Nâng cao chất lượng cho vay hộ nông dân tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện chí linh tỉnh hải dương

  • 63 trang
  • file .doc
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới -WTO, từng bước hòa
nhập vào nền kinh tế sôi động của thế giới thì thị trường tài chính nói chung và các
ngân hàng nói riêng có những cơ hội thuận lợi cũng như phải đối mặt với những
khó khăn, thách thức lớn, cơ hội được tiếp xúc với khoa học, công nghệ tiên tiến,
hiện đại và thị trường rộng lớn, đa dạng; đồng thời theo nó cũng là thách thức của
sự cạnh tranh quyết liệt, đòi hỏi các ngân hàng phải vươn lên, tự khẳng định mình
với vị thế sân nhà và lớn hơn nữa là với thị trường quốc tế. Tất cả những doanh
nghiệp, dù là trong lĩnh vực nào nếu không đáp ứng được những đòi hỏi trên thì
việc sẽ khó khăn trong hoạt động kinh doanh là khó tránh khỏi. Các ngân hàng
nước ta hầu hết đều khá lạc hậu so với các nước tiên tiến trên thế giới, lạc hậu về
công nghệ, về trình độ, vì vậy mà việc cạnh tranh cũng không phải là dễ dàng.
NHNo Chí Linh đã và đang phải cạnh tranh với các ngân hàng khác nhau
trên địa bàn, có cả chi nhánh ngân hàng trong nước và cả chi nhánh của ngân hàng
nước ngoài, vì vậy việc phải từng bước hoàn thiện công tác tổ chức cũng như
nghiệp vụ phục vụ khách hàng để phát huy và tăng cường lợi thế của chi nhánh là
một việc hết sức quan trọng và cần thiết. Ở một địa bàn có hơn 95% số vốn xin vay
là để sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ thì chứng tỏ kinh tế hộ nông dân là một
mảng hết sức quan trọng với ngân hàng, việc phục vụ phát triển kinh tế nông
nghiệp chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, vì vậy việc nâng cao chất lượng cho vay
hộ nông dân là một trong những vấn đề được đặc biệt chú ý.
Trên địa bàn huyện Chí Linh có 9 Quỹ Tín dụng nhân dân, 5 Ngân hàng
Thương mại Quốc doanh (Ngân hàng Đầu tư & Phát triển - BIDV, Ngân hàng Nhà
Đồng bằng sông Cửu Long, Ngân hàng công thương - Incombank, Ngân hàng
Ngoại thương - Vietcombank và Ngân hàng No&PTNT Chí Linh), 2 chi nhánh
Ngân hàng Cổ phần (Sacombank, Ocean Bank), cần phải lưu ý rằng một số ngân
1
hàng đã lắp đặt máy rút tiền tự động – ATM để phục vụ khách hàng của mình trong
khi NHNo Chí Linh lại chưa trang bị phương tiện này, ngoài ra còn có Ngân hàng
chính sách xã hội. Đây thực sự là khó khăn lớn đối với NHNo Chí Linh nên đòi hỏi
sự nỗ lực hết mình của tất cả các cán bộ nhân viên ngân hàng trong việc tự hoàn
thiện mình để thu hút khách hàng và phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn. NHNo
Chí Linh xác định: “Mở rộng tín dụng phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng
tín dụng”. Sau một thời gian thực tập tại ngân hàng, nhận thấy hoạt động đem lại
nhiều lợi nhuận nhất cho ngân hàng là cho vay, chủ yếu là cho vay hộ nông dân,
tuy đã đạt được nhữnh thành tích hết sức quan trọng, nhưng bên cạnh đó vẫn còn
một số bất cập cần khác phục và hoàn thiện nên tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng
cao chất lượng cho vay hộ nông dân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn huyện Chí Linh - tỉnh Hải Dương” cho chuyên đề tốt nghiệp, vừa là
để học hỏi, tìm hiểu rõ hơn về vấn đề này cũng như đề xuất các giải pháp thực tiễn
để góp phần giúp hoạt động cho vay của ngân hàng đạt chất lượng tốt hơn, thu hút
nhiều khách hàng và nâng cao vị thế của mình.
2. Phạm vi nghiên cứu
Thực trạng chất lượng cho vay hộ nông dân tại chi nhánh NHNo&PTNT
huyện Chí Linh - Hải Dương giai đoạn 2005 đến nay và đưa ra các ý kiến đề xuất
nhằm góp phần nâng cao chất lượng cho vay của chi nhánh trong những năm tiếp
theo.
3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính là lấy số liệu và tổng hợp, phân tích, so sánh qua các
năm và với các đơn vị khác cùng ngành, cùng địa bàn.
2
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm và phân loại
Khái niệm: Cho vay là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể (NHTM và
người vay), trong đó một bên(NHTM) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia
(người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc
tài sản cam kết hoàn trả vốn (cả gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời
hạn đã thỏa thuận.
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại là tài trợ cho khách hàng dựa
trên cơ sở tín nhiệm gọi là hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng được phân chia thành nhiều loại khác
nhau, theo những cách khác nhau tùy theo nhu cầu của khách hàng hay mục tiêu
quản lý của ngân hàng. Có những cách phân loại thường dùng như sau:
1.1.1. Phân loại theo thời gian (thời hạn tín dụng)
Phân chia theo thời gian là cách ngân hàng hay sử dụng, nó liên quan trực
tiếp đến hoạt động của ngân hàng, tính sinh lời hay rủi ro, khả năng hoàn trả của
khách hàng cũng như khả năng thanh khoản của ngân hàng. Vì vậy mà phân chia
theo thời hạn tín dụng cần phải tuân thủ quy tắc rất nghiêm túc và chặt chẽ. Theo
thời gian, tín dụng được phân chia thành tín dụng ngắn, trung và dài hạn như sau:
 Tín dụng ngắn hạn: các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống
 Tín dụng trung hạn: các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5
năm
 Tín dụng dài hạn: các khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm
Các khoản tín dụng có thời hạn khác nhau sẽ được áp dụng các mức lãi suất
khác nhau, theo nguyên tắc thời gian càng dài thì rủi ro càng cao nên lãi suất vì thế
3
cũng tăng theo, áp dụng đối với cả hoạt động huy động vốn cũng như hoạt động
cho vay. Thông thường, ngân hàng sử dụng một nguồn nào đó để cho vay các
khoản có thời hạn tín dụng tương ứng với nó, ví dụ nguồn trung và dài hạn thường
cấp cho các khoản vay trung, dài hạn, trong trường hợp thiếu hụt nguồn tương ứng,
ngân hàng sẽ chuyển một phần từ nguồn khác sang nhưng với một tỷ lệ quy định
cho phép để đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng.
1.1.2. Phân loại theo tài sản bảo đảm
Theo tài sản bảo đảm, tín dụng được phân chia thành tín dụng có bảo đảm
bằng tài sản và tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản.
Tài sản bảo đảm là một hình thức đảm bảo cho ngân hàng có thể thu được
nợ, theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm bằng tài sản
cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên
thứ ba.
Tài sản bảo đảm là hình thức để ngân hàng có thể chắc chắn thu được nợ, là
nguồn trả nợ thứ hai của người vay, trong trường hợp nguồn thứ nhất (nguồn từ kết
quả sản xuất kinh doanh) vì nguyên do nào đó mà không có để trả hoặc trả không
đủ vốn (cả gốc và lãi) cho ngân hàng.
Tài sản bảo đảm thường áp dụng khi cho vay với những khách hàng có uy tín
không cao đối với ngân hàng, khả năng gặp rủi ro lớn hay những khách hàng mới
giao dịch lần đầu, nhưng hiện nay các ngân hàng thường đều áp dụng các biện pháp
bảo đảm bằng tài sản để hạn chế rủi ro mất vốn trong hoạt động kinh doanh của
mình.
Tài sản bảo đảm có thể là tài sản của người vay, của bên bảo lãnh để thực
hiện nghĩa vụ trả nợ, có thể là tài sản thuộc quyền sở hữu của người đó, giá trị
quyền sử dụng đất của người đó (bao gồm người vay và bên bảo lãnh), tài sản
thuộc quyền quản lý và sử dụng của khách hàng vay, của bên bảo lãnh (nếu là
doanh nghiệp nhà nước) hoặc là chính tài sản hình thành từ vốn vay, trong trường
4
hợp này thì tài sản bảo đảm khi đi vay của khách hàng chính là tài sản hình thành
trong tương lai.
Tín dụng không có tài sản bảo đảm có thể được dùng khi cho vay với những
khách hàng có uy tín cao, thường xuyên giao dịch với ngân hàng, làm ăn có lãi,
tình hình tài chính lành mạnh, hoặc trường hợp món vay là nhỏ so với vốn của
khách hàng.
Tín dụng không có tài sản bảo đảm là việc ngân hàng cho khách hàng của
mình vay mà không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, vì
thế mà ngân hàng cho vay chỉ dựa vào uy tín của khách hàng.
Hiện nay, theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ,
không quy định cụ thể khách hàng được vay không có bảo đảm bằng tài sản, về vấn
đề này tuỳ theo các TCTD khác nhau mà có các quy định khác nhau, chẳng hạn
như NHNo&PTNT Việt Nam có quyết định 1300/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 03 tháng
12 năm 2007, trong đó tại điều 2 có giao quyền lựa chon, quyết định việc cho vay
có bảo đảm hay không có bảo đảm bằng tài sản cho Giám đốc chi nhánh. Nói
chung khách hàng muốn vay vốn không cần bảo đảm bằng tài sản thì phải đáp ứng
đủ các điều kiện sau đây:
 Sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ gốc, lãi vốn vay đúng hạn trong quan
hệ vay vốn với tổ chức tín dụng cho vay hoặc các tổ chức tín dụng khác.
 Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu
quả, hoặc có dự án đầu tư phương án phục vụ đời sống khả thi, phù hợp với quy
định của pháp luật.
 Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
 Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức
tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng, cam
kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp đảm bảo bằng tài sản
quy định tại điểm này.
5
Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng những khách hàng được vay theo hình
thức không có tài sản bảo đảm phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ và cụ thể,
vì hình thức này tiềm ẩn rủi ro rất cao. Đối với những khoản cho vay theo chỉ thị
của chính phủ thì không cần có tài sản bảo đảm, hay những khoản vay với các tổ
chức tài chính, các công ty lớn uy tín cao cũng vậy. Nói chung phần lớn những
khách hàng này là những khách hàng có uy tín cao với ngân hàng nên nếu số khách
hàng vay với hình thức này càng nhiều thì càng chứng tỏ hoạt động hiệu quả của
ngân hàng, trong thẩm định cũng như trong quan hệ với khách hàng.
1.1.3. Phân loại theo rủi ro
Các ngân hàng phân chia các mức độ rủi ro khác nhau từ thấp đến cao và căn
cứ vào đó để phân loại tín dụng. Cách phân loại này tuy khó khăn cho ngân hàng
trong công tác thực hiện, vì phải phân loại lại sau mỗi kỳ kinh doanh, theo đó mà
tính điều chỉnh lãi suất, nhưng cũng lại rất dễ dàng cho ngân hàng trong việc đánh
giá tính an toàn của các khoản cho vay, từ đó mà có phương án và thực hiện việc
trích lập dự phòng cũng như xử lý các khoản tín dụng rủi ro một cách kịp thời.
Phân loại theo rủi ro phân chia các khoản tín dụng thành 5 nhóm nợ với tỷ lệ
trích lập dự phòng tổn thất như sau:
Bảng 1.1: Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro
(Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN VN)
Chỉ tiêu
Tiêu chí xếp loại Tỷ lệ trích lập
Nhóm
dự phòng
Nợ đủ tiêu chuẩn: Các khoản nợ có khả năng thu hồi cả 0%
1
gốc và lãi đúng hạn
2 Nợ cần chú ý: Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày 5%
Nợ dưới tiêu chuẩn: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến dưới 20%
3
180 ngày
4 Nợ nghi ngờ: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày 50%
Nợ có khả năng mất vốn: Các khoản nợ quá hạn trên 360 100%
5
ngày
6
Việc phân chia nhóm và trích lập dự phòng như vậy giúp ngân hàng chủ
động được trước những rủi ro và khi chúng xảy ra thì không làm ảnh hưởng nhiều
đến hoạt động của ngân hàng.
Ngoài những cách phân loại trên, ngân hàng có thể phân loại theo một số
phương thức khác như sau:
 Theo ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, …).
 Theo đối tượng khách hàng (cá nhân, doanh nghiệp…).
 Phương thức cho vay (từng lần, hạn mức, thấu chi…)
 Theo số lượng các bên tham gia (trực tiếp, gián tiếp, đồng tài trợ…)
 Theo mục đích sử dụng (tiêu dùng, kinh doanh, tài trợ dự án,…).
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng của ngân hàng, càng phân chia
thành nhiều nhóm nhỏ thì càng chứng tỏ đối tượng của ngân hàng là đa dạng, hay
cũng có những ngân hàng chỉ chú tâm vào một đối tượng khách hàng, ví dụ như
khách hàng nhỏ (ngân hàng bán lẻ), …trường hợp này thì lại chứng tỏ được tính
chuyên môn hóa cao của ngân hàng.
1.2. Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một hoạt động có vai trò vô cùng quan trọng đối với cả ngân
hàng và với nền kinh tế nói chung.
1.2.1. Đối với Ngân hàng
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng thương mại.
Để đảm bảo NHTM có thể duy trì và phát triển bền vững thì đòi hỏi hoạt động cho
vay của ngân hàng phải an toàn và hiệu quả.
Thông qua cho vay, ngân hàng có thể mở rộng các mối quan hệ và vị thế của
mình để có thể thu hút nhiều khách hàng hơn, nhằm thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Một khách hàng được ngân hàng phục vụ, vị khách đó hài lòng, giới thiệu cho bạn
bè, người thân, thì chắc chắn ngân hàng sẽ có lợi thế hơn so với các ngân hàng
khác.
7
1.2.2. Đối với nền kinh tế
Hoạt động cho vay của ngân hàng giúp điều tiết vốn trong nền kinh tế, luân
chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ những người có vốn đến những
người có nhu cầu sử dụng vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. Vì vậy
mà cho vay là hoạt động có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
NHTM giữ vai trò thu hút vốn từ nguồn nhàn rỗi và dùng nó để tài trợ cho
các hoạt động khác. Nhờ đó mà những người có vốn nhàn rỗi vừa được an toàn cho
tiền của mình lại vừa có thêm một khoản lợi nhuận từ phần lãi thu được. Hoạt động
này làm nền tảng cho hoạt động cho vay, những người có nhu cầu sử dụng thì có
được nguồn tài chính kịp thời để thực hiện việc của mình.
Qua hoạt động cho vay, NHTM giữ vai trò trung gian giữa các ngành kinh tế
khác nhau, giữa những cá nhân trong nền kinh tế với nhau, là cầu nối điều tiết để
nguồn vốn trong nền kinh tế luôn có sự vận động và quay vòng.
Hạn chế các hiện tượng xấu trong xã hội như cho vay nặng lãi, tín dụng
“đen”… giúp những người cần vốn không còn quá khó khăn trong tiếp cận nguồn
vốn mà lại chỉ phải trả một mức lãi suất bình quân với nền kinh tế.
Việc cho vay của NHTM góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế sản
xuất hàng hóa, những người, những doanh nghiệp có nhu cầu sản xuất hoặc mở
rộng sản xuất mà không đủ vốn thì đã có ngân hàng. Việc sản xuất hàng hóa diễn ra
ngày càng mở rộng và đạt hiệu quả làm cho nền kinh tế của đất nước nói chung
càng ngày càng phát triển.
1.3. Những điều cần chú ý trong hoạt động cho vay của NHTM
1.3.1. Nguyên tắc cho vay
Nguyên tắc cho vay có hiệu quả là điều kiện tối quan trọng để ngân hàng có
thể duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. Để đạt được điều này thì hoạt động cho
vay của ngân hàng phải lành mạnh và hiệu quả. Muốn vậy, các cán bộ tín dụng phải
thực hiện tốt việc thẩm định khả năng hoàn trả của người xin vay trước khi đồng ý
cho họ vay. Đồng thời trong quá trình kiểm tra, kiểm soát phải đảm bảo tính độc
8
lập và tuân thủ đúng quy trình cho vay, việc cho vay phải được tiến hành trên cơ sở
tuân thủ chặt chẽ các quy định có liên quan.
Ngân hàng chỉ cho vay khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau:
1. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín
dụng. Đây là nguyên tắc cơ bản và đòi hỏi việc thực hiện chặt chẽ, vì khách hàng
có sử dụng vốn vay đúng mục đích, thực hiện đúng phương án đã đưa ra thì mới có
khả năng thu hồi được vốn để trả cho ngân hàng, đồng thời có lãi để phục vụ cho
đời sống của mình, tiếp tục việc sản xuất.
Quy định này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức có thể xảy ra khi khách hàng sử
dụng vốn sai mục đích, trong một số trường hợp còn có thể là thực hiện các hành vi
trái với pháp luật.
2. Khách hàng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn. Bởi ngân
hàng cũng là người đi vay của dân cư hay một chủ thể nào khác và phải hoàn trả
cho họ khi đến hạn. Khi ngân hàng cho vay, họ phải tính toán xem sử dụng nguồn
nào là hợp lý để có thể thu được hiệu quả tốt nhất, thường là kỳ hạn của món vay
giống với kỳ hạn của nguồn thì sẽ là tốt nhất. Vì vậy mà khi món vay đến hạn, nếu
khách hàng không trả được nợ hoặc trả không đủ thì chắc rằng hoạt động của ngân
hàng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng, nếu số lượng các món vay như vậy là nhiều và lượng
vốn lại lớn thì chắc chắn ngân hàng sẽ gặp rắc rối.
1.3.2. Điều kiện vay vốn
Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể của ngân hàng đối với khách
hàng có nhu cầu vay vốn và ngân hàng chỉ cho vay đối với những khách hàng đáp
ứng được các điều kiện này. Thông thường, điều kiện vay vốn bao gồm:
1. Địa vị pháp lý của khách hàng: Khách hàng vay vốn phải có năng lực
pháp luật, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của
pháp luật.
9
Khách hàng của ngân hàng là đa dạng và có địa vị pháp lý khác nhau nên
tùy từng khách hàng cụ thể mà ngân hàng lại có những quy định riêng phù hợp với
quy định chung của pháp luật.
2. Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn (cả gốc và lãi) theo
hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng.
3. Mục đích sử dụng vốn vay là hợp pháp: Khách hàng không được vay
vốn ngân hàng để sử dụng cho các mục đích mà pháp luật cấm như: mua sắm tài
sản mà pháp luật cấm chuyển nhượng, tiến hành các giao dịch bị pháp luật cấm.
4. Có tài liệu đủ để chứng minh khả năng sử dụng vốn vay phù hợp với
quy định của pháp luật (phương án kinh doanh, …) và khả năng hoàn trả vốn vay
cho ngân hàng.
Trên cơ sở các điều kiện chung trên, căn cứ vào tính chất, quy mô, đối tượng
vay vốn mà ngân hàng sẽ quy định cụ thể điều kiện vay vốn đối với từng đối tượng.
1.3.3. Đối tượng cho vay
Mục đích hoạt động cho vay của các NHTM là nhằm đáp ứng nhu cầu vay
vốn hợp pháp của khách hàng, thông qua đó tìm kiếm lợi nhuận, nhưng không phải
khách hàng nào cũng được ngân hàng cho vay. Ngân hàng chỉ cho vay những nhu
cầu hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật.
Ở nước ta, theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN quy định Luật các tổ
chức tín dụng và quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều
của QĐ số 1627 thì Tổ chức tín dụng không được cho vay các nhu cầu vốn để:
a. Mua sắm các tài sản và chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật
cấm mua bán. chuyển nhượng, chuyển đổi.
b. Thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật
cấm.
c. Đáp ứng các nhu cầu tài chính của các giao dịch mà pháp luật
cấm.
1.3.4. Quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay
10
Hoạt động cho vay của ngân hàng luôn tiềm ẩn rất nhiều những rủi ro khác
nhau, vì thế mà để đảm bảo hoạt động cho vay có hiệu quả thì pháp luật cũng có
những quy định chặt chẽ để đảm bảo an toàn trong cho vay.
Quy định đầu tiên và cần thiết nhất là hoạt động cho vay của ngân hàng phải
lành mạnh và có hiệu quả. Vì thế, ngân hàng phải thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh
giá khả năng hoàn trả của người đi vay trước khi cho vay và trong quá trình người
đó sử dụng vốn vay, người vay phải đáp ứng được các điều kiện vay như đã trình
bày.
Các hạn chế để đảm bảo an toàn tín dụng có vai trò quan trọng trong việc
thực hiện cho vay, bởi nó quy định giới hạn cho vay của ngân hàng với mỗi khách
hàng, mỗi lĩnh vực, nhờ đó mà ngân hàng tránh được rủi ro lớn và phân tán được
rủi ro.
Các biện pháp đảm bảo trong cho vay nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở
kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay.
1.3.5. Hợp đồng
Hợp đồng tín dụng là văn bản pháp lý thể hiện mối quan hệ tín dụng giữa
ngân hàng và người vay, là cơ sở để ngân hàng thực hiện việc cho vay, quản lý các
khoản vay, thu hồi nợ và xử lý các tranh chấp nếu xảy ra. Vì vậy mà hợp đồng phải
quy định cụ thể, rõ ràng các nội dung chính như sau:
1. Điều kiện vay
2. Mục đích sử dụng tiền vay
3. Hình thức vay
4. Số tiền vay
5. Lãi suất
6. Thời hạn vay
7. Hình thức bảo đảm
8. Giá trị tài sản bảo đảm
9. Phương thức trả nợ
11
Và các cam kết khác được các bên thoả thuận.
Nội dung của hợp đồng phải logic, thống nhất, phản ánh đầy đủ điều khoản
và điều kiện tín dụng, quyền và nghĩa vụ giữa các bên, cam kết giữa các bên và
phải tuân thủ tuyệt đối các quy định pháp lý đã được quy định.
Hợp đồng chỉ có hiệu lực thi hành khi được ngân hàng va khách hàng ký tên
chấp thuận.
1.3.6. Xét duyệt cho vay, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay
Đây là khâu quan trọng để đảm bảo hiệu quả của hoạt động cho vay, để thực
hiện tốt giai đoạn này có nhiều cách thức khác nhau nhưng nhìn chung các ngân
hàng hay sử dụng các biện pháp cơ bản như sau:
 Thực hiện kiểm soát và xem xét định kỳ tất cả các loại hình cho vay.
 Kiểm soát thường xuyên các khoản cho vay lớn.
 Tổ chức quá trình kiểm soát để đảm bảo xem xét và đánh giá được tất cả
những đặc tính quan trọng nhất của mỗi khoản cho vay.
 Theo dõi thường xuyên các khoản vay có vấn đề
 Tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng.
Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nếu được tổ chức thực hiện tốt thì hoạt động
cho vay sẽ được diễn ra lành mạnh và đạt hiệu quả cao.
2. Chất lượng cho vay của NHTM
2.1. Khái niệm
Chất lượng của một khoản tín dụng ngân hàng được hiểu là lợi ích kinh tế
mà khoản tín dụng đó có thể mang lại cho cả người vay (khách hàng) và người cho
vay (ngân hàng) bên cạnh việc đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng
đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội.
Một hoạt động tín dụng bao gồm hai chủ thể khác nhau, đó là ngân hàng và
khách hàng. Khách hàng lựa chọn ngân hàng và ngân hàng cũng lại lựa chọn khách
hàng cho mình, như vậy thì hoạt động tín dụng diễn ra ít nhất phải dung hoà được
lợi ích của hai bên. Một bên cần vốn còn bên kia lại có vốn và cần cho vay để thu
12
lợi nhuận, nếu hoạt động hai chiều này diễn ra không vi phạm các quy định của
pháp luật, góp phần cho sự phát triển kinh tế chung thì mới là hoạt động có chất
lượng cao được.
Một khoản cho vay của ngân hàng phải đáp ứng được nhu cầu kinh tế của
khách hàng, giúp họ có tiền để đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng
như phục vụ các nhu cầu khác trong cuộc sống của họ. Bên cạnh đó, khoản vay ấy
còn phải đảm bảo khả năng an toàn và sinh lời cho ngân hàng, có như vậy thì ngân
hàng mới có thể tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động của mình, tiếp tục cung cấp
các khoản vay cũng như những dịch vụ khác cho khách hàng.
2.2. Chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay của NHTM
2.2.1. Các chỉ tiêu giới hạn trong cho vay
Theo các quy định tại:
1. QĐ số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2002
2. TT số 03/2005/TT-NHNN năm 2005
3. QĐ số 72/QĐ-HĐQT-NHNo
4. Văn bản số 1163/NHNo-TD
Thì việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản được giới hạn như sau:
 Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn
tự có của ngân hàng.
 Đối với hộ nông dân trang trại và hợp tác xã: Hộ nông dân được vay
vốn đến 10 triệu đồng, với những hộ là chủ trang trại có dự án khả thi hoặc đã được
ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra thì được vay đến 30 triệu đồng mà
không phải áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản.
Hợp tác xã làm dịch vụ cung ứng vật tư, cây, con giống có dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, NHNo xem
xét cho vay đến 100 triệu đồng không phải bảo đảm bằng tài sản.
HTX sản xuất hàng xuất khẩu, làm nghề truyền thống có dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hợp đồng xuất khẩu hoặc đơn đặt hàng
13
khả thi thì NHNo xem xét cho vay đến 500 triệu đồng không phải thế chấp bàng tài
sản.
2.2.2. Chỉ tiêu doanh số cho vay
Doanh số cho vay là tổng lượng tiền cho vay trong kỳ, doanh số này càng
lớn tức là vòng quay của vốn tín dụng càng lớn, có nhiều người tham gia sản xuất
trong xã hội, nhờ đó mà số người có việc làm trong xã hội cũng tăng lên, việc sản
xuất diễn ra thuận lợi đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng.
2.2.3. Chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, Tổng dư nợ
thấp cho thấy quy mô tín dụng của ngân hàng là nhỏ, càng chứng tỏ rằng ngân hàng
không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay của mình, có thể là khả năng tiếp
thị kém, trình độ của nhân viên còn chưa tốt, … Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao cũng
chưa hẳn là tốt đối với ngân hàng, chưa hoàn toàn phản ánh được chất lượng tín
dụng của ngân hàng là có tốt hay không, nếu trong đó còn có nhiều nợ xấu, vì vậy
mà ta phải sử dụng chỉ tiêu nợ xấu để phản ánh rõ hơn chất lượng tín dụng.
2.2.4. Chỉ tiêu nợ xấu
Dư nợ xấu là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số nợ xấu mà khách hàng chưa
trả được. Tuy nhiên, chỉ tiêu tuyệt đối cũng chưa thể giúp chúng ta đánh giá hết
được nên còn dùng đến chỉ tiêu tương đối:
Tổng dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = x 100
Tổng dư nợ cho vay
Chỉ tiêu này thể hiện chính xác tỷ lệ nợ xấu, đánh giá được trong 100 đồng
vốn ngân hàng cho vay có bao nhiêu đồng nợ xấu, giúp ngân hàng xác định rõ được
chất lượng hoạt động tín dụng của mình.
Trong chỉ tiêu này có thể phân chia thành tỷ lệ của từng loại nợ xấu khác
nhau:
 Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3)
14
 Nợ nghi ngờ (nhóm 4)
 Nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5)
2.2.5. Chỉ tiêu về số hộ vay vốn
Tổng số hộ vay vốn càng lớn thì càng chứng tỏ được quy mô mạng lưới hoạt
động của ngân hàng là rộng lớn và vị thế của ngân hàng đối với khách hàng càng
cao. Tuy nhiên, cũng giống như chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay, số hộ cho vay nhiều
chưa hẳn đã là tốt nếu trong số đó lại có nhiều hộ dư nợ xấu.
2.2.6. Chỉ tiêu về tỷ lệ thu nợ bằng nguồn thu thứ nhất
Nguồn thu thứ nhất là nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của người
vay, trong trường hợp nguồn này không đủ để trả nợ thì ngân hàng mới buộc phải
thi bằng nguồn thu thứ hai, đó là tài sản bảo đảm (trong thường hợp vay có tài sản
bảo đảm)
Doanh số thu nợ bằng
Tỷ lệ thu nợ bằng nguồn thu thứ nhất
nguồn thu thứ nhất =
Tổng doanh số thu nợ
Tỷ lệ này càng tiến tới 1 thì càng chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân
hàng là tốt, tỷ lệ càng nhỏ thì chất lượng tín dụng của ngân hàng cần phải xem xét
và kiểm tra, tổ chức lại.
2.2.7. Chỉ tiêu tỷ lệ thu lãi
Tổng số lãi thu được
Tỷ lệ thu lãi = x 100
Tổng số lãi phải thu
Tỷ lệ này càng cao thì càng phản ánh rằng hoạt động kinh doanh của ngân
hàng là tương đối tốt và chất lượng tín dụng cao, bởi việc cho khách hàng vay để
sản xuất mà họ hoạt động có hiệu quả thì mới trả được lãi ngân hàng đúng thời hạn
đã thoả thuận.
2.2.8. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
15
Doanh số thu nợ trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân trong kỳ
Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trong điều kiên ngân hàng hoạt
động bình thường, không có những biến đổi lớn, chỉ tiêu này chứng tỏ rằng ngân
hàng đã thu nợ được bao nhiêu so với số vốn cho vay ra, tỷ lệ này cao thì chứng tỏ
ngân hàng có khả năng tiếp tục cho vay được nhiều hơn nữa., đồng thời cũng phản
ánh mức độ rủi ro về lãi suất của ngân hàng là thấp. Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao thì
cũng có khả năng là hoạt động cho vay của ngân hàng đã bị thu nhỏ quy mô. Vì
vậy đòi hỏi ngân hàng phải có sự xem xét và kiểm tra hoạt động cho vay của mình.
2.2.9. Chỉ tiêu về quy trình cho vay, thời hạn cho vay
Quy trình cho vay bao gồm ở các giai đoạn trước, trong và sau khi cho vay,
quy trình cho vay được thực hiện đúng và nhanh chóng, thuận tiện cho khách hàng
thì chứng tỏ chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng là cao và ngược lại.
2.2.10. Chỉ tiêu về sự phát triển kinh tế của khách hàng
Ngân hàng cho vay khách hàng của mình, nếu người đó không có được sự
phát triển kinh tế, hoàn trả được nợ cho ngân hàng mà phải sử dụng đến tài sản đảm
bảo để trả nợ thì chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng vẫn chưa được cao.
Ngân hàng không phải chỉ cho vay xong là xong, mà còn phải giám sát việc
sử dụng vốn vay của khách hàng, vừa đảm bảo việc trả nợ của khách hàng, vừa là
giúp họ tiến hành hoạt động sản xuất đúng như hợp đồng đã ký, phát triển kinh tế
của bản thân cũng như góp phần cho sự phát triển của cả nền kinh tế.
Kinh tế của khách hàng càng phát triển thì càng chứng tỏ ngân hàng đã đầu
tư có hiệu quả, đánh giá một cách sát thực tế nhất về chất lượng hoạt động cho vay.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay của NHTM
2.3.1. Các nhân tố chủ quan
 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
16
Chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên và có vai trò chi phối lớn đến chất
lượng tín dụng. Trên cơ sở của chiến lược kinh doanh, ngân hàng sẽ có các biện
pháp xây dựng các chiến lược bộ phận cụ thể để thực hiện chiến lược kinh doanh
đó như: chiến lược về lãi suất, chiến lược về khách hàng,… để thực hiện các mục
tiêu cụ thể đã đề ra.
 Công tác tổ chức, nhân sự của ngân hàng
Công tác tổ chức, nhân sự của ngân hàng cũng là nhân tố hết sức quan trọng,
tổ chức của ngân hàng được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý, sao cho mỗi người
đều phát huy được hết khả năng, sở trường và tính sáng tạo của mình cũng như
phối hợp chặt chẽ với các nhân viên, phòng ban khác thì chắc chắn hoạt động của
ngân hàng sẽ hết sức nhịp nhàng, đem lại hiệu quả cao, vì vậy mà chất lượng tín
dụng cũng được nâng cao hơn.
 Việc xây dựng và tuân thủ quy trình nghiệp vụ
Mỗi ngân hàng đều có một quy trình làm việc riêng, chỉ có các bước cơ bản
là cần tuân thủ chung, việc xây dựng một quy trình nghiệp vụ chuẩn là cơ sở thực
hiện cho mọi thao tác được chính xác và nhịp nhàng, tiết kiệm thời gian và chi phí
cho ngân hàng cũng như khách hàng. Vì vậy mà việc tuân thủ nghiêm ngặt theo
quy trình nghiệp vụ đã được xây dựng chắc chắn hoạt động cho vay của ngân hàng
sẽ có chất lượng cao.
 Công tác kiểm tra, giám sát tín dụng
Đây cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng, mang tính bao quát chung cho
toàn ngân hàng. Việc kiểm tra giúp ngân hàng phát hiện được những sai sót của
cán bộ tín dụng cũng như của khách hàng để có các biện pháp xử lý thích hợp và
kịp thời, tránh được những rủi ro do phát hiện chậm mà đem lại hậu quả xấu cho
ngân hàng
 Hệ thống thông tin
Trong cho vay, việc thu thập thông tin về khách hàng là rất quan trọng,
nguồn thông tin lại rất phong phú, như: gặp phỏng vấn trực tiếp, qua hồ sơ cho vay,
17
qua các ngân hàng khác, qua các cơ quan quản lý địa phương, …Nếu ngân hàng có
được thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác về khách hàng thì việc phân tích đánh
giá họ sẽ có hiệu quả cao hơn, nhờ đó mà chất lượng hoạt động tín dụng cũng được
nâng cao.
 Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng
Cán bộ tín dụng ở đây bao gồm cả cán bộ điều hành và cán bộ trực tiếp thực
hiện hoạt động cho vay. Năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức, mà ta gọi chung là
chất lượng, ngày càng được đòi hỏi cao hơn trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh
vực ngân hàng, vì hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh loại hàng hoá đặc
biệt là tiền tệ có tính cạnh tranh cao và ngày càng quyết liệt.
Chất lượng cán bộ tín dụng đòi hỏi ngày càng cao hơn để theo kịp với tốc độ
thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh. Việc bồi dưỡng và nâng cao chất
lượng cho cán bộ tín dụng cũng như phải sử dụng những người có thực tài, xoá bỏ
cơ chế “xin, cho” sẽ giúp ngân hàng hạn chế được những rủi ro, hoạt động kinh
doanh có hiệu quả và phát triển không ngừng.
2.3.2. Các nhân tố khách quan
1. Nhân tố thuộc về chính sách
Ngân hàng là một bộ phận của nền kinh tế nên kinh tế tăng trưởng hay suy
thoái đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng.
Các nhân tố kinh tế khác như thị trường tiêu thụ hàng hoá, các yếu tố đầu
vào, giá cả sản phẩm, …tác động trực tiếp đến khách hàng của ngân hàng nên qua
đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Các cơ chế, chính sách của nhà nước thay đổi sẽ buộc ngân hàng phải thay
đổi theo, như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lượng vốn cho vay giới hạn, …nên cũng ảnh
hưởng trực tiếp tới hoạt động và chất lượng hoạt động tín dụng.
Việc quy hoạch vùng kinh tế, khu công nghiệp, định hướng phát triển của địa
phương nơi ngân hàng hoạt động sẽ tác động mạnh đến chất lượng tín dụng của
18
ngân hàng. Việc này đòi hỏi ngân hàng phải thay đổi năng động cho phù hợp, nếu
không sẽ bị ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
2. Nhân tố thuộc về pháp luật
Các quy định pháp lý về hoạt động ngân hàng cũng chi phối trực tiếp đến
hoạt động của ngân hàng, vì thế mà ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng.
3. Nhân tố thuộc về khách hàng
Khách hàng là nhân tố khách quan ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt
động tín dụng. Khách hàng có trình độ lao động cao, hoạt động sản xuất tiên tiến
thì chắc chắn việc vay và hoàn trả nợ cho ngân hàng là việc không khó. Nhưng
khách hàng có trình độ thấp sẽ khó tiếp cận được với công nghệ sản xuất tiên tiến,
hiện đại nên có thể việc sản xuất sẽ có kết quả không cao, thậm chí là thấp hơn so
với sự phát triển chung của nền kinh tế, vì vậy mà việc trả nợ ngân hàng có thể gặp
nhiều khó khăn.
Đạo đức của khách hàng cũng là vấn đề mà cán bộ tín dụng cần chú ý, nếu
khách hàng vay sử dụng không đúng với mục đích trong hợp đồng tín dụng thì rủi
ro không trả được nợ sẽ là rất cao. Ngoài việc giám sát thường xuyên của cán bộ tín
dụng thì đòi hỏi khách hàng phải có ý thức sử dụng vốn vay đúng mục đích, bởi
không có ngân hàng nào, cán bộ tín dụng nào có thể giám sát được hết hoạt động
của tất cả các khách hàng của mình. Đạo đức khách hàng cao thì chắc chắn chất
lượng hoạt động cho vay của ngân hàng cũng sẽ cao và ngược lại,
Chính khách hàng là người có vai trò quyết định trong sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng nên đây là yếu tố vô cùng quan trọng mà bản thân ngân hàng cần
phải chú ý. Ngân hàng có thể tranh thủ sự quan tâm, ủng hộ và phối hợp tạo điều
kiện của các cấp uỷ, Đảng, chính quyền, tổ chức đoàn thể, cơ quan chức năng tại
địa phương để tuyên truyền về hoạt động của ngân hàng cũng như giúp người dân
có nhận thức và hiểu biết tốt hơn trong việc thực hiện quan hệ tín dụng với ngân
hàng.
19
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP CHÍ LINH
1. Giới thiệu về ngân hàng
NHNo_CL là một trong 14 chi nhánh loại 3 ( trước là chi nhánh cấp 2) của
NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương. Với trụ sở tại trung tâm của huyện, thuận lợi cho
nhân dân đến giao dịch cũng như mạng lưới phòng giao dịch, đại lý tại các xã, ngân
hàng có lợi thế chiếm được thị phần khá lớn, nhưng vẫn còn những thách thức
trước mắt khi ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng khác mở chi nhánh tại đây, đòi
hỏi ngân hàng phải có sự nỗ lực và cố gắng hơn nữa.
NHNo_CL trước đây là Ngân hàng Nhà nước huyện Chí Linh, theo QĐ số
59/QĐ/NHNN ngày 26/3/1988 đã chuyển hệ thống ngân hàng Việt Nam từ một cấp
thành hai cấp và thành lập các ngân hàng thương mại quốc doanh nên ngân hàng
mới mang tên là NHNo_CL từ đó, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ và các
dịch vụ khác trên địa bàn huyện Chí Linh.
Huyện Chí Linh là một huyện miền núi của tỉnh Hải Dương, có 20 xã và 2
thị trấn. Dân số là hơn 160 ngàn người, khoảng 42120 hộ (trong đó hộ nghèo là
4770, hộ kinh doanh là 8150 hộ).
 Diện tích sản xuất nông nghiệp: 13686 ha
 Diện tích lâm nghiệp: 7544 ha
 Diện tích nuôi cá : 545 ha
 Diện tích cây ăn quả : 6500 ha
Qua số liệu thống kê, ta có thể dễ dàng nhận thấy diện tích sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn, NHNo lại là ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp,
nông thôn nên việc cho vay sản xuất nông nghiệp được chú trọng một cách thoả
đáng.
20