hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư. Để gia tăng
tiền gửi trong môi trường cạnh tranh, các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức
huy động khác nhau:
+ Tiền gửi thanh toán – là tiền của các doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào
ngân hàng để nhờ giữ và thanh toán hộ.
+ Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác.
- Vốn vay: Vào những giai đoạn cụ thể, các ngân hàng phải đi vay mượn
thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế.
+ Phát hành giấy tờ có giá: kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu
+ Vay NHTW
+ Vay các tổ chức tín dụng khác.
- Vốn chủ chủ sở hữu: Để đảm bảo hoạt động, các ngân hàng phải có một
lượng vốn nhất định, có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà
cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất
sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị
trường.
+ Nguồn vốn hình thành ban đầu: có thể là vốn của nhà nước, vốn do các
cổ đông tham gia đóng góp, vốn do các bên liên doanh góp, vốn sở hữu tư nhân.
5
+ Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: nguồn từ lợi nhuận,
nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm,...
+ Các quỹ: quỹ dự phòng tổn thất, quỹ thăng dư...
b) Nghiệp vụ sử dụng vốn
Hoạt động chính của NHTM là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi
nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau
của ngân hàng nhưng phải đảm bảo an toàn và sinh lời.
Nghiệp vụ sử dụng vốn bao gồm:
- Nghiệp vụ ngân quĩ: Tiền mặt trong két, vàng và các kim khí, đá quí
khác, tiền gửi tại NHTW, tiền gửi tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác.
- Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng
vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng
khoán trên thị trường vốn nhưng phổ biến vẫn là đầu tư vào chứng khoán (Trái
phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty...).
- Nghiệp vụ cho vay (nghiệp vụ tín dụng): Là nghiệp vụ tạo khả năng sinh
lời chính trong hoạt động của NHTM, thông qua các hình thức phổ biến sau:
+ Chiết khấu thương phiếu
+ Thấu chi
+ Cho vay trực tiếp từng lần
+ Cho vay theo hạn mức
+ Cho vay luân chuyển
+ Cho vay trả góp
+ Cho vay gián tiếp
c) Các nghiệp vụ khác
Là các nghiệp vụ và các hoạt động mà ngân hàng hoàn thành các dịch vụ
cho khách hàng, qua đó ngân hàng nhận được khoản thu nhập dưới dạng hoa
hồng. Gồm các nghiệp vụ như sau:
6
+ Hoạt động thanh toán: Thanh toán không dùng tiền mặt qua hệ thống
ngân hàng tạo ra nhiều lợi nhuận trong thanh toán, giảm chi phí, giảm rủi ro khi
đem theo nhiều tiền mặt trong người đồng thời tận dụng được khối lượng tiền
nhàn rỗi đem đầu tư mới.
+ Hoạt động mua bán chuyển đổi ngoại tệ.
+ Hoạt động bảo lãnh.
+ Bảo quản vật có giá.
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện nhiều hoạt động khác trên thị trường
như kinh doanh vàng, bạc, đá quý; dịch vụ tư vấn, dịch vụ cầm đồ, cho thuê két
sắt... Các nghiệp vụ này giúp NHTM thu được những khoản lợi nhuận đáng kể.
Đặc biệt là trong xu thế ngân hàng hiện đại ngày nay, các nghiệp vụ này đang rất
phát triển.
Với ý nghĩa như trên, chúng ta có thể coi hoạt động ngân hàng của NHTM
trong nền kính tế thị trường là thiết lập, phát triển, hoàn thiện các mối quan hệ
với khách hàng thông qua các sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho mọi khách hàng.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG
1.2.1 Khái niệm về tín dụng và chất lượng tín dụng ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm về tín dụng, đặc diểm của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế cần
một lượng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có hoặc
số tiền hiện có chưa đủ, họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu
cầu. Có 2 cách vay mượn: vay chính loại hàng hóa đang có nhu cầu hoặc vay
tiền để mua loại hàng hóa đó. Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tín
dụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn
đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Như vậy, có thể hiểu
“ Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình
thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một
7
thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban
đầu”.
Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (hoặc
các trung gian khác) – tín dụng ngân hàng – thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng
cho vay. Như vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là
ngân hàng và một bên là các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
và dân cư.
Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò
trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về
vốn. Khác với hình thức tín dụng trực tiếp, nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là
nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng cũng như thời hạn và mục đích
sử dụng. Vì nguồn vốn huy động có tính chất nhàn rỗi tạm thời nên tín dụng
ngân hàng chủ yếu đáp ứng các nhu cầu vốn gắn hạn. Tín dụng ngân hàng có vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các
doanh nghiệp, góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích tụ, tập trung vốn và tăng cường
khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng được sử dụng
như công cụ để phát triển các ngành kinh tế chiến lược theo yêu cầu của Chính
phủ.
Tín dụng ngân hàng mang một số đặc điểm sau:
 Mục đích, đối tượng, thời hạn khoản vốn vay
- Mục đích: Đáp ứng nhu cầu vốn để tài trợ cho tài sản lưu động của
doanh nghiệp, đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, mua sắm trang thiết bị,
cải tiến kĩ thuật, mua công nghệ... của doanh nghiệp.
- Đối tượng: Ngân hàng cho vay đối với nhà nước để tài trợ cho nhu cầu
chi tiêu thường xuyên của nhà nước. Ngân hàng cho vay đối với các ngân hàng
và các tổ chức tài chính khác nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Ngân hàng
cho vay đối với các doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng thêm cho sản
8
xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng đông nhất của các
NHTM, phần lớn các khoản cho vay này có thể chấp hoặc cầm cố tài sản. Ngân
hàng cho vay đối với các cá nhân, hộ gia đình.
- Thời hạn cho vay: Là khoảng thời hạn tính từ khi khách hàng bắt đầu
nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và có lãi vốn vay đã được thỏa
thuận trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng.
 Hình thức tín dụng phong phú
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, góp phần phân
tán rủi ro, đồng thời để tăng sức cạnh tranh trên thị trường tín dụng, các NHTM
không ngừng phát triển các hình thức cho vay, như: nghiệp vụ thấu chi, nghiệp
vụ chiết khấu, nghiệp vụ cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức...
 Là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động của NHTM
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chính của NHTM, một
hoạt động tạo ra phần lớn thu nhập cho ngân hàng, một hoạt động rất phức tạp và
chứa đựng nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng không thu được cả
gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi khoản vay không
đúng kỳ hạn. Từ đó rất dễ mang lại những tổn thất lớn cho ngân hàng và có thể
làm cho ngân hàng đi đến chỗ phá sản. Vấn đề quan trọng ở đây là làm sao nhận
biết được rủi ro, từ đó có những giải pháp để đối phó kịp thời, giảm thiểu rủi ro
nhằm bảo toàn vốn cho ngân hàng cũng như nâng cao khả năng sinh lời từ hoạt
động này.
1.2.1.2 Quan niệm về chất lượng tín dụng
Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng vững
trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng là điều tất yếu. Trong 3
yếu tố: chất lượng, giá cả và lượng bán thì chất lượng là yếu tố quan trọng nhất,
bởi vì khi chất lượng được nâng lên, giá thành sẽ hạ, đảm bảo thoả mãn cho
khách hàng cả về chất lượng, giá cả, tạo điều kiện nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị
trường.
9
Với nhiều cách đề cập về chất lượng, nhiều nhà kinh tế, nhiều nhà kinh
doanh đã nói đến chất lượng bằng nhiều cách khác nhau, chất lượng là: “sự phù
hợp với mục đích hoặc sự sử dung”, là “ một trình độ dự kiến về độ đồng đều và
độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường” hoặc “chất lượng là năng
lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của
người sử dụng”. Với cách đề cập như vậy, có thể hiểu: “Chất lượng tín dụng là
sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã
hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng”.
Qua khái niệm có thể thấy, khi xem xét chất lượng tín dụng cần tính đến 3
nhân tố, đó là: NHTM, khách hàng và nền kinh tế.
- Thứ nhất, đối với NHTM thì chất lượng tín dụng được thể hiện ở phạm
vị, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng
và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng
hạn và có lãi.
- Thứ hai, đối với khách hàng thì khoản tín dụng có chất lượng là phải
phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ
tục, thời gian đơn giản, thuận tiện, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn
đảm bảo được nguyên tắc tín dụng.
- Thứ ba, đối với nền kinh tế, khoản tín dụng có chất lượng là khoản tín
dụng phải hỗ trợ cho hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phàn giải
quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy
quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng
trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua
các chỉ tiêu có thể tính toán như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn...) vừa trừu
tượng (thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế...).
Chất lượng tín dụng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý,
trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ...) và khách quan (sự thay đổi
10
của môi trường bên ngoài, sự cố ý của khách hàng...). Chất lượng tín dụng là một
chỉ tiêu tổng hợp nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi nhu
cầu môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá
trình cạnh tranh để tồn tại và được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được khách
hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện; mức độ an toàn của vốn tín dụng; chi phí
tổng thể về lãi suất, chi phí nghiệp vụ...
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các NHTM,
phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Trong quản lý tín dụng, các nhà
quản lý kinh tế thường phân chia theo các tiêu thức sau:
a) Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn hợp đồng ngắn
thường là dưới 12 tháng và có thể được chia thành các khoảng thời gian là 3
tháng, 6 tháng, 9 tháng và 12 tháng. Nhu cầu vốn ngắn hạn của nền kinh tế xuất
phát từ những nhu cầu trong chu kỳ sản xuất kinh doanh để mua nguyên vật liệu,
trả lương, dự trữ hàng hoá. Nói chung tín dụng ngắn hạn đóng vai trò quan trọng
trong vốn lưu động của doanh nghiệp.
- Tín dụng trung hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn hợp đồng từ trên 1
năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài
sản cố định hoặc đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,
xây dựng các dự án mà có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và tối đa có thể
lên tới 20 đên 40 năm. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp
ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận
tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Việc phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân
hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng
cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
11
b) Căn cứ vào hình thức tài trợ
- Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
- Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở
hữu một thương phiếu chưa đến hạn.
- Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định khách hàng phải trả cả
gốc và lãi cho ngân hàng.
- Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghiệp vụ tài chính
hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng cho
khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
c) Căn cứ vào mức độ đảm bảo
- Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người
bảo lãnh đứng ra đảm bảo cho khoản nợ.
- Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức tín dụng không có tìa sản đảm
bảo hoặc người bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản nợ vay.
d) Căn cứ vào mức độ rủi ro
- Tín dụng lành mạnh: Là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
- Tín dụng có vấn đề: Là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng
gặp thiên tai...
- Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Là khoản nợ đã quá hạn với thời hạn
ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn...
- Nợ quá hạn khó đòi: Là các khoản nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ rất
kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì...
Ngoài ra còn một số hình thức phân loại tín dụng khác như căn cứ vào đối
tượng tín dụng, căn cứ vào mục đích sử dụng, căn cứ vào ngành kinh tế...
12
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường và chỉ tiêu
đánh giá chất lượng tín dụng
1.2.3.1 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Vốn có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã
hội, vì nó là nhân tố không thể thiếu để ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ,
phát triển công nghệ và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cùng với sự phát
triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, nhu cầu vốn cho đầu tư, xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật, phát triển sản xuất kinh doanh... trong nền kinh tế ngày càng
lớn. Nguồn vốn đáp ứng nhu cầu này có thể khai thác từ nhiều kênh: kênh dẫn
vốn từ ngân sách nhà nước, tín dụng ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, từ
cá nhân... trong đó tín dụng ngân hàng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của tín dụng ngân hàng thể hiện ở
những mặt sau:
* Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn đầu
tư cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và làm phát triển tốc độ chu chuyển vốn
trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng đã trở thành một kênh
dẫn vốn một cách kịp thời cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể
kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy mạnh tốc độ sản xuất
cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Với một hệ thống các hình thức tín dụng đa
dạng, ngân hàng không những thoả mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế
mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi
phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguốn vốn cho các chủ thể kinh doanh.
Bên cạnh đó, ngân hàng không ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình
thức tín dụng, từ đó sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực
hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, giúp các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ
hội đầu tư và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội.
13
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động rất phức tạp và chứa
đựng nhiều rủi ro. Do đó các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo
các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro, buộc những người đi vay phải quan tâm
thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ
chức cung ứng tín dụng.
* Tín dụng ngân hàng góp phần giúp các chủ thể kinh tế tăng cường
quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả.
Bản chất của tín dụng là hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian
qui định. Do vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng phản ánh phần nào kết quả sản
xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, thúc đẩy các chủ thể kinh tế sử dụng
vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, tạo lợi nhuận cao...
Các chủ thể kinh tế khi sử dụng vốn vay ngân hàng phải thực hiện đầy đủ
cam kết với ngân hàng, để đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có khả năng
hoàn trả được gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn. Chính vì vậy, các chủ thể kinh
tế phải sử dụng rất nhiều biện pháp tăng cường chế độ quản lý hạch toán, chế độ
quản lý tài chính, chế độ kế toán... Còn về phía ngân hàng, trước khi cho vay
phải xem xét, đánh giá kỹ lưỡng phương án sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp và ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có phương án khả
thi, cân đối được nguồn vốn để tài trợ đúng hạn cho ngân hàng. Trong thời hạn
thực hiện hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện quá trình giám sát, kiểm tra,
kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay, thông qua đó ngân hàng sẽ giám sát
chặt chẽ việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải sử
dụng vốn đúng mục đích.
* Tín dụng ngân hàng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến
các mục tiêu vĩ mô.
Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế bao gồm ổn định giá cả, tăng trưởng
kinh tế và tạo công ăn việc làm. Việc đảm bảo một cách hài hoà các mục tiêu
phụ thuộc vào khối lượng và cơ cấu tín dụng, phụ thuộc vào các điều kiện tín
14
dụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở
rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ. Như vậy,
thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín dụng như lãi suất, điều
kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy
định trong chính sách tín dụng từng thời kỳ, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín
dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó ảnh hưởng
đến tổng cầu của nền kinh tế. Sự thay đổi của tổng cầu dựa trên tác động của
chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại với tổng cung và các điều kiện sản
xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác động
của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết.
* Tín dụng ngân hàng tác động vào xu hướng chuyển dịch cơ cấu sản
xuất kinh doanh theo hướng CNH – HĐH.
Hiện nay, Nhà nước ta đang đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế
về công nghiệp và dịch vụ. Trong điều kiện hạn chế về khả năng huy động vốn
từ ngân sách, bị động với nguồn vốn bên ngoài thì phát huy nội lực bằng việc
huy động vốn tại chỗ để đầu tư cho vay thông qua hệ thống tín dụng ngân hàng
có ý nghĩa vô cùng to lớn để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Những doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực, ngành nghề, những vùng
mà Chính phủ khuyến khích phát triển thì các NHTM sẽ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp này, chẳng hạn như: lãi suất cho vay ưu đãi, nới lỏng hạn mức tín
dụng, đơn giản thủ tục vay... Chính sự ưu đãi này, đã giúp các doanh nghiệp đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh doanh, đưa đất nước phát triển
theo hướng CNH – HĐH.
* Tín dụng ngân hàng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội.
Các chính sách xã hội được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ
NSNN. Song phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và
thiếu hiệu quả. Để khắc phục hạn chế này, phương thức tài trợ không hoàn lại có
xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ hoàn lại của tín dụng để nhằm duy
15
trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng. Thông
qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách xã hội được đáp ứng một
cách chủ động và hiệu quả hơn. Bởi vì, để có đảm bảo hoàn trả vốn đúng thời
hạn, các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn,
từng bước cải thiện kỹ năng lao động. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn
định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn
tại độc lập với nguồn vốn tài trợ.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển
kinh tế thị trường. Và nếu tín dụng ngân hàng thực hiện tốt các vai trò trên thì
được coi là có chất lượng tín dụng.
1.2.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng
Do chất lượng tín dụng là chỉ tiêu mang tính định lượng nên để đánh giá
chất lượng tín dụng ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:
a) Chỉ tiêu nợ quá hạn
Xét về mặt bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó khả năng hoàn trả của
người vay là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi
một khoản vay không được hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý
do chính đáng thì nó đã vi phạm nguyên tắc tín dụng quan trọng nhất của ngân
hàng và nó bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường.
Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề, có khả
năng mất vốn có nghĩa là tính an toàn thấp.
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu quan trọng và phổ biến nhất khi đánh giá về
chất lượng tín dụng bởi vì nó biểu hiện cho những rủi ro tiềm ẩn về khả năng thu
hồi gốc và lãi mà ngân hàng đang phải đối mặt. Tuy nhiên khi đánh giá nợ quá
16
hạn có thể xem xét chi tiết hơn thông qua việc phân loại nợ quá hạn. Hiện nay,
theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN nợ quá hạn được chia thành 4 nhóm sau:
- Nợ cần chú ý: Là các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày, các khoản nợ cơ
cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại và các khoản nợ khác
theo quy định.
- Nợ dưới tiêu chuẩn: Là các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày, các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu
lại, các khoản nợ khác theo quy định.
- Nợ nghi ngờ: Là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo quy
định cơ cấu lại, các khoản nợ khác theo quy định.
- Nợ quá hạn có khả năng mất vốn: Là các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày, các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, các khoản nợ đã cơ cấu lại thời
hạn trả nợ trên 180 ngày theo thời hạn cơ cấu lại, các khoản nợ khác theo quy
định. Chỉ tiêu đánh giá:
Tỷ lệ NQH có NQH có khả năng mất vốn
khả năng mất vốn Tổng dư nợ
Các chỉ tiêu này phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của ngân
hàng. Tỷ lệ này càng thấp thì chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao, còn
ngược lại khi cả 4 chỉ tiêu này mà ở mức độ cao thì hoạt động kinh doanh của
ngân hàng đang gặp nhiều rủi ro, có thể đe dọa đến sự tồn tại của ngân hàng.
NHTM nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp.
Tuy nhiên trong thực tế do những rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi
nên các ngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định được coi
như giới hạn an toàn.
b) Tỷ lệ thu hồi nợ do bán tài sản của người vay
17
Nếu xét về bản chất tín dụng thì nguồn trả nợ cho ngân hàng của người
vay về nguyên tắc là được phân tích ra từ phần thu nhậo do hoạt động sản xuất
kinh doanh của khách hàng, nó bao gồm các chi phí lao động vật hóa và phần giá
trị mới sáng tạo ra. Tuy nhiên, có trường hợp do bán sử dụng vốn kém hiệu quả,
bị mất vốn, nên người vay phải bán tài sản để trả nợ ngân hàng. Số tiền do bán
tài sản có thể đủ để trả hết nợ món vay, nhưng cũng có thể chỉ trả được một phần
nợ vay, song trong trường hợp nào đi chăng nữa thì vẫn có thể đánh giá là chất
lượng lượng tín dụng thấp.
Tỷ lệ thanh toán nợ do Số tiền thu nợ do khách hàng bán tài sản
bán tài sản của người vay Tổng doanh số thu nợ
Tỷ lệ này được các NHTM tính theo định kỳ (tháng, quý, năm), số thu do
bán tài sản có thể thống kê theo báo cáo tín dụng. Tuy nhiên, đây là chỉ tiêu rất
khó đánh giá và số tài sản mà NHTM đang quản lý có tới hơn 1 nửa là tài sản
khó bán.
c) Hiệu suất sử dụng vốn
Dư nợ tín dụng
Hiệu suất sử dụng vốn = ---------------------
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô tín dụng so với tổng tài sản của một ngân
hàng tại một thời điểm. Tỷ lệ này mà thấp cho thấy ngân hàng hạn chế trong việc
huy động vốn. Ngược lại tỷ lệ này mà cao chứng tỏ các khoản cho vay chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng tài sản của ngân hàng, đây là điều tốt khi ngân hàng có
nguồn vốn dồi dào và ổn định, đồng thời cũng thể hiện việc quản lý các khoản
tín dụng của ngân hàng có thể là tốt.
d) Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Đây là chỉ tiêu thường được các NHTM tính toán hàng năm để đánh giá
khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng
18
nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa 3 lợi ích: Nhà nước, khách hàng
và ngân hàng. Công thức vòng quay vốn tín dụng được xác định như sau:
Doanh số thu nợ
Vòng quay của vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng (thường là 1
năm). Hệ số này càng tăng, phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng càng
tốt, chất lượng tín dụng càng cao.
e) Chỉ tiêu lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Lợi nhuận là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng, do đó không thể bỏ qua chỉ tiêu này khi đánh giá chất lượng tín
dụng. Chất lượng tín dụng không thể nói là cao nếu lợi nhuận từ hoạt động này
mang lại thấp.
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
- Chỉ tiêu 1:
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng dư nợ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ
lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng mang lại càng lớn,
đồng thời nó phản ánh chất lượng tín dụng tốt.
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
- Chỉ tiêu 2:
Tổng lợi nhuận của ngân hàng
Chỉ tiêu này nói lên mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng vào toàn bộ
kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận từ hoạt
động tín dụng mang lại càng lớn, đồng thời nó phản ánh chất lượng tín dụng tốt.
f) Cơ cấu tín dụng
- Doanh số cho vay/ Tổng doanh số cho vay
- Doanh số cho vay/ Tổng doanh số thu nợ
19
- Dư nợ/ Tổng dư nợ
- Doanh số cho vay: là tổng số tiền đã cho vay của ngân hàng đối với các doanh
nghiệp trong 1 thời kỳ. Doanh số này càng cao càng chứng tỏ quy mô đang tăng
trưởng, đó là 1 dấu hiệu rất tốt cho ngân hàng.
- Doanh số thu nợ: là số tiền ngân hàng thu nợ của các doanh nghiệp trong 1 thời
kỳ. Ngân hàng chỉ có thể có được doanh só thu nợ cao nếu họ cho vay được
nhiều và đó là các khoản tín dụng có chất lượng tốt.
- Dư nợ tín dụng: là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh số tiền mà khách hàng còn
vay ngân hàng tính đến 1 thời điểm cụ thể nào đó. Chỉ tiêu này mà lớn, chứng tỏ
ngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp (doanh nghiệp xây lắp) nhiều.
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ: là tốc độ phản ánh mức độ cho vay là nhanh hay
chậm của ngân hàng; được tính bằng cách lấy dư nợ năm sau trừ đi dư nợ năm
trước chia cho dư nợ năm trước. Nếu tỷ lệ này là dương có thể kết luận rằng thời
điểm sau đã có sự mở rộng hoạt động tín dụng so với thời điểm trước - tức là có
chất lượng tín dụng.
Nói chung, các ngân hàng đều mong muốn có được các tỷ lệ này cao vì
hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập lớn cho ngân hàng. Mỗi ngân
hàng tuỳ theo hoạt động của mình có kết cấu tài sản khác nhau mà tỷ lệ này khác
nhau.
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng và mang lại lợi nhuận cho
ngân hàng, chiếm tới khoảng 70% lợi nhuận của ngân hàng. Trong thời gian gần
đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã ảnh hưởng xấu tới chất lượng của
khoản vay này. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng chủ yếu tập
trung vào các nhân tố sau:
1.3.1 Từ môi trường kinh doanh
* Môi trường kinh tế
20