Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay tại ngân hàng công thương chi nhánh hai bà trưng

  • 72 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến mạnh
mẽ, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO những cơ hội và thách thức đặt ra càng
lớn. Cùng với đó là sự ra đời của rất nhiều những doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực
khác nhau, kéo theo sự ra đời của nhiều dự án lớn nhỏ khác nhau, vì thế nhu cầu
về vốn vay tài trợ cho các dự án này cũng tăng cao, đây sẽ là điều kiện vô cùng
thuận lợi cho các NHTM tăng cường hoạt động cho vay tài trợ cho dự án.Yêu
cầu đặt ra là khi số lượng các dự án ngày càng tăng như thế liệu chất lượng dự
án có được đảm bảo? Vấn đề về hiệu quả của dự án được đặt ra đối với các cơ
quan chức năng có liên quan, trong đó có NHTM.
Không nằm ngoài xu hướng chung, ngân hàng Công thương Chi nhánh
Hai Bà Trưng trong giai đoạn vừa qua đã thực hiện chỉ đạo của NHCT Việt
Nam: “ Tăng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ, mà chủ yếu là
cho vay theo dự án”. Điều này đòi hỏi chất lượng thẩm định cũng phải được
đảm bảo vì các dự án thường đòi hỏi lượng vốn lớn và thời gian khá dài nên
chứa đựng rủi ro lớn.
Sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Hai bà
Trưng, nhận thức được tầm quan trọng của việc thẩm định tài chính dự án nên
em đã quyết định chọn đề tài: “ Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Hai Bà
Trưng”. là chuyên đề thực tập của mình.
Nội dung của chuyên đề gồm 3 chương :
Chương 1: Chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay
của NHTM.
Chương 2 : Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án trong hoạt
động cho vay tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Chương 3 : Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự
án trong hoạt động cho vay tại NHCT Chi nhánh Hai Bà Trưng.
Do kiến thức còn hạn chế nên chuyên đề thực tập của em còn có nhiều
thiếu sót. Do vậy em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của của các thầy cô
trong khoa Ngân hàng – Tài chính và các cô chú, anh chị trong Chi nhánh Ngân
hàng công thương Hai Bà trưng..
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn cùng toàn thể cán bộ
NHCT Chi nhánh Hai Bà Trưng đã giúp đỡ tận tình để em hoàn thành chuyên đề
thực tập của mình.
CHƯƠNG 1
CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN TRONG
HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.1 Khái niệm
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp
nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả
tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi
suất.
1.1.2 Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM
Hoạt động cho vay, hay hoạt động tín dụng có vai trò rất quan trọng đối
với chính bản thân ngân hàng, đối với doanh nghiệp nói riêng và đối với nền
kinh tế nói chung. Tín dụng ngân hàng gồm có tín dung ngắn hạn, tín dụng trung
và dài hạn. Đối với từng chủ thể khác nhau, mỗi loại hình tín dụng lại có những
vai trò khác nhau. Cụ thể:
1.1.2.1. Vai trò của tín dụng ngắn hạn.
Tín dụng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi
chúng ta. Tín dụng đã góp phần làm ổn định và phát triển sản xuất của nền kinh
tế, các tổ chức và mỗi cá nhân. Cũng như các loại tín dụng khác, tín dụng ngắn
hạn có vai trò cực kỳ quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là một nước
trong giai đoạn đang phát triển thì tín dụng ngắn hạn càng có vai trò quan trọng.
Nó thể hiện:
* Đối với nền kinh tế
Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ. Với tư cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển
vốn từ những nơi thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong
nền kinh tế. Các kênh truyền dẫn vốn có thể qua thị trường tài chính đó là các
nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn, nhưng nó đã bị cạnh tranh mạnh mẽ của các
tổ chức tài chính phi ngân hàng tham gia vào thị trường này như: Công ty Bảo
hiểm, các quỹ đầu tư, công ty tài chính.. Hoặc là thị trường tiền tệ là kênh dẫn và
huy động những nguồn vốn và các giấy tờ có giá ngắn hạn. Thị trường này hoạt
động rất linh hoạt và cung cấp một nguồn rất lớn cho nền kinh tế. Do đó tín
dụng ngắn hạn ngày càng phát triển mạnh mẽ.
* Đối với các doanh nghiệp.
Tín dụng ngân hàng là nguồn bổ sung vốn lưu động để bảo đảm hoạt động
kinh doanh được liên tục
Không có sự ăn khớp về mặt thời gian giữa các khoản thu và các khoản
chi của một doanh nghiệp nên tại một thời điểm nhất định, trong nền kinh tế có
những thời điểm trong nền kinh tế có những doanh nghiệp thiếu vốn tạm thời và
cần bổ sung ngay để đảm bảo tính sản xuất được liên tục. Đối với các doanh
nghiệp sản xuất mang tính thời vụ như các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực
phẩm, các công ty chế biến nông sản, các doanh nghiệp xây lắp…hoặc các
doanh nghiệp có vòng quay vốn lưu động chậm thì các khoản tín dụng từ ngân
hàng có vai trò quan trọng trong việc giúp cho quá trình sản xuất không bị gián
đoạn. Các khoản tín dụng ngắn hạn có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp khi
xuất hiện cơ hội kinh doanh trên thị trường, giúp doanh nghiệp tận dụng được
thời cơ phát triển sản xuất.
Tín dụng ngắn hạn tạo áp lực buộc các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu
quả.
Một trong những nguyên tắc cơ bản là vay có hoàn trả ngốc lẫn lãi sau
một thời gian nhất định. Do vậy có thể trả nợ đúng hạn cho ngân hàng và tạo lập
được uy tín trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng, các doanh nghiệp phải hoạt
động có hiệu quả để trả nợ cho ngân hàng.
Như vậy, tín dụng ngân hàng cũng là một yếu tố kích thích sản xuất của
doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm để có
thể rút ngắn chu kỳ sản xuất, đưa nhanh sản phẩm vào lưu thông, tạo lập chỗ
đứng trên thị trường.
Đối với các doanh nghiệp lớn, công việc sản xuất đang phát triển thì phần
lớn vốn lưu động đều vay ngân hàng. Nhiều doanh nghiệp còn ký hợp đồng ứng
trước để có thể linh hoạt trong việc vay vốn, đáp ứng các cơ hội kinh doanh. Do
tính chất của tín dụng ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi kể cả trên phần dư
nợ vay chưa sử dụng đến. Do đó bắt buộc các doanh nghiệp phải quay vốn
nhanh và tính toán hoạt động kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho cả
doanh nghiệp và cả cho ngân hàng.
Nói tóm lại, tín dụng ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có được
nguồn bổ sung nguồn vốn lưu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả, trước là để trả các khoản nợ vay và sau là để phát triển
doanh nghiệp.
* Đối với ngân hàng.
Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo
nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đó là công cụ để
tạo nên lợi nhuận và phòng chống rủi ro của ngân hàng. Trong quá trình hoạt
động của các ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng phải quan tâm đến các vấn
đề : Phải tạo được nguồn thu bù đắp được các chi phí(chi phí huy động vốn, chi
phí trả lương, chi phí quản lý...). Mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh khoản
của ngân hàng. Tín dụng ngắn hạn có thể giúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề
này.
1.1.2.2. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn.
* Đối với doanh nghiệp
Là một chủ thể trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp luôn phải đối
mặt với sự cạnh tranh từ phía các đối thủ khác. Để có thể tồn tại và phát triển, tất
yếu doanh nghiệp phải thắng thế trong cạnh tranh. Muốn vậy, doanh nghiệp phải
xây dựng cho mình một chiến lược sản xuất - kinh doanh hợp lý, phù hợp với
năng lực, điều kiện của bản thân và điều kiện thị trường. Do đó, về lâu dài doanh
nghiệp phải chú trọng đến việc mở rộng sản xuất, mua sắm máy móc trang thiết
bị hiện đại, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm
và giảm thiểu chi phí đến mức thấp nhất có thể. Muốn thực hiện được điều này
đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đầu tư rất lớn. Để huy động vốn
cho các kế hoạch sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp có thể tìm kiếm từ các
nguồn sau:
Tự tích luỹ bằng lợi nhuận không chia: là một phương thức tạo nguồn tài
chính khá quan trọng đối với doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp tránh được
sự phân chia kiểm soát với bên ngoài. Tuy nhiên, phương thức tài trợ này đòi
hỏi một thời gian dài mới mang lại một lượng vốn đáng kể cho doanh nghiệp, do
đó có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh. Hơn nữa, tự tích luỹ
chỉ có thể thực hiện được trong điều kiện doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, có lợi
nhuận. Điều này là khó khăn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh
nghiệp mới đi vào hoạt động.
Phát hành cổ phiếu, trái phiếu: nguồn này có ưu điểm là có thể tập trung
được lượng vốn cần thiết trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, nếu phát hành cổ
phiếu có thể dẫn đến sự phân chia quyền kiểm soát công ty. Nếu phát hành trái
phiếu, doanh nghiệp sẽ phải chịu nhiều chi phí tốn kém như: chi phí giao dịch,
chi phí phát hành, lệ phí bảo hiểm, lệ phí đăng ký chứng khoán,… Hơn nữa,
không phải trái phiếu của doanh nghiệp nào cũng được công chúng đầu tư tín
nhiệm, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ điều kiện để được phép phát
hành trái phiếu ra công chúng. Thêm vào đó, trái phiếu không tạo ra sự linh hoạt
về kỳ hạn của khoản nợ.
Tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng: có ưu thế hơn so với các nguồn
trên, thể hiện ở chỗ:
Một là: Nó giúp cho doanh nghiệp chớp lấy thời cơ kinh doanh nhờ rút
ngắn thời gian tìm kiếm vốn. Thủ tục vay ngân hàng tuy chặt chẽ nhưng nếu
tuân thủ đúng thì thời gian để doanh nghiệp nhận được khoản tín dụng là ngắn
hơn rất nhiều so với tự tích luỹ hay phát hành trái phiếu, cổ phiếu.
Hai là: Không dẫn đến sự phân chia quyền kiểm soát công ty với bên
ngoài so với việc phát hành cổ phiếu.
Ba là: Mọi doanh nghiệp chỉ cần có tình hình tài chính lành mạnh, có
phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư khả thi đều có thể được ngân hàng
cấp tín dụng.
Bốn là: Tín dụng trung và dài hạn tạo ra sự linh hoạt về kỳ hạn: doanh
nghiệp có thể vay vốn ngân hàng theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh
và chu kỳ thu nhập. Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ của các khoản tín dụng trung và
dài hạn là dễ dàng: khi doanh nghiệp làm ăn thuận lợi, nhanh chóng thu hồi
được vốn đầu tư và có lãi, có thể trả nợ ngân hàng trước hạn. Ngược lại, khi
doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất - kinh doanh, có thể xin ngân hàng
gia hạn nợ. Mặt khác, việc trả nợ trung và dài hạn được phân chia thành các kỳ
hạn hợp lý và ổn định, giúp cho doanh nghiệp chủ động trong việc tìm kiếm
nguồn trả nợ. Những ưu điểm đó khiến cho tín dụng trung và dài hạn là một
nguồn được các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp mới đi vào hoạt
động ưa thích.
Mặc dù có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức huy động vốn khác
nhưng lãi suất tín dụng vẫn là một chi phí khá cao đối với doanh nghiệp. Cùng
với sự ràng buộc về thời hạn cho vay, mục đích sử dụng, nó buộc các doanh
nghiệp phải sử dụng vốn có hiệu quả: phải tính đến tính khả thi khi đầu tư, đòi
hỏi doanh thu thu được từ phương án sản xuất - kinh doanh, dự án đầu tư phải
đủ lớn để trả gốc và lãi cho ngân hàng mà doanh nghiệp vẫn có lãi. Thêm vào
đó, sự kiểm tra, giám sát của ngân hàng đối với khoản cho vay sau khi giải ngân
có tác dụng giúp doanh nghiệp phát hiện được những nhược điểm, sai sót trong
quá trình đầu tư, từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời nhằm hạn chế rủi ro cho
cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng.
* Đối với ngân hàng
Hai hoạt động cơ bản của một NHTM là huy động vốn và cho vay. Nói
cách khác, NHTM - trung gian tài chính lớn nhất trong nền kinh tế - đóng vai trò
là người "đi vay để cho vay". Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng tạo ra
nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện nghiệp vụ cho vay. Khi huy động vốn
từ nền kinh tế, ngân hàng phải bỏ ra chi phí. Để trang trải được các chi phí này,
bắt buộc ngân hàng phải sử dụng vốn huy động vào lĩnh vực đem lại lợi nhuận.
Thu nhập từ lãi vay là khoản thu nhập chủ yếu giúp trang trải được các chi phí
huy động, chi phí hoạt động và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó, có thể
nói tín dụng là nghiệp vụ quan trọng nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của
một NHTM. Không có hoạt động tín dụng thì không có NHTM.
Tín dụng trung và dài hạn với đặc điểm là rủi ro cao, vốn đầu tư lớn, thời
gian cho vay dài nên có lãi suất cao, là nguồn mang lại lợi nhuận chủ yếu cho
ngân hàng.
Thông qua hoạt động tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng không ngừng
mở rộng quy mô khách hàng: bằng việc thu hút thêm các khách hàng mới, tạo ra
mối liên hệ chặt chẽ và lâu bền với các khách hàng truyền thống. Nhờ đó, ngân
hàng không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, ngày càng khẳng định vị thế
và vai trò của mình trong nền kinh tế. Một ngân hàng sẽ không thể tồn tại và
phát triển trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh gay gắt từ phía
các ngân hàng và các trung gian tài chính khác nếu không đa dạng hoá hoạt
động cho vay, khách hàng vay và thời hạn vay.
Sau khi huy động được vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân
hàng không thể để vốn đó trong két mà phải sử dụng nó để tìm kiếm lợi nhuận.
Mặt khác, ngân hàng không thể "ngừng" nhận tiền gửi từ dân cư và các tổ chức
kinh tế. Nếu không có phương án sử dụng vốn huy động một cách khả thi thì
vốn huy động sẽ trở thành gánh nặnh cho ngân hàng (vì ngân hàng vẫn phải trả
lãi tiền gửi). Tín dụng trung và dài hạn góp phần vào việc làm cho vốn huy động
không bị nhàn rỗi, mà được sử dụng hiệu quả để đem lại lợi nhuận cao cho ngân
hàng. Tín dụng trung và dài hạn là một trong các cơ sở để ngân hàng mở rộng
huy động vốn, sử dụng vốn một cách khả thi, tăng sức cạnh tranh của bản thân
ngân hàng.
* Đối với nền kinh tế
Ở mọi quốc gia, nhu cầu vốn trung và dài hạn để đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng, hiện đại hoá và mở rộng sản xuất đều rất lớn. Nhu cầu này có thể được
đáp ứng bởi nhiều nguồn như: Ngân sách Nhà nước, viện trợ phát triển, vay nợ
nước ngoài nhưng nguồn quan trọng nhất vẫn là tín dụng trung và dài hạn của
các NHTM.
Trong nền kinh tế, do đặc điểm về chu kì kinh doanh, chu kỳ thu nhập của
các chủ thể là khác nhau, nên tồn tại hiện tượng: có những chủ thể tạm thời
thặng dư vốn nhưng chưa có dự án để đầu tư; ngược lại, có những chủ thể có
phương án sản xuất - kinh doanh khả thi nhưng lại thiếu hụt vốn. Tín dụng trung
và dài hạn đã khắc phục tình trạng này bằng cách chuyển các khoản tiền tạm
thời nhàn rỗi trong dân cư sang tay những người cần vốn để đầu tư phát triển sản
xuất - kinh doanh. Nhờ đó đã làm giảm hệ số tiền nhàn rỗi trong lưu thông, tăng
nhanh tốc độ quay vòng của vốn trong nền kinh tế.
Tín dụng trung và dài hạn bằng cách tài trợ cho việc sửa chữa, thay thế,
cải tiến máy móc, đổi mới công nghệ, các dự án xây dựng phát triển đã góp phần
quan trọng tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, tạo điều kiện cần
cho sự phát triển của đất nước trong tương lai. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối
với những nước mà cơ sở hạ tầng kinh tế - kĩ thuật còn lạc hậu như nước ta.
Thông qua việc cho vay đối với ngành nghề này mà không cho vay đối
với ngành nghề khác, tín dụng trung và dài hạn đã có ảnh hưởng tới việc chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Việc ưu tiên tập
trung vốn cho các ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn có tác dụng tạo ra bước
nhảy quan trọng cho nền kinh tế. Từ đó thúc đẩy, hỗ trợ, lôi cuốn các ngành
kinh tế khác cùng đi lên, tạo ra sự phát triển đồng bộ và toàn diện của nền kinh
tế.
Tín dụng trung và dài hạn thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Nguồn vốn trung dài hạn mà các doanh nghiệp nhận được từ các NHTM giúp họ
có thể nhập khẩu các máy móc, trang thiết bị hiện đại, công nghệ mới từ nước
ngoài - vốn có giá rất cao. Các máy móc, công nghệ này là tiền đề để doanh
nghiệp gia tăng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản xuất.
Điều này khiến cho hàng hoá của các doanh nghiệp trong nước được nâng cao
tính cạnh tranh so với hàng hoá của các nước trong khu vự và quốc tế, tạo cơ sở
để tăng cường xuất khẩu.
Tín dụng trung và dài hạn được mở rộng sẽ kéo theo sự phát triển của thị
trường sử dụng vốn ngắn hạn. Nguồn vốn trung và dài hạn được đầu tư để trang
bị máy móc, công nghệ hiện đại cho doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất phát
triển. Khi sản xuất phát triển, tất yếu nhu cầu sử dụng vốn lưu động sẽ tăng lên,
tạo ra thị trường sử dụng vốn ngắn hạn. Thị trường này càng được mở rộng khi
tốc độ phát triển sản xuất càng cao.
Tín dụng trung và dài hạn tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Nó
mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi. NHTM
và doanh nghiệp càng thu được nhiều lợi nhuận thì lượng thuế đóng cho ngân
sách Nhà nước càng nhiều. Thêm vào đó, bằng việc kích thích nền kinh tế phát
triển, kim ngạch xuất nhập khẩu gia tăng, lượng thuế gián thu thu được từ các
hoạt động kinh tế cũng tăng lên. Ta biết rằng thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân
sách Nhà nước nên thông qua việc làm tăng lượng thuế phải nộp, tín dụng trung
và dài hạn góp phần làm cho ngân sách Nhà nước tăng trưởng ổn định và lâu
dài.
Tín dụng trung và dài hạn còn góp phần ổn định cuộc sống, tạo công ăn
việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống của các tầng lớp dân cư.
1.1.3 Phân loại cho vay gồm có
Cho vay thương mại: Ngay từ thời kỳ đầu mới hình thành, các ngân hàng
đã chiết khấu thương phiếu, mà thực tế là cho vay đối với những người buôn
bán (người bán chuyển các khoản phai thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau
đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với
các khách hang (là người mua), giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ, mở rộng sản
xuất kinh doanh
Cho vay tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng không
tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình vì họ tin rằng các khoản cho vay
tiên dùng khả năng vỡ nợ là tương đối cao. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu
dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới
người tiêu dùng như một khách hàng tiềm năng. Sau chiến tranh thế giới thứ 2,
tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng tăng trưởng
nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Tài trợ cho dự án: Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn
hạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng
nhà máy mới, đặc biệt là các ngành công nghệ cao. Rủi ro trong loại hình tín
dụng này nói chung là cao song lãi suất lớn, một số ngân hàng còn cho vay để
đầu tư vào đất.
1.1.4. Hoạt động cho vay theo dự án của NHTM
Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng để tạo ra lợi
nhuận. Lãi thu được từ hoạt động cho vay là khoản thu lớn nhất để bù đắp chi
phí huy động vốn, chi phí kinh doanh và chi phí quản lý của ngân hàng. Khả
năng cho vay đối với khách hàng chính là lý do cơ bản để ngân hàng được cấp
phép hoạt động. Hơn nữa, thông qua các khoản vay của ngân hàng, thị trường sẽ
có thêm thông tin về khách hàng và khi đó giúp họ có khả năng nhận thêm các
khoản tín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn.
Các dự án đầu tư phát triển thường đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn và thời
gian dài, một số dự án đầu tư được sự hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, xu thế
hiện nay là việc các Ngân hàng thương mại là nhà tài trợ hoặc đồng tài trợ cho
các dự án đầu tư. Tại sao lại có xu hướng này?. Ta có thể nhận thấy một số
nguyên nhân sau:
* Quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, các dự án đầu tư
phát triển nhiều mà ngân sách Nhà nước thì có hạn không thể đáp ứng nổi nhu
cầu vốn cho tất cả các dự án đầu tư. Do vậy, việc Ngân hàng thương mại tài trợ
một phần, kết hợp với các nguồn khác là biện pháp hiệu quả đối với nhiều dự án
đầu tư phát triển có tính sinh lời cao, an toàn. Tài trợ của Ngân hàng thương mại
sẽ hạn chế bao cấp của Nhà nước cũng như hạn chế gánh nặng nợ nần của quốc
gia, hạn chế tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác thường phát sinh gắn
liền với tài trợ của Nhà nước. Góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, tăng sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy tăng trưởng và tạo ra một số
lượng lớn việc làm mới cho người lao động.
* Ổn định dư nợ lâu dài, giúp Ngân hàng có điều kiện dành nguồn lực để
nâng cao chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh doanh. Riêng đối với các dự án
trọng điểm của Nhà nước thì đảm bảo an toàn vì phần lớn được Bộ tài chính bảo
lãnh.
* Đào tạo và nâng cao trình độ quản trị điều hành đầu tư vốn theo dự án,
trình độ thẩm định và cho vay theo dự án của đội ngũ cán bộ ngân hàng, nhất là
nhiều ngành nghề mới, có kỹ thuật phức tạp. Rút ra nhiều bài học kinh nghiệm
quý báu về quản trị rủi ro trong lĩnh vực này.
* Cơ cấu lại tài sản có.
* Thúc đẩy sự cạnh tranh, hợp tác và nâng cao trình độ công nghệ ngân
hàng trong cộng đồng Ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua cho vay hợp
vốn, đồng tài trợ các dự án lớn.
Cho vay theo dự án đầu tư là hình thức Ngân hàng thương mại cho khách
hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và phục vụ đời sống. Thời hạn của món vay theo dự án được xác định phù
hợp với thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng
và tính chất nguồn vốn cho vay của Ngân hàng thương mại. Như vậy, cho vay
theo dự án đầu tư có đặc điểm sau:
Thời hạn cho vay kéo dài từ 12 đến 60 tháng đối với cho vay trung hạn và
từ 60 tháng trở lên đối với dự án cho vay dài hạn.
Vốn đầu tư cho các dự án thường khá lớn nhưng ngân hàng không cho
vay toàn bộ nhu cầu vốn của dự án mà Ngân hàng s ẽ c ăn c ứ v ào nhu c ầu
vay vốn của khách hàng tham gia vào dự án.
Tổng vốn đầu Vốn CSH hoặc Nguồn vốn huy
Số tiền cho vay = - -
tư của dự án VTC tham gia động khác
Ngoài ra, số tiền cho vay còn phụ thuộc vào giá trị tài sản bảo đảm của
khách hàng vay vốn. Nếu giá trị tài sản bảo đảm không đủ thì số tiền cho vay có
thể sẽ ít hơn so với nhu cầu vay của khách hàng.
Cho vay theo dự án đầu tư là phương thức cho vay trung và dài hạn, do
vậy rủi ro tín dụng sẽ cao, để bù đắp rủi ro, các Ngân hàng thương mại thường
áp dụng mức lãi suất cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn và thường là lãi suất
thỏa thuận giữa Ngân hàng với khách hàng.
Như vậy, cho vay theo dự án đầu tư mang lại lợi nhuận cao nhưng đồng
thời cũng chứa đựng nguy cơ rủi ro cao. Sự thất bại của một khoản vay đầu tư
không những làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng mà còn làm giảm khả năng
thanh khoản, uy tín của Ngân hàng. Trong trường hợp xảy ra rủi ro thanh khoản
có thể đưa Ngân hàng tới chỗ phá sản. Vì vậy, trước khi đưa ra quyết định có
cho vay hay không các Ngân hàng thương mại đều tiến hành thẩm định dự án
đầu tư.
1.2 Thẩm định tài chính dự án trong hoạt động cho vay của Ngân hàng
thương mại
1.2.1 Dự án
Dự án là một tập hợp những hoạt động có tính hệ thống được thực hiện
trong một thời gian xác định, bằng những nguồn lực xác định, với phương pháp
riêng và theo một quy hoạch tiến độ nhằm đạt một mục tiêu phát triển nhất định.
Như vậy: Dự án không phải là một ý định hay phác thảo mà có tính cụ
thể và mục tiêu xác định.
Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải tạo nên một
thực tế mới.
Dự án bao gồm các giai đoạn:
1.2.1.1 Giai đoạn xác định dự án
Đây là giai đoạn hình thành ý tưởng đầu tư. trên cơ sở nghiên cứư, thu
thập thông tin về chiến lược phát triển kinh tế của cả nước, của từng ngành hay
của tường lĩnh vực, đồng thời dựa trên những nghiên cứu về thị trường trong và
ngoài nước, các ý tưởng đầu tư sẽ được đề xuất và được chọn lọc một cách thận
trọng nhất.
1.2.1.2 Giai đoạn phân tích và lập dự án.
Đây là giai đoạn nghiên cứu chi tiết ý tưởng đầu tư đã được đề xuất và
được lựa chọn trên mọi phương diện: Thị trường, kỹ thuật, kinh tế xã hội, tài
chính, tổ chức, quản lý. Những nội dung trên được thể hiện trong nghiên cứu
tiền khả thi và nghiên cứu khả thi của dự án.
+ Nghiên cứu tiền khả thi là nghiên cứu sơ bộ ban đầu về nhu cầu và khả
năng tiến hành dự án cũng như kết quả của dự án.
+ Nghiên cứu khả thi hay còn gọi là lập luận chứng kinh tế kỹ thuật, là
giai đoạn nghiên cứu dự án một cách đầy đủ và toàn diện nhất. Đây là cơ sở
quan trọng nhất để chấp thuận hay bác bỏ dự án và lựa chọn phương án tốt nhất.
Giai đoạn phân tích và lập dự án được tiến hành cụ thể, sát thực và qua
thẩm định sẽ góp phần hạn chế đáng kể những rủi ro trong quá trình triển khai
thực hiện dự án.
1.2.1.3 Duyệt dự án
Đây là giai đoạn quyết định dự án có được chấp nhận hay không. Tham
gia duyệt dự án là một hội đồng gồm các thành viên liên quan như các cơ quan
nhà nước, các tổ chức tài chính và các thành phần khác. Mục đích của giai đoạn
này là xác định lại những kết luân được tổng hợp từ những giai đoạn trước để ra
quyết định cuối cùng. Nếu các dự án được khẳng định là có hiệu quả với các
mức chấp nhận được và khả thi thì hội đồng sẽ thông qua dự án và quyết định
đầu tư. Thực chất giai đoạn này cũng mang tính thẩm định song ở mức độ cơ
bản.
1.2.1.4. Thực hiện dự án
Dự án được triển khai thực hiện khi bắt đầu giải ngân. Giai đoạn này bao
gồm một số công đoạn: thi công xây dựng công trình, vận hành bước đầu tư dự
án (dự án sinh lời), dự án được sử dụng hết công suất và kết thúc dự án. Mặc dù
giai đoạn thực hiện dự án được tiến hành trên cơ sở các giai đoạn chuẩn bị, phân
tích và thẩm định thận trong, song những khó khăn rủi ro vẫn thường xảy ra. Do
vậy các nhà quản lý dự án phải giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện dự án để xử
lý linh hoạt các vấn đề nảy sinh.
1.2.1.5. Nghiệm thu, tổng kết và giải thể
Giai đoạn này được tiến hành sau khi thực hiện dự án. mục tiêu của giai
đoạn nghiệm thu, tổng kết và giải thể là đánh gía một cách toàn diện những
thành công và thất bại từ khi xác định, phân tích và lập dự án đến khi kết thúc
thực hiện dự án, đặc biệt là cần phân tích rõ các nguyên nhân thất bại để có giải
pháp khắc phục hữu hiệu khi quản lý các dự án tương tự khác trong tương lai.
Khi giải thể dự án ban quản lý dự án sẽ không tồn tại nữa nên cần bố trí lại công
việc cho các thành viên tham gia., sử lý các vấn đề hậu dự án kết quả hoạt động
cũng như các tài sản của dự án.
1.2.2 Dự án đầu tư
Dự án đầu tư có thể được xem ở nhiều góc độ
Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập tài liệu trình bày một cách chi
tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được
những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử
dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính , kinh tế xã hội trong
thời gian dài.
Trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch
chi tiết của một công cuộc sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm
tiền đề cho các quyết định đầu tư, tài trợ. Xét trên góc độ này, dự án đầu tư là
một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất nhất trong công tác kế hoạch hoá nền
kinh tế nói chung.( một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực
hiện nhiều dự án).
Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi tiết cần
thiết, được bố trí theo kế hoạch chặt chẽ với thời gian và địa điểm xác định để
tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện
những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Như vậy, một dự án đầu tư bao gồm 4 thành phần chính
* Các mục tiêu của dự án.
* Các kết quả của dự án
* Các hoạt động của dự án
* Các nguồn lực của dự án
1.2.3 Thẩm định dự án
1.2.3.1. Khái niệm thẩm định dự án
Dự án đựơc chuẩn bị, phân tích kỹ lưỡng đến đâu vẫn thể hiện tính chủ
quan của nhà phân tích và lập dự án, những khiếm khuyết, lệch lạc trong quá
trình lập dự án là lẽ đương nhiên Để khẳng định một cách chắc chắn hơn mức độ
hợp lý và hiệu quả, tính khả thi của dự án cũng như quyết định đầu tư thực hiện
dự án cần phải xem xét, kiểm tra một cách độc lập với quá trình chuẩn bị, soạn
thảo dự án, hay nói cách khác là thẩm định dự án.
Thẩm định dự án là rà soát kiểm tra một cách khoa học; khách quan và
toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằm khẳng định tính
hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án truớc khi quyết định đầu tư. Trong quá
trình thẩm định dự án nhiều khi phải tính toán phân tích lại dự án.
1.2.3.2. Nội dung của thẩm định dự án bao gồm các nội dung sau
* Thẩm định kỹ thuật dự án
+ Thẩm định sự cần thiết của dự án: xác định mức độ cấp thiết của dự án
đối với doanh nghiệp, đối với ngành, đối với nền kinh tế; xem xét sự phù hợp
của dự án đối với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô
thị, nông thôn.
+ Thẩm định quy mô của dự án: Thẩm định mức độ phù hợp giữa quy mô
của dự án , công suất của dự án với khả năng chấp nhận sản phẩm của thị
trường, với khả năng đáp ứng vốn, khả năng cung ứng nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị cũng như khả năng quản lý dự án của các nhà quản lý.
+ Thẩm định công nghệ và trang thiết bị: Xác định rõ căn cứ lựa chon
công nghệ, máy móc thiết bị, mức độ đảm bảo về chuyển giao công nghệ, lắp
đặt, bảo hành chạy thử, phụ tùng thay thế; đặc biệt lưu ý kiểm soát trang thiết bị;
chương trình đào tạo và quản lý con người phù hợp với công nghệ, thiết bị lựa
chọn.
+ Thẩm định nguồn nhiên liêụ và các yếu tố đầu vào khác: Kiểm tra việc
tính toán nhu cầu nguyên vật liệu chủ yếu, điện nước, vật liệu phụ trên cở sở
định mức kinh tế kỹ thuật phù hợp với công nghệ, máy móc, thiết bị. Đối với
nguyện liệu nhập khẩu hay nguyên liệu có tính thời vụ, cần xem lại mức dự trữ
đủ cho dự án vận hành. Đối với các dự án khai thác tài nguyên, khoáng sản, phải
thẩm định các số liệu điều tra, khảo sát về sản lượng.
+ Thẩm định phương án địa điểm xây dựng: Kiểm tra mức độ thuận tiện
về nguồn nguyên liệu, hệ thống giao thông, cở hạ tầng, diện tích sử dụng, mức
độ đảm bảo vệ sinh môi trường sinh thái, phương án xử lý chất thải, phòng
chống cháy nổ, an toàn lao động, mức độ đền bù giải phóng mặt bằng, kế hoạch
tái định cư.
+ Thẩm định phương án kiến trúc: Mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật,
độ bền vững, việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng.
Ngoài các nội dung trên, cần thẩm định phương diện tổ chức quản lý dự
án , tư cách pháp nhân của chủ đầu tư.
* Thẩm định kinh tế của dự án.
Thẩm định kinh tế là một nội dung quan trọng của thẩm định dự án nhằm
đánh giá lại hiệu quả của dự án trên giác độ toàn bộ nền kinh tế. nội dung này
thường được đặc biệt chú trong đối với các dự án được tài trợ bằng vốn của nhà
nước. Mặc dù vậy, thẩm định lợi ích và chi phí hay thẩm định tài chính của dự
án vẫn được đề cập.
Thẩm định kinh tế nhằm rà soát lại các mục tiêu của dự án, tác động của
dự án đến môi trường và các nhóm đối tượng khác nhau.trong xã hội, tính hợp lý
và tối ưu của dự án, mức độ ảnh hưởng ngân sách của dự án.
Trong thẩm định kinh tế của dự án cần thẩm định việc xác định giá kinh tế
của hàng hoá và dịch vụ mà dự án đem lại thông qua điều chỉnh giá thị trường,
tức là giá phản ánh được giá trị thực sự của hàng hoá và dịch vụ (chi phí và lợi
ích của chúng đối với nền kinh tế); trên cơ sở đó đánh giá những đóng góp của
dự án đối với nền kinh tế quốc dân.
Thông thường, một đóng góp quan trọng của dự án cho nền kinh tế được
xem xét thông qua sự gia tăng thu nhập quốc dân (đòng góp vào mục tiêu tăng
trưởng kinh tế). Đánh giá tác động của dự án tới sự gia tăng thu nhập quốc dân
được dựa trên các tiêu chuẩn hiệu quả như: Giá trị hiện tại ròng, tỷ lệ nội hoàn,
tỷ lệ lợi ích/chi phí. Tuy nhiên, trong phân tích cũng như trong thẩm định kinh tế
của dự án theo các tiêu chuẩn hiệu quả, đặc trưng quan trọng là phải xác định
được lợi ích và chi phí kinh tế cũng như chi phí cơ hộ kinh tế. Ngoài việc đánh
giá tác động trên, cần thiết đánh giá những tác động khác của dự án về kinh tế,
xã hội như giả quyết việc làm, cải thiện cán cân thanh toán, cải thiện môi trường
sinh thái, cải thiện đời sống sức khoẻ nhân dân.
Nhìn chung thẩm định kinh tế dự án là một công việc khó khăn và phức
tạp nhưng nó rất cần được tiến hành cùng với thẩm định tài chính dự án trước
khi quyết định thực hiện dự án.
* Thẩm định tài chính dự án.
Là một nội dung lớn và quan trong trong thẩm định dự án, thẩm định tài
chính dự án sẽ được trình bày cụ thể chi tiết hơn trong phần tiếp theo.
1.2.4 Thẩm định tài chính dự án
1.2.4.1 Khái niệm
Thẩm định tài chính dự án là rà soát, đánh giá một cách khoa học và toàn
diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà đầu tư: Doanh
nghiệp, các tổ chức tài chính , kinh tế khác, các cá nhân. Nếu như chính phủ,
các cơ quan quản lý vĩ mô quan tâm nhiều hơn tới hiệu quả kinh tế xã hội của dự
án thì các nhà đầu tư này lại quan tâm hơn đến khả năng sinh lãi của dự án.
Thẩm định tài chính dự án là một nội dung rất quan trọng trong thẩm định dự
án. Cùng với thẩm định kinh tế, thẩm định tài chính giúp các nhà đầu tư có
những thông tin cần thiết để đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.
1.2.4.2 Nội dung của thẩm định tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án bao gồm nhiều nội dung liên quan chặt chẽ với
nhau. Những nội dung chủ yếu được các nhà thẩm định chú trọng:
Xác định tổng dự toán vốn đầu tư và các nguồn tài trợ cũng như các
phương thức tài trợ dự án. Cụ thể: Xác định vốn đầu tư vào tài sản cố định, cách
thức huy động vốn ( vốn chủ sở hữu, vay nợ, thuê tài sản) từ các nguồn khác
nhau; lựa chọn phương thức tài trợ có lợi nhất.
Xác định chi phí và tổng lợi ích của dự án, từ đó xác định dòng tiền của
dự án. Những chi phí trực tiếp liên quan đến dự án bao gồm: Chi phí nguyên vật
liệu, chi phí thuê máy móc thiết bị, chi phí lao động… Lợi ích của dự án tuỳ
theo từng trường hợp cụ thể, có thể là mức gia tăng doanh thu, cải tiến chất
lượng sản phẩm, giảm chi phí, giảm mức thua lỗ.
Dự tính lãi suất chiết khấu: tuỳ theo các quan điểm khác nhau, cách dự
tính lãi suất này có thể khác nhau, song thực chất đó là dự tính lãi suất mong đợi
của nhà đầu tư.
Xác định tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tài chính dự án: như giá trị hiện tại
ròng( NPV), tỷ lệ hoàn vốn nội bộ( IRR), tỷ lệ nội hoàn có điều chỉnh (MIRR),
chỉ số doanh lợi ( PI ), thời gian hoàn vốn (PP ).
Đánh giá rủi ro trong dự án: Đánh giá khả năng xảy ra của một biến cố
không chắc chắn trong các giai đoạn đầu tư của dự án. Do vậy thẩm định đúng
rủi ro sẽ tạo điều kiện thực hiện đúng dự án như đã định.
1.2.4.3. Nhân tố ảnh hưởng tới quá trình thẩm định tài chính dự án
Thẩm định tài chính dự án phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Để có được kết
quả tốt nhất về thẩm định tài chính dự án – cơ sở tin cậy để đưa ra quyết định
đầu tư đúng đắn, cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng:
* Đội ngũ cán bộ: Kể cả người quản lý và cán bộ thẩm định là nhân tố
trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án. Nếu nhà quản lý
nhận thức đúng ý nghĩa của thẩm định tài chính dự án thì họ mới tạo điều kiện
cho cán bộ thẩm định. Nếu cán bộ thẩm định có năng lực chuyên môn tốt, thực
hiện tốt quy trình thẩm định thì kết quả thẩm định tài chính dự án được tin cậy.
Do tính chất phức tạp và phạm vi liên quan của dự án, cán bộ thẩm định nói
chung và cán bộ thẩm định tài chính nói riêng ko những phải có kiến thức
chuyên sâu mà còn phải hiểu biết rộng, có phẩm chất đạo đức tốt.
* Trang thiết bị, công nghệ: Đây là nhân tố ảnh hưởng đến thời gian và
độ chính xác của kết quả thẩm định tài chính dự án. Với trang thiết bị hiện đại,
việc thu thập và xử lý thông tin được tiến hành một cách nhanh chóng và chính
xác, các cở hội đầu tư được nắm bắt kịp thời..
* Thông tin: Thẩm định tài chính dự án được tiến hành trên cở sở phân
tích các thông tin trực tiếp và gián tiếp liên quan đến dự án. Đó là các thông tin
về thị trường trong nước quà quốc tế, thông tin kỹ thuật, quy hoạch phát triển
kinh tế của nhà nước v.v… Nếu những thông tin này không được thu thập một
cách chính xác, đầy đủ thì kết quả thẩm định tài chính dự án sẽ bị hạn chế, quyết
định đầu tư sai.
* Tổ chức công tác thẩm định tài chính dự án: Do quá trình thẩm định
tài chính dự án được tiến hành theo nhiều giai đoạn nên tổ chức công tác thẩm
định có ảnh hưởng không nhỏ đến thẩm định tài chính dự án. Nếu công tác này
được tổ chức một cách khoa học, hợp lý trên cở sở phân tích trách nhiệm cụ thể
của từng cá nhân, có kiểm tra giám sát chặt chẽ, kết quả thẩm định tài chính dự
án sẽ cao.
Ngoài ra, môi trường kinh tế xã hội, môi trường pháp lý, môi trường tự
nhiên cũng ảnh hưởng đáng kể tới thẩm định tài chính dự án.
1.2.4.4 Sự cần thiết nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án trong
hoạt động cho vay
Nghiệp vụ cho vay mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, cho vay để
thu lợi nhuận là cơ sở để ngân hàng tiến hành hoạt động huy động vốn. Tuy
nhiên, tất cả các ngân hàng đều sợ một rủi ro là khách hàng không có khả năng
hoàn trả vốn vay do làm ăn thua lỗ. Biểu hiện của tình trạng này là nợ quá hạn
ngày càng nhiểu. Để phòng ngừa rủi ro này các ngân hàng thường yêu cầu khách
hàng khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo. Nhưng biện pháp này chỉ là biện pháp
“chữa cháy” có tính đối phó, không phải là biện pháp lâu dài.
Hơn nữa, trong các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay ngoại trừ
Ngân hàng đầu tư phát triển, còn lại lâu nay hoạt động chủ yếu là kinh doanh tín
dụng ngắn hạn. Những năm gần đây, do dự thúc bách của yếu tố hội nhập, cạnh
tranh nên mới bắt đầu quan tâm đến tín dụng trung và dài hạn. Thế nhưng kết
quả của lĩnh vực này nhìn chung là rất khiêm tốn. Do vậy, công tác thẩm định
dự án nói chung và thẩm định tài chính dự án nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa
phổ biến áp dụng, còn đơn giản, sơ sài về nội dung và phương pháp. Không ít
doanh nghiệp bức xúc về trình độ nghiệp vụ Ngân hàng trong thẩm định các dự
án của doanh nghiệp vẫn còn thấp, thiếu tính khách quan, có những dự án rất