Nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp ngành xây dựng tại chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu eximbank hà nội

  • 61 trang
  • file .doc
LỜI MỞ ĐẦU
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 03/2007/NQ-CP ngày 19/1/2007 của
Chính phủ về những giải pháp chủ yếu điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế - xã
hội và ngân sách Nhà nước năm 2007, Chương trình công tác của Chính phủ và
Thủ tướng Chính phủ, năm qua, Bộ Xây dựng đã tập trung công tác xây dựng
pháp luật, triển khai thực hiện các đề án được thông qua với tư tưởng chỉ đạo
xuyên suốt là xây dựng đồng bộ, đầy đủ, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật về các lĩnh vực thuộc ngành Xây dựng theo hướng phủ kín các lĩnh
vực hoạt động, phân cấp mạnh, rõ quyền, rõ trách nhiệm, các thủ tục đơn giản,
thông thoáng tạo điều kiện phát huy nguồn lực, thúc đẩy các hoạt động xây dựng
của các tổ chức và cá nhân theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Với định
hướng phát triển ngành Xây dựng công tác quản lý ngành ngày một hoàn thiện,
các DNNXD đã đạt được sự tăng trưởng vượt bậc trong năm 2007. Bước vào
năm 2008, những thuận lợi và khó khăn đan xen đòi hỏi toàn Ngành phải nỗ lực
rất nhiều. Trong năm này, Ngành Xây dựng tiếp tục huy động các nguồn lực cho
đầu tư phát triển, dự kiến thực hiện đầu tư hàng năm cho giai đoạn 2006 - 2010
của các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng bình quân khoảng 25.000 tỷ đồng/năm. Nhu
cầu về vốn của các DNNXD rất lớn, trong khi đó, các DNNXD - đặc biệt là
doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ còn nhiều khó khăn trong việc tiếp cận
nguồn vốn cho vay của các NHTM.
Đối với Chi nhánh NHTMCP XNK Eximbank Hà Nội, DNNXD là một
đối tượng khách hàng quan trọng, được quan tâm đặc biệt từ năm 2006 đến nay,
với tỷ trọng dư nợ cho vay DNNXD luôn chiếm hơn 40% trong tổng dư nợ cho
vay của Chi nhánh trong 2 năm 2006-2007. Tuy nhiên, công tác quản lý chất
lượng cho vay của Chi nhánh đối với các DNNXD vẫn chưa được chú trọng bởi
đây là đối tượng khách hàng mới, các cán bộ cho vay vẫn chưa có kinh nghiệm
thẩm định, phân tích cũng như quản lý khoản cho vay. Do đó, việc nâng cao
chất lượng cho vay DNNXD là một đòi hỏi cấp thiết trong bối cảnh cạnh tranh
giữa các NHTM ngày càng gia tăng.
1
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực tập tại Chi nhánh
NHTMCP XNK Eximbank Hà Nội, em đã được tìm hiểu hoạt động cho vay
DNNXD. Xuất phất từ thực trạng trên, em đã lựa chọn đề tài “Nâng cao chất
lượng cho vay Doanh nghiệp Ngành Xây dựng tại Chi nhánh Ngân hàng
thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Eximbank Hà Nội” làm chuyên đề tốt
nghiệp.
Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chất lượng cho vay DNNXD của
NHTM;
- Đánh giá thực trạng chất lượng cho vay DNNXD tại Chi nhánh
NHTMCP XNK Eximbank Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng cho
vay DNNXD tại Chi nhánh NHTMCP XNK Eximbank Hà Nội.
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chất lượng cho vay của ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay của các doanh nghiệp ngành
xây dựng tại Chi nhánh NHTMCP XNK Eximbank Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay doanh nghiệp ngành
xây dựng tại Chi nhánh NHTMCP XNK Eximbank Hà Nội
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1. Hoạt động cho vay của các NHTM
1.1. Khái niệm cho vay
Theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc Ban hành quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, cho vay là một hình thức cấp tín
dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và
thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
(Khoản 1, Điều 3)
Hoạt động cho vay trước tiên phải được đặt trên quan hệ tín nhiệm, do đó
doanh nghiệp muốn vay vốn được từ ngân hàng thì nhất thiết phải tạo được uy
tín, niềm tin đối với các ngân hàng trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay
vốn của ngân hàng. Nhìn chung, khi ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn cần
đảm bảo 3 nguyên tắc:
- Doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp
đồng cho vay
Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên, ngân hàng và doanh
nghiệp thoả thuận và ghi vào hợp đồng cho vay. Doanh nghiệp phải cam kết sử
dụng vốn vay đúng mục đích thoả thuận nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn
vay và khả năng thu hồi nợ sau này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho
vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của doanh nghiệp đồng thời phải kiểm tra
xem doanh nghiệp có sử dụng vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay
không. Về phía các doanh nghiệp, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp
phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo
khả năng trả nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của doanh nghiệp đối với
ngân hàng và củng cố quan hệ giữa doanh nghiệp với ngân hàng.
3
- Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thoả
thuận trong hợp đồng cho vay
Hoàn trả nợ gốc và lãi vay là một nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt
động cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn
mà ngân hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng
để cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, do đó, sau khi cho vay trong
một thời hạn nhất định ngân hàng cần thu hồi vốn gốc và lãi cho vay để có
nguồn thu để trả gốc và lãi tiền gửi.
- Ngân hàng tài trợ dựa trên những phương án (dự án) có hiệu quả
Nguyên tắc này yêu cầu doanh nghiệp phải đảm bảo khả năng thu hồi
được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ ngân hàng. Các khoản tài trợ của ngân hàng
phải gắn liền với việc hình thành tài sản của doanh nghiệp. Trong trường hợp
thấy kém an toàn, ngân hàng sẽ đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo
khi vay.
1.2. Vai trò của hoạt động cho vay
Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng thương mại.
Vai trò của hoạt động cho vay thể hiện trên 2 mặt:
Một mặt, hoạt động cho vay là hoạt động đem lại tỷ trọng thu nhập lớn
nhất so với các hoạt động khác của ngân hàng. Thông qua việc thu hồi gốc và lãi
cho vay, NHTM chi trả các chi phí huy động vốn và chi phí duy trì hoạt động,
đạt được mục tiêu lợi nhuận để tiếp tục phát triển.
Mặt khác, hoạt động cho vay của ngân hàng góp phần tài trợ chi tiêu của
các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan Chính phủ. Với các doanh nghiệp,
thông qua hoạt động cho vay của các NHTM, các doanh nghiệp huy động được
vốn để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, các dự án đầu tư mở rộng
sản xuất, từ đó, chiếm lĩnh thị trường, mở rộng quan hệ, đạt doanh thu và lợi
nhuận cao hơn,… Với các cá nhân, hộ gia đình, nhờ các khoản vay từ NHTM,
các cá nhân và hộ gia đình có thể thực hiện mua sắm cơ sở vật chất, đi du học,
tham gia các khoá đào tạo để nâng cao trình độ,… từ đó chất lượng cuộc sống
được nâng cao, người dân có năng lực để tham gia vào quá trình sản xuất và tái
4
sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Với Chính phủ, các khoản cho vay
của NHTM tài trợ cho một số dự án của Chính phủ để phát triển cơ sở hạ tầng,
kỹ thuật, công nghệ, đảm bảo an ninh và phục vụ các mục tiêu xã hội,… Như
vậy, hoạt động cho vay của các NHTM đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế -
xã hội, đặc biệt tại địa bàn mà ngân hàng hoạt động.
1.3. Phân loại hoạt động cho vay
Có nhiều tiêu chí để phân loại hoạt động cho vay của các ngân hàng,
trong đó, những tiêu chí thường gặp là:
1.3.1 Phân loại theo thời gian
Theo cách phân loại này, hoạt động cho vay của ngân hàng được phân
thành 3 loại:
- Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay từ 12 tháng trở xuống, thường tài
trợ cho tài sản lưu động;
- Cho vay trung hạn: thời hạn cho vay từ 1 năm đến 5 năm, thường tài trợ
cho tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, các trang
thiết bị chóng hao mòn;
- Cho vay dài hạn: thời hạn cho vay trên 5 năm, thường tài trợ cho công
trình xây dựng, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu.
1.3.2. Phân loại theo hình thức đảm bảo
Về nguyên tắc, mọi khoản cho vay của ngân hàng đều phải có đảm bảo.
Tuy nhiên, ngân hàng chỉ ghi vào hợp đồng cho vay loại đảm bảo mà ngân hàng
có thể bán đi để thu nợ nếu khách hàng không trả nợ. Do đó, theo hình thức đảm
bảo có thể phân loại hoạt động cho vay thành 2 loại:
- Cho vay không cần tài sản đảm bảo: được cấp cho khách hàng có uy tín,
các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc đối tượng có chỉ thị của Chính
phủ là không cần tài sản đảm bảo.
- Cho vay dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng
phải ký hợp đồng đảm bảo. Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận khoản
cho vay về việc dùng tài sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng hoặc khả năng
trả nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân hàng. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh
5
giá được tình trạng của tài sản đảm bảo, có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc
có khả năng bảo quản tài sản đảm bảo.
1.3.3. Phân loại theo mức độ rủi ro
Cho vay bao gồm các khoản có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp.
Để phân loại theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn
cứ để chia loại rủi ro. Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá
lại khoản mục cho vay, dự trù quỹ cho các khoản cho vay rủi ro cao, đánh giá
chất lượng cho vay. Theo cách này, ngân hàng có thể phân loại các khoản cho
vay thành 4 nhóm:
- Các khoản cho vay lành mạnh: là các khoản cho vay có khả năng thu hồi
cao;
- Các khoản cho vay có vấn đề: các khoản cho vay có dấu hiệu không
lành mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm,
khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính,…
- Các khoản nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn
với thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có
giá trị lớn,…
- Các khoản nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ quá hạn quá lâu, khả
năng trả nợ rất kém, tài sản thế chấp có giá trị nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng
chây ì,…
Hiện nay, các NHTM Việt Nam thực hiện phân loại nợ theo Quyết định
số 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN về việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để quản lý rủi ro tín dụng, trong đó, các khoản cho vay (các khoản nợ
của khách hàng) được phân thành 5 nhóm:
- Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả
năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong
tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán;
- Nhóm 2: nợ cần chú ý - nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ - bao gồm nợ
quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ;
6
- Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn - nợ được đánh giá là không có khả năng
thu hồi gốc và lãi khi đến hạn - bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày;
- Nhóm 4: nợ nghi ngờ -nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất cao -
bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày;
- Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn - nợ được đánh giá là không còn khả
năng thu hồi, mất vốn - bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
Mặc dù có tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể để phân loại nợ như
trên, các NHTM vẫn có quyền chủ động tự quyết định phân loại bất kỳ khoản nợ
nào vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro nếu đánh giá
khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm.
1.3.4. Phân loại theo các tiêu chí khác
Có thể phân loại các khoản cho vay theo các tiêu chí khác như:
Theo đối tượng khách hàng (khách hàng mới, khách hàng có quan hệ lâu
năm,…);
Theo ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch,…);
Theo mục đích sử dụng (sản xuất, tiêu dùng);

Các cách phân loại trên cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong
hoạt động cho vay của ngân hàng. Việc phân loại cho phép ngân hàng theo dõi
và đánh giá các khoản cho vay để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và
chính sách mở rộng phù hợp.
1.4. Các hình thức cho vay
Để thoả mãn tốt nhất các nhu cầu đa dạng của doanh nghiệp, ngân hàng
luôn tìm cách đa dạng hóa các hình thức cho vay. Ngân hàng thường áp dụng
các hình thức cho vay sau:
1.4.1. Cho vay trực tiếp từng lần
7
Đây là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng đối với các
doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cấp
hạn mức thấu chi. Với hình thức này, mỗi lần doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn,
doanh nghiệp phải lập một bộ hồ sơ vay vốn theo quy định của ngân hàng, ngân
hàng sẽ tiến hành phân tích doanh nghiệp và ký kết hợp đồng cho vay, xác định
quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo
nếu cần. Toàn bộ quá trình xét duyệt cho vay, kiểm tra giám sát tình hình vốn
vay và thu hồi nợ được thực hiện theo từng hợp đồng.
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong
quá trình doanh nghiệp sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và
hiệu quả sử dụng, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ
trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố dịnh hoặc thả nổi theo
thời điểm tính lãi. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
Hình thức cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm
soát từng món vay tách biệt. Do đó, hình thức này phù hợp với những doanh
nghiệp chưa có độ tín nhiệm cao, chưa có quan hệ lâu dài với ngân hàng.
1.4.2. Cho vay theo hạn mức
Đây là hình thức thuận tiện cho những doanh nghiệp vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Theo
hình thức này, ngân hàng và doanh nghiệp xác định và thoả thuận một hạn mức
cho vay duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong khoảng thời gian
đó, doanh nghiệp có thể thực hiện vay trả nhiều lần song dư nợ không được vượt
quá hạn mức cho vay. Hạn mức có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ, đó là số dư
tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức cho vay được cấp trên cơ sở kế hoạch sản
xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp.
Mỗi lần vay, doanh nghiệp chỉ cần trình bày phương án sử dụng tieề vay,
nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay.
Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ ngân hàng sẽ phát
tiền cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không có biểu hiện vi phạm trong hợp
đồng cho vay như: sử dụng vốn sai mục đích, sử dụng vốn không hiệu quả, có
8
nguy cơ mất vốn,… thì thông thường hạn mức cho vay sẽ được tái lập khi hết
hạn hiệu lực của hợp đồng cho vay theo hạn mức, doanh nghiệp lập hồ sơ vay
vốn của kỳ tiếp theo và gửi cho ngân hàng để xem xét duy trì hoặc điều chỉnh
hạn mức cho vay cho kỳ tới.
Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi
doanh nghiệp có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó, tạo chủ động quản lý
ngân quỹ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các
kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay.
Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính
hoặc dư nợ lâu không giảm sút.
1.4.3. Cho vay trả góp
Khi cho vay, ngân hàng và doanh nghiệp xác định và thoả thuận số lãi vay
phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời
hạn cho vay. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với doanh nghiệp có quy
mô nhỏ với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho hàng lâu bền, tuy nhiên
hình thức này ít áp dụng.
1.4.4. Cho vay theo hạn mức thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép doanh nghiệp
được chi vượt số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một
giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian nhất định. Giới hạn này được gọi là
hạn mức thấu chi.
Để được thấu chi, doanh nghiệp phải làm đơn xin ngân hàng hạn mức
thấu chi và thời gian thấy chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong
quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ,…
vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song không vượt quá hạn mức thấu chi). Khi
doanh nghiệp có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.
Cho vay theo hạn mức thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt,
thủ tục đơn giản, phần lớn không có đảm bảo giúp cho doanh nghiệp thuận lợi
trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời. Hình thức này nhìn chung
9
chỉ sử dụng đối với các doanh nghiệp có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ
thu nhập ngắn.
1.4.5. Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là hình thức cho vay dựa trên sự luân chuyển cho
hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho
vay để mua hàng và thu nợ sau khi doanh nghiệp đã bán hàng. Đầu năm hoặc
quý, doanh nghiệp làm đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và doanh nghiệp
thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn mức cho vay, các nguồn cung cấp
hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức cho vay có thể được thoả thuận trong 1
năm hoặc nhiều năm. Đây không phải thời hạn hoàn trả mà là thời hạn để ngân
hàng xem xét lại mối quan hệ với doanh nghiệp để quyết định có cho vay nữa
hay không.
Việc cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng hoá nên cả ngân hàng lẫn
doanh nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán
dòng ngân quỹ trong thời gian tới. Doanh nghiệp phải cam kết các khoản vay sẽ
được trả cho người bán và mọi khoản thu từ việc bán hàng đều dùng để trả
khoản tiền vay trước khi được trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của
doanh nghiệp.
Cho vay luân chuyển thường được áp dụng với các doanh nghiệp thương
mại hoặc các doanh nghiệp sản xuất cho chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ
thường xuyên với ngân hàng. Hình thức này rất thuận tiện cho các doanh
nghiệp, thủ tục đơn giản chỉ cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay, doanh nghiệp
được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời, vì vậy việc thanh toán cho ngươờ cung cấp
sẽ nhanh gọn. Tuy nhiên, trong hình thức này nếu doanh nghiệp gặp khó khăn
trong khâu tiêu thụ thì ngân hàng sẽ khó thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay
không được quy định rõ ràng.
Ngoài các hình thức kể trên, trong quá trình hoạt động, các ngân hàng có
thể áp dụng những hình thức cho vay khác không trái với quy định của pháp luật
nhằm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của doanh nghiệp và đem lại lợi ích cao nhất
cho ngân hàng.
10
1.5. Chính sách cho vay và quy trình của NHTM
1.5.1. Chính sách cho vay của NHTM
Chính sách cho vay phản ánh cương lĩnh tài trợ của ngân hàng, trở thành
hướng dẫn chung cho cán bộ cho vay và các nhân viên ngân hàng, tăng cường
chuyên môn hoá trong phân tích cho vay, tạo sự thống nhất chung trong hoạt
động cho vay nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả năng sinh lời.
Đối với các doanh nghiệp, chính sách cho vay của ngân hàng cần xem xét
đến các nhân tố ảnh hưởng:
- Nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp trong các ngành, lĩnh vực khác nhau;
- Khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng của các doanh nghiệp trong tình
hình nền kinh tế và trong từng ngành, lĩnh vực;
- Chính sách của Chính phủ đối đối với các ngành, lĩnh vực và với các
doanh nghiệp, như chính sách ưu đãi, chính sách phát triển ngành, đổi mới sắp
xếp lại doanh nghiệp trong ngành,…;
- Quy mô, kết cấu, tính ổn định của các khoản tiền gửi, khả năng vay
mượn của ngân hàng, quy mô vốn chủ sở hữu,… ảnh hưởng đến chính sách cho
vay của ngân hàng. Ví dụ, với nguồn tiền gửi lớn, ổn định, ngân hàng có thể gia
tăng các khoản cho vay trung và dài hạn.
Nội dung của chính sách cho vay của NHTM bao gồm:
- Chính sách khách hàng
Ngân hàng có thể phân loại các doanh nghiệp theo quan hệ của doanh
nghiệp với ngân hàng, như phân loại thành: khách hàng truyền thống, khách
hàng quan trọng, khách hàng khác,…Với từng nhóm khách hàng, ngân hàng có
chính sách ưu đãi riêng cho các doanh nghiệp trong nhóm đó. Đây là nội dung
có liên quan đến chính sách marketing của ngân hàng. Đồng thời việc phân
nhóm khách hàng sẽ giúp ngân hàng thuận lợi hơn trong việc quản lý các khoản
cho vay, tiết kiệm chi phí thu thập thông tin và phân tích.
- Chính sách quy định quy mô và giới hạn cho vay
Ngân hàng cam kết tài trợ cho doanh nghiệp với số tiền hoặc hạn mức
nhất định. Ngân hàng có thể tài trợ tối đa bằng nhu cầu của doanh nghiệp và phù
11
hợp với các điều luật dựa trên các tính toán của ngân hàng về rủi ro và lợi
nhuận. Ngoài các giới hạn do luật quy định, ngân hàng thường đưa ra quy định
riêng về quy mô và giới hạn cho vay theo từng loại hình doanh nghiệp, từng
ngành nghề kinh doanh. Chính sách này được quy định cho từng thời kỳ trong
năm, có tính đến quy mô và tính chất của nguồn vốn của ngân hàng.
- Chính sách quy định lãi suất và phí suất cho vay
Ngân hàng có các mức lãi suất và phí suất cho vay khác nhau tuỳ theo kỳ
hạn, tuỳ theo loại tiền và tuỳ theo đối tượng khách hàng. Khi thoả thuận với
doanh nghiệp về lái suất cho vay, ngân hàng phải tính đến rủi ro, lãi suất hoà
vốn, lãi suất cạnh tranh trên thị trường, lãi suất trần do ngân hàng nhà nước quy
định, hoặc lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Bên cạnh khung lãi suất định
trước, ngân hàng còn quy định lãi suất thoả thuận với từng khách hàng cụ thể.
Lãi suất có thể cố định trong cả kỳ hạn cho vay hoặc biến đổi linh hoạt theo tình
hình cụ thể.
Ngoài việc trả lãi vay, doanh nghiệp có thể phải trả cho ngân hàng một
khoản phí được tính bằng tỉ lệ phần trăm trên hạn mức cam kết (còn gọi là phí
suất tín dụng), có thể là phí bảo lãnh, phí cam kết, phí quản lý,…Phí suất được
xác định chủ yếu dựa trên rủi ro, chi phí huy động vốn, hoặc các chi phí khác.
- Chính sách quy định về thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ
Các giới hạn về thời hạn luôn được các nhà quản lý ngân hàng chú ý bởi
vì thời hạn liên quan đến thanh khoản và rủi ro ngân hàng cũng như chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp. Chính sách cho vay phải giải quyết mối quan hệ thời
hạn của nguồn (chủ yếu do người gửi và người cho ngân hàng vay quyết định)
và thời hạn cho vay (xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp vay do đặc điểm
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp).
- Chính sách quy định về các khoản đảm bảo
Chính sách quy định về các khoản dảm bảo bao gồm các quy định về
trường hợp cho vay cần đảm bảo bằng tài sản, các khoản đảm bảo cho mỗi loại
hình cho vay, danh mục các khoản đảm bảo được ngân hàng chấp nhận, tỷ lệ
12
phần trăm cho vay trên giá trị khoản đảm bảo, đánh giá và quản lý khoản đảm
bảo.
- Chính sách đối với các tài sản có vấn đề
Các tài sản có vấn đề bao gồm các khoản nợ xấu (đã quá hạn hoặc khó
đòi, hoặc không đòi được) và các tài sản có biểu hiện đáng ngờ (chứng khoán bị
giảm giá, các khoản bảo lãnh có nguy cơ phải thực hiện nghĩa vụ,…)
Chính sách đối với các tài sản có vấn đề bao gồm quy định về cách thức
xác định nợ xấu và các tài sản đáng ngờ khác, tỷ lệ nợ xấu có thể chấp nhận và
mức độ xấu của khoản nợ, trách nhiệm giải quyết, phạm vi thanh lý và khai thác.
Chính sách tín dụng được quy định rõ ràng cho các khoản cho vay sẽ
giúp ngân hàng quản lý tốt các khoản cho vay, giảm thiểu rủi ro, tăng khả năng
sinh lời đối với các khoản cho vay này.
1.5.2. Quy trình cho vay đối với của NHTM
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với
khách hàng, các ngân hàng thường đặt ra quy trình cho vay. Quy trình này được
áp dụng chung cho các đối tượng cho vay, bao gồm các bước sau:
Bước 1: Phân tích trước khi cấp tín dụng
Đây là bước quan trọng nhất, quyết định chất lượng của khoản vay. Nội
dung chủ yếu là thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến doanh nghiệp bao
gồm năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và nguồn
ngân quỹ, quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên quan
đến doanh nghiệp.
Phương pháp chủ yếu để thu thập và xử lý thông tin về doanh nghiệp là
phỏng vấn trực tiếp (thăm quan nhà xưởng, văn phòng, nói chuyện với giám đốc
và người lao động, xem xét vật thế chấp,…); mua hoặc tìm kiếm thông tin qua
các trung gian; thu thập thông tin từ các báo cáo của doanh nghiệp (báo cáo tài
chính, báo cáo bán hàng, báo cáo thường niên,…) qua đó đánh giá nhu cầu vốn,
như cầu vay vốn, đánh giá khả năng sinh lời và khả năng trả nợ, nhưữg rủi ro có
thể xảy ra,…
Nội dung phân tích thường có:
13
- Đánh giá tài sản của doanh nghiệp;
- Đánh giá các khoản nợ;
- Phân tích luồng tiền;
- Phân tích các tỉ lệ: tỉ lệ đo khả năng thanh khoản, tỉ lệ đo khả năng sinh
lời, tỉ lệ đo khả năng tài trợ bằng vốn tự có, tỉ lệ đo rủi ro;
- Phân tích các điều kiện kinh tế hiện tại và dự đoán tương lai đối với
doanh nghiệp.
Bước 2: Xây dựng và ký kết hợp đồng cho vay
Hợp đồng cho vay là văn bản viết ghi lại thoả thuận giữa người nhận tài
trợ (doanh nghiệp) và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết
cấp cho doanh nghiệp một khoản tiền vay (hoặc hạn mức cho vay) trong một
khoảng thời gian và lãi suất nhất định. Đây là văn bản mang tính pháp luật xác
định quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng. Do đó, cả ngân hàng
và doanh nghiệp khi kí hợp đồng cho vay đều cần phải cân nhắc kỹ lưỡng. Nội
dung chính của hợp đồng cho vay thường có:
- Thông tin doanh nghiệp;
- Mục đích sử dụng vốn vay;
- Số lượng vốn vay;
- Lãi suất;
- Phí;
- Thời hạn cho vay;
- Các khoản đảm bảo;
- Điều kiện và hình thức giải ngân;
- Điều kiện và hình thức thanh toán;
- Các điều kiện khác,…
Bước 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng
Sau khi hợp đồng cho vay đã được kí kết, ngân hàng phải có trách nhiệm
cấp tiền cho doanh nghiệp như đã thoả thuận. Kèm theo đó, ngân hàng kiểm soát
việc sử dụng tiền vay của doanh nghiệp, tình hình làm ăn của doanh nghiệp, …
Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, cho thấy chất lượng cho vay đang
14
được đảm bảo. Ngược lại, khi chất lượng khoản cho vay bị đe doạ, ngân hàng
cần có biện pháp xử lý kịp thời. Ngân hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn,
ngừng giải ngân, nếu doanh nghiệp vi phạm hợp đồng cho vay, hoặc yêu cầu
doanh nghiệp bổ sung tài sản thế chấp, giảm số tiền vay,… Đây cũng là quá
trình ngân hàng thu thập thêm thông tin về doanh nghiệp để ra các quyết định cụ
thể nhằm ngăn chặn kịp thời các khoản cho vay xấu.
Bước 4: Thu nợ hoặc đưa ra các phán quyết tín dụng mới
Quan hệ cho vay kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi. Các khoản
cho vay đảm bảo hoàn trả đầy đủ, đúng hạn là các khoản cho vay an toàn. Một
số trường hợp khoản cho vay không được hoàn trả hoặc không được hoàn trả đủ,
đúng hạn. Ngân hàng cần tìm nguyên nhân và đưa ra phán quyết kịp thời.
- Nếu doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng, cố tình nợ dây dưa, làm ăn
yếu kém không còn phương cách cứu vãn, ngân hàng áp dụng phương án thanh
lý, tức là sử dụng các biện pháp có thể được để thu hồi khoản cho vay, bao gồm
phong toả và bán các tài sản thế chấp, tước đoạt các khoản tiền gửi,…
- Nếu doanh nghiệp có khó khăn về tài chính, song vẫn kiên quyết tìm
cách khắc phục để trả được nợ, ngân hàng thường áp dụng phương án khai thác
như gia hạn nợ, giảm lãi, hoặc cho vay thêm.
Nhìn chung, các bước trên là những bước cơ bản trong quy trình cho vay
các DNNXD của các NHTM. Các ngân hàng có thể cụ thể hoá các bước của quy
trình nhằm hướng dẫn chi tiết cho các cán bộ cho vay và các phòng ban có liên
quan.
2. Chất lượng cho vay của NHTM
2.1. Khái niệm chất lượng cho vay của NHTM
Các nhà kinh tế đưa ra khái niệm chât lượng bằng nhiều cách. Tổ chức
Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá ISO định nghĩa “chất lượng” như sau: “Chất lượng
là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình
để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan".
Khái niệm “chất lượng” như trên có thể coi là một khái niệm hẹp, bởi với
khái niệm trên, nhu cầu của khách hàng được đưa ra làm tiêu chí chủ yếu để
15
đánh giá chất lượng của sản phẩm, dịch vụ. Trong hoạt động cho vay của ngân
hàng, việc các ngân hàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng chỉ phản ánh
được một phần chất lượng cho vay. Ngân hàng còn phải xem xét đến những rủi
ro của khoản cho vay, và phải đảm bảo tính an toàn cũng như tính sinh lời của
các khoản cho vay này. Do đó, cần phải đưa ra một khái niệm riêng về chất
lượng cho vay của các NHTM.
Khi xem xét chất lượng cho vay, cần nhìn nhận từ 3 góc độ:
- Nhìn nhận từ góc độ khách hàng
Chất lượng cho vay là khả năng đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng với
lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản thuận tịên, phù hợp với khả năng của
khách hàng.
- Nhìn nhận từ góc độ ngân hàng
Chất lượng cho vay thể hiện ở phạm vi, mức độ và giới hạn cho vay phải
phù hợp với thực lực của ngân hàng, đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị
trường, đảm bảo các nguyên tắc cho vay. Chất lượng cho vay phải thể hiện ở chỉ
tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo
đúng quy định và hợp lý.
- Nhìn nhận từ góc độ nền kinh tế quốc dân
Các khoản cho vay của ngân hàng đã đóng góp như thế nào vào sự phát
triển của nền kinh tế như mức độ phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, giúp các doanh nghiệp và cá
nhân tận dụng cơ hội đầu tư, cải thiện đời sống,…
Tóm lại, có thể đưa ra khái niệm về chất lượng cho vay của một NHTM:
Chất lượng cho vay của một NHTM là toàn bộ khả năng của hoạt động cho vay
của ngân hàng đó nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của ngân hàng và đóng góp vào sự phát triển ổn định của nền kinh
tế quốc dân.
Như vậy, chất lượng cho vay của NHTM là một khái niệm vừa cụ thể vừa
trừu tượng. Cụ thể ở chỗ chất lượng cho vay có thể thể hiện qua các chỉ tiêu tính
toán được như tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ đảm bảo an toàn, lợi nhuận từ khoản vay,
16
…và trừu tượng ở những chỉ tiêu định tính như sự hài lòng của khách hàng trong
và sau quá trình vay vốn.
Chất lượng cho vay đối của NHTM là một khái niệm tổng hợp, là kết quả
của quá trình kết hợp hoạt động giữa ngân hàng và doanh nghiệp vì mục đích
chung là an toàn và hiệu quả đối với khoản cho vay. Do đó, để đạt được chất
lượng cho vay cao thì cần có sự phối hợp hoạt động của các bên tham gia quan
hệ tín dụng.
2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay của NHTM
2.2.1. Các chỉ tiêu định tính
- Sự tuân thủ các quy định pháp luật về hoạt động cho vay
Những quy định pháp luật về hoạt động cho vay là những quy định có
tính bắt buộc, cụ thể hoá toàn bộ quy trình cho vay từ khâu tiếp nhận hồ sơ, tiếp
nhận khách hàng, đến khi thu hồi được vốn và lãi. Các nhà hoạch định chính
sách đã dựa trên những đặc điểm về rủi ro tín dụng, đặc thù của nền kinh tế,
tham khảo những quy định quốc tế,… để đưa ra những quy định áp dụng cho
các NHTM Việt Nam như Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997 (được sửa đổi,
bổ sung một số điều năm 2004), Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN về việc
Ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng,… là cơ sở
đảm bảo các khoản cho vay của các NHTM được an toàn và hiệu quả. Do vậy,
việc chấp hành các quy định pháp luật về hoạt động cho vay là thước đo quan
trọng trong việc đánh giá chất lượng cho vay.
- Sự tuân thủ các nguyên tắc cho vay và quy trình cho vay hợp lý
Việc chấp hành tốt nguyên tắc cho vay là rất quan trọng vì sẽ giúp cho các
NHTM phòng ngừa rủi ro, là nền tảng cho một khoản cho vay tốt, là thước đo
đánh giá chất lượng cho vay. Hoạt động cho vay của NHTM tuân thủ những
nguyên tắc như đã nêu trong phần 1.1.1 nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng
sinh lời. Bên cạnh đó, việc ngân hàng thực hiện đúng theo quy trình cho vay, tức
là việc thực hiện phải logic, bài bản, sẽ giúp cho ngân hàng đánh giá đúng tình
hình của doanh nghiệp từ đó ra quyết định cho vay hợp lý, đảm bảo cho ngân
hàng, hạn chế hoạt động rủi ro.
17
- Đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp
Chất lượng cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp được đánh giá
cao khi ngân hàng có khả năng đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp
lý của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đạt được sự hài lòng không chỉ về khoản
cho vay mà họ được nhận, mà còn hài lòng về thái độ và tác phong làm việc của
cán bộ cho vay, lãi suất và kỳ hạn cho vay hợp lý, thủ tục cho vay đơn giản
thuận tiện,…Để đạt được điều này, ngân hàng cần phải có hệ thống phân tích,
đánh giá, dự báo nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp một cách nnhanh chóng và
chính xác.
3.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
* Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng
- Doanh số cho vay (DSCV): được tính bằng cách cộng dồn các khoản
cho vay trong một kỳ kế toán. Chỉ tiêu này phải ánh lượng vốn mà ngân hàng đã
giải ngân trong kỳ. Theo dõi chỉ tiêu này qua các kỳ kế toán (thường là 1 năm)
để đánh giá xu hướng hoạt động cho vay của NHTM đang mở rộng hay thu hẹp.
Có thể sử dụng tỉ lệ tăng trưởng DSCV để đánh giá xu hướng này. Công thức:
DSCV năm N – DSCV năm N-1
Tỷ lệ tăng trưởng DSCV năm N =
DSCV năm N-1
- Doanh số thu nợ (DSTN): được tính bằng cộng dồn các khoản thu nợ
trong một kỳ kế toán. Chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà ngân hàng cho vay
đã được hoàn trả trong một thời kỳ. Theo dõi chỉ tiêu này và so sánh với DSCV
để đánh giá khả năng thu hồi nợ của các khoản cho vay DNNXD trong quá khứ.
DSCV lớn thì kèm theo DSTN phải cao. Nếu DSTN thấp chứng tỏ khả năng thu
hồi vốn và lãi thấp, tức là chất lượng tín dụng không tốt.
- Dư nợ cho vay (DNCV): được tính trên số dư nợ cuối kỳ kế toán của
ngân hàng, chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đang giải ngân cho
vay tại một thời điểm cụ thể. Đây là chỉ tiêu mà ngân hàng theo dõi hàng ngày
để biết được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp có đúng mục đích không.
Bên cạnh đó, chỉ tiêu này cho biết thu nhập của ngân hàng trong tương lai. Nếu
một ngân hàng có DNCV cuối kỳ giảm có thể do ngân hàng hàng đó không thu
18
hút được khách hàng, không mở rộng cho vay, chứng tỏ chất lượng cho vay
không tốt. Tuy nhiên, chỉ tiêu này cần xem xét cùng với các chỉ tiêu khác, kết
hợp với việc phân tích chiến lược hoạt động, cũng như điều kiện cụ thể của ngân
hàng trong thời kỳ xem xét.
Nhóm chỉ tiêu về tăng trưởng cho thấy khả năng của ngân hàng trong việc
đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng, khả năng cạnh tranh, thu hút khách
hàng của ngân hàng nên phần nào phản ánh chất lượng cho vay. Tuy nhiên, để
phản ánh rõ chất lượng cho vay của NHTM, cần xem xét thêm các chỉ tiêu sau.
* Tỷ lệ nợ quá hạn
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 22/4/2005 quy
định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng
trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, “nợ quá hạn là các khoản nợ
mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/ hoặc lãi đã quá hạn”.
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ những khoản nợ quá hạn trên tổng dư nợ cuối kỳ
của ngân hàng. Khi nhìn vào chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá các khoản cho vay
của ngân hàng có mức độ rủi ro cao hay thấp. Chỉ tiêu này được tính như sau:
Dư nợ quá hạn cuối kỳ
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ cuối kỳ
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh rõ nhất về chất lượng cho vay của NHTM. Tỷ
lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ nguy cơ mất vốn của ngân hàng cao và kèm theo đó
là thu nhập của ngân hàng giảm, ngân hàng gặp khó khăn trong việc phân phối
luồng vốn và đối mặt với việc mất khả năng thanh toán. Trên thực tế các ngân
hàng luôn cố gắng hạ thấp tỷ lệ nợ quá hạn và với tỷ lệ dưới 2% được coi là
chấp nhận được.
* Vòng quay vốn cho vay
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
Doanh số thu nợ trong kỳ
Vòng quay vốn cho vay =
Dư nợ bình quân kỳ kế toán
Vòng quay vốn cho vay của ngân hàng càng lớn chứng tỏ ngân hàng đã
luân chuyển vốn nhanh hay không, có tham gia nhiều vào chu kỳ sản xuất kinh
19
doanh và lưu thông hàng hóa của các doanh nghiệp hay không. Với số lượng
vốn nhất định nhưng tốc độ quay vòng vốn cho vay nhanh nên ngân hàng không
những đáp ứng được nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp mà còn có thêm nguồn
vốn để tiếp tục cho vay doanh nghiệp khác. Bên cạnh đó, chỉ tiêu này cao phản
ánh các khoản cho vay của ngân hàng có khả năng thu hồi cao hay không, bởi
vòng quay vốn cao là do doanh nghiệp thường trả nợ đúng hạn và trước hạn,
đem lại thu nhập cao cho ngân hàng, phản ánh chất lượng tín dụng tốt.
* Lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động cho vay. Lợi nhuận
ở đây được hiểu là chênh lệch giữa thu nhập từ lãi vay của các khoản cho vay
với chi phí đầu vào tức là lãi suất huy động. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay cao
chứng tỏ nhiều khoản vay đã được thu hồi cả gốc và lãi, bên cạnh đó, thể hiện
khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng. Tuy nhiên, cần xem xét tỷ trọng lợi
nhuận từ hoạt động cho vay một đối tượng khách hàng trên tổng lợi nhuận từ
hoạt động cho vay của ngân hàng để đánh giá các khoản cho vay đối với đối
tượng khách hàng đó có thực sự đóng góp lớn vào thu nhập của ngân hàng hay
không.
Tỷ trọng lợi nhuận Lợi nhuận từ cho vay
từ cho vay nhóm khách hàng A
=
nhóm khách hàng A Tổng lợi nhuận
Tóm lại, đánh giá chất lượng cho vay của NHTM cần được thực hiện qua
việc đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu định tính và định lượng trên. Tuy nhiên, cần
xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay để có cái nhìn toàn
diện hơn về chất lượng cho vay, từ đó mới đưa ra được những biện pháp khắc
phục hạn chế và nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cho vay của NHTM
3.1. Các nhân tố thuộc về ngân hàng
* Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Một chiến lược kinh doanh hiệu quả sẽ giúp ngân hàng có phương hướng
phát triển nhất quán, giúp ngân hàng khai thác tốt năng lực hiện có của đơn vị,
20