Một số ý kiến về công tác thẩm định dự án đầu tư tại sở kế hoạch & đầu tư hà tây

  • 93 trang
  • file .pdf
LUẬN VĂN:
Một số ý kiến về công tác thẩm định dự án
đầu tư tại Sở kế hoạch & đầu tư Hà Tây
Lời nói đầu
Trong thời đại ngày nay, thời đại của công nghiệp hoá - hiện đại hoáđất nước, việc
phát triển cơ sở hạ tầng và mở rộng sản xuất kinh doanh để đảm bảo đời sống cho nhân
dân là một công việc không thể thiếu được . Để có thể thực hiện được công việc đó thì cần
thiết phải đầu tư. Đầu tư là một hoạt động kinh tế chủ yếu quyết định sự phát triển.Xu
hướng phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay là đầu tư theo dự án. Nhưng câu hỏi đặt ra là :
đầu tư vào đâu? đầu tư như thế nào để đạt được hiệu quả ? chỉ có việc thẩm định dự án
đầu tư mới có thể trả lời một cách chính xác những câu hỏi trên.
Việc thẩm định dự án đầu tư có thể được tiến hành trên cả ba khâu: thẩm định dự
án đầu tư trước, trong và sau quá trình đầu tư. Thẩm định trước quá trình đầu tư là việc
xem xét tất cả các nội dung cần thiết trước khi dự án đi vào hoạt động và ngày nay việc
thẩm định dự án đầu tư tại các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng chỉ chú trọng vào việc
thẩm định trước mà chưa chú ý đến việc thẩm định trong và sau quá trình đầu tư . Nhưng
trên thực tế, trong nhiều năm qua công tác thẩm định dự án đầu tư ngày càng được hoàn
thiện về mặt phương pháp luận để phù hợp với tình hình kinh tế của đất nước.Tiy nhiên
hoạt động thẩm định dự án đầu tư vẫn còn nhiều vướng mắc, chất lượng thẩm định dự án
đầu tư còn chưa cao, dự án đầu tư chưa thực sự đạt hiệu quả, tạo nên sự tăng trưởng phát
triển kinh tế và tiến bộ xã hội.
Đứng trên góc độ là người cung cấp ,tài trợ vốn cho hoạt động của dự án thì công
tác thẩm định dự án đầu tư không thể thiếu được trong hoạt động của các tổ chức tín dụng.
Nhưng đứng trên góc độ là người tham mưu cho UBND tỉnh trong việc ra quyết định hoặc
phê duyệt dự án đầu tư , việc thẩm định những dự án được tài trợ bởi vốn ngân sách là
một công việc quan trọngvà cần thiết của Sở kế hoạch & đầu tư Hà Tây . Do những dự án
đầu tư là những dự án nằm trong kế hoạch, mục tiêu phát triển của tỉnh và điều quan trọng
hơn là có một số dự án đều không phải hoàn trả vốn cho nhà nước- do đó là những dự án
đầu tư công cộng. Việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp cho Sở kế hoạch & đầu tư Hà Tây
lựa chọn những dự án phù hợp với yêu cầu và thực hiện tốt công tác tham mưu cho UBND
tỉnh để thúc đẩy việc phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
Do việc thẩm định dự án đầu tư tại Sở kế hoạch & đầu tư Hà Tây vẫn còn tồn tại
một số hạn chế nên việc hoàn thiện hơn nữa công tác thẩm định dự án đầu tư là một đòi
hỏi cấp bách.
Để có thể hiểu được sâu hơn về công tác thẩm định dự án đầu tư và mong muốn
đóng góp một số ý kiến cho công tác thẩm định dự án đầu tư tại Sở kế hoạch & đầu tư Hà
Tây.Trong quá trình thực tập em đã chọn để tài “ Một số ý kiến về công tác thẩm định dự
án đầu tư tại Sở kế hoạch & đầu tư Hà Tây”.
Nội dung bài viết bao gồm
ChươngI: Lý luận chung về dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư.
ChươngII: Thực trạng thẩm định dự án đầu tư tại Sở kế hoạch & đầu tư Hà Tây.
ChươngIII: một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác thẩm định dự án
đầu tư.
Chương I: dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư.
I. dự án đầu tư:
1.Khái niệm dự án đầu tư.
Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn, xét về mặt bản chất chính là sự chuyển hoá vốn
thành tài sản để phục vụ cho qúa trình sản xuất và kinh doanh. Mục đích của hoạt động
đầu tư là nhằm thu lợi trong tương lai. Nhưng với đặc trưng của hoạt động đầu tư là mang
tính chất lâu dài, có tính rủi ro cao. Bởi vậy để hoạt động đầu tư đạt hiệu quả đòi hỏi phải
lập dự án đầu tư.
Dự án đầu tư có thể xem xét dưới nhiều góc độ:
Về mặtt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết
và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và
thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư ,
lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế- xã hội trong một thời gian dài.
Xét trên góc độ kế hoạch hoá:dự án đầu tư lầ một công cụ thể hiẹn kế hoạch chi tiết
của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho
các quyết định đầu tư và tài trợ.Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất
trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung.
Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với
nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định việc tạo các kết quả cụ thể
trong một thời gian nhất định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất
định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Nhưng tựu chung lại dự án đầu tư có thể nói ngắn gọn như sau:
Theo giải thích trong Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị
định số 52/1999/NĐ- CP ngày 8/7/ 1999 của Chính phủ, tại điều 5 quy định:" dự án đầu
tư là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải
tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về mặt số lượng hoặc
duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian
xác định".
2. Phân loại:
có nhiều cách phân loại dự án đầu tư tuỳ theo mục đích và phạm vi xem xét. ậ đây
chỉ nêu các cách phân loại liên quan tới yêu cầu công tác thẩm định và quản lý dự án đầu
tư trong hệ thồng vvăn bản pháp quy, các tài liệu quản lý hiện hành.
2.1. Theo thẩm quyền quyết định:
- Đối với đầu tư trong nước dự án đầu tư được chia làm 3 loại : A, B, C( nội dung
được nêu ra trong điều 6, NĐ 12/ 2000 NĐ- CP ).
Theo quy định hiện hành , Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư các dự án nhóm
A, Chủ tịch UBND các tỉnh , thành phố trực thuộc TW, thủ trưởng các bộ, ngành và một
số đơn vụ quyết định đầu tư các dự án nhóm B, C. Đối với dự án nhóm A gồm nhiều dự
án thành phần( hoặc tieer dự án ) có theer độc ;ập vận hành khai hác và thực hiện theo
phâm kỳ đầu tư đưo;ực ghi trong văn bản phê duyệt bcnckt thì từng dự án thành phần
hoặc tiểu dự án được tiến hành chuẩn bị đầu tư và thực hện dự án đầu tư như một dự án
độc lập. Ngoài ra còn một số dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua và quyết
định chủ trương đầu tư theo quy định tại Nghị quyết 05/1997/QH 10 ngaỳ 12/12/1997.
- Đối với dự án đầu tư nước ngoài: gồm 3 loại A, B và loại được phân cấp cho các
địa phương.
Theo quy định hiện hành Thủ tướng chính phủ quyết định và giao Bộ kế hoạch &
đầu tư cấp giấy phép các dự án nhóm A; Sở kế hoạch & đầu tư quyết định vầ cấp giấy
phép các dự án đầu tư nhóm B, chủ tịch UBND các tỉnh, thành pphố trực thuộc TW cấp
phép các dự án nhóm B được thủ tướng Chính phủ phân cấp, ban quản lý các khu công
nghiệp cấp phép các dự án nhóm B do Bộ kế hoạch & đầu tư uỷ quyền.
2.2.Theo cách thực hiện đầu tư.
-dự án đầu tư bằng nguồn vốn trong nước( cấp phát, tín dụng, các hình thức huy động
khác, hỗn hợp.
- dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI) theo quy định của luật đầu tư nước
ơngoài.
- Các nguồn viện trợ của nước ngoài(ODA).
2.3.Theo lĩnh vực đầu tư:
Dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát triển cơ sở hạ tầng, văn hoá xã hội...
2.4. Theo yêu cầu đánh giá dự án :
Liên quan đến tính chất và mức độ phức tạp của dự án : dự án chỉ cần lập báo cáo
đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước, dự án chỉ cần đăng ký đầu tư với dự án FDI vầ dự
án phải thẩm định dự án đầu tư đối với cả 2 loại này.
Theo phương thức đầu tư
-Tự đầu tư -Hợp
đồngHTKD
-Liên doanh -100% vốn
Theo lĩnh vực đầu Theo cách thực
tư Dự án đầu tư hiện đầu tư
-Độc lập theo -Vốn đầu tư trong
từng ngành, lĩnh nước
vực -Vốn FDI,ODA
-Đa lĩnh vực
Theo thẩm quyền quyết định , cấp phép đầu tư
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trong nước
-Thủ tướng chính phủ(loại A) -Thủ tướng chính phủ
(loại A)
-Bộ KH&ĐT (loại B Không phân cấp) -Chủ tịch UBND
tỉnh, Thành phố
-UBND Tỉnh, Thành phố(loại B được phân cấp) trực thuộc
TW, Bộ trưởng thủ
Mỗi loại có yêu cầu riêng về nội dung hồ sơ trình duyệt và thẩm định riêng.
II. thẩm định dự án đầu tư:
1. Mục đích, yêu cầu của công tác thẩm định dự án đầu tư.
1.1. Mục đích:
Thẩm định dự án đầu tư là một công việc đầy ý nghĩa. Các bên liên quan trên quan
điểm , cách nhìn nhận riêng và lợi ích thu được từ những dự án khác nhau sẽ có cách tiếp
cận và mục đích thẩm định khác nhau, kết quả thẩm định theo đó sẽ có ý nghĩa khác nhau
đối với mỗi bên.
Đối với nhà đầu tư: việc thẩm định dự án đầu tư giúp chủ đầu tư lựa chọn được các
dự án đầu tư tốt nhất, có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện, khả năng tài chính hiện
có và đem lại cho chủ đầu tư thu nhập cao nhất có thể có được.
Đôi với ngân hàng: với tư cách là bên thẩm định dự án đầu tư để cho vay, ngân hàng
qquan tâm đến mức độ an toàn vốn. Ngân hàng sẽ chỉ ra quyết định đầu tư khi biết
chắc dự án hoạt động hiệu quả, có đầy đủ khả năng trả nợ đúng hạn với mức lãi suất hiện
hành của ngân hàng. Vì vậy công tác thẩm định dự án đầu tư là việc không thể thiếu.
Mặt khác, bên cạnh việc xác định tính khả thi của dự án , hiệu quả kinh tế, khả năng
trả nợ va những rủi ro có thể xảy ra của dự án , công tác thẩm định dự án đầu tư còn là cơ
sở để ngân hàng xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay và thời điểm bỏ vốn cho dự
án.
Nói chung, công tác thẩm định dự án đầu tư giúp cho ngân hàng ra quyết định có
đầu tư hay không? Nếu đầu tư thì đầu tư như thế nào, với mức bao nhiêu là tốt nhất? Điều
này đảm bảo ccho ngân hàng được an toàn trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn và
khó đòi.
Đối với cơ quan quản lý nhà nước: việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan
này thấy được tính cần thiết v phù hợp của dự án đầu tư với chiến lược, chương trình, kế
hoạch phát triển của quốc gia, ngành, địa phương. Việc thẩm định dự án đầu tư giúp cho
các cơ quan này xác định hiệu quả sử dụng các nguồn lực xã hội cho dự án, cân đối giữa
chi phí và lợi ích đem lại của dự án để quyết định và cấp phép đầu tư.
Tuy mục đích thẩm định dự án đầu tư đối với các chủ thể khác nhau là khác nhau
nhưng tựu trung lại viêc thẩm định dự án đầu tư là việc xem xét dự án đầu tư có khả thi
hay không để đưa dự án đó vào hoạt động.
1.2.Yêu cầu:
Yêu cầu thẩm định dự án đầu tư xuất phát từ bảnchất, tính phức tạp và đặc trưng cơ
bản của hoạt động đầu tư.
Nói một cách khái quát hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi trong
tương lai.
Không phân biệt hình thức thực hiện, nguồn gốc thực hiện, nguồn gốc của vốn... mọi
hoạt động có những đặc trưng nêu trên đều được coi là hoạt động đầu tư. Khái niệm này
được coi là chủ đạo, xuyên suốt trong quá trình lập và thẩm định dự án .
Hoạt động đầu tư có những đặc trưng cơ bản sau:
-Là hoạt động bỏ vốn, nên quyết định đầu tư thường là và trước hết là quyết định tài
chính. Vốn được hiểu như là các nguồn sinh lợi. Dưới các hình thức khác nhau nhưng vốn
có thể xác định dưới hình thức tiền tệ, vì vậy các quyết định đầu tư thường được xem xét
từ phương diện tài chính( tốn bao nhiêu vốn, có khả năng thựchiện không, có khả năng thu
hồi được không, mức sinh lợi là bao nhiêu.. .).Trên thực tế hoạt động đầu tư, các quyết
định chi tiêu( đầu tư) thường được cân nhắc bởi sự hạn chế của ngân sách( nhà nước, địa
phương, cá nhân) và luôn được xem xét từ những khía cạnh tài chính nói trên.
-Là hoạt động có tính chất lâu dài. Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt
đông chi tiêu tài chính khác, đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài. Đây là một
đặc trưng có ảnh hưởng rất cơ bản đến hoạt động đầu tư. Do tính chất lâu dài nên mọi sự
trù liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất đinh do nhiều nhân tố. Chính điều
này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến mọi nội dung phân tích, đánh giá của
quá trình thẩm định dự án .
- Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương.
Đầu tư về một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại để đánh đổi lợi ích
trong tương lai ( vốn đầu tư không phải là các nguồn lực để dành ), vì vậy luôn có sự cân
nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai.
- Là hoạt động mang nặng rủi ro. Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại được thực
hiện trong một thời gian không cho phép nhà đầu tư lượng hết những thay đỗi có thể xảy
ra trong quá trình đầu tư so với dự tính. Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản năng của nhà
đầu tư cũng có những cách thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế khả năng rủi ro là ít
nhất.
Với đặc trưng nêu trên, thẩm định dự án đầu tư nhằm làm sáng tỏ và phân tích về
một loạt các vấn đề có liên quan tới tính khả thi trong quá trình thực hiện dự án : thị
trường, công nghệ, kỹ thuật, khả năng tài chính của dự án để đứng vững trong suốt đời
hoạt động, về quản lý thực hiện dự án, phần đóng góp của dự án vào sự tăng trưởng của
nền kinh tế.. . với những thông tin về bối cảnh và các giả thiết sử dụng trong dự án này.
Đồng thời đánh giá để xác định xem dự án có giúp quốc gia đạt được các mục tiêu xã hội
hay không, nếu có thì bằng cách nào, và liệu các dự án có đạt được hiệu quả kinh tế hay
không khi đạt các mục tiêu xã hội này.
Giai đoạn thẩm định dự án bao hàm một loạt khâu thẩm định và quyết định, đưa tới
kết quả là chấp thuận hay bác bỏ dự án.Như vậy về mặt chuyên môn yêu cầu chungg của
công tác thẩm định dựán là: đảm bảo tránh thực hiện đầu tư các dự án không có hiệu quả,
mặt khác cũng không bỏ qua các cơ hội đầu tư có lợi.
Mặt khác, thẩm định dự án còn là một công việc được thực hiện theo quy định về
quản lý đầu tư, vì vầy cần được tiến hành theo các yêu cầu về quản lý. Về mặt này, công
tác thẩm định dự án phải được tiến hành phù hợp với các quy định hiện hành về quản lý
đầu tư và đảm bảo thời hạn quy định.
2. Nhiệm vụ của thẩm định dự án đầu tư:
Thực chất của việc thẩm định dự án đầu tư là phân tích đánh giá tính khả thi của dự
án trên tất cả các phương diện kinh tế, kỹ thuật , xã hội, trên cơ sở các quy định của luật
pháp, tiêu chuẩn, định mức, quy định của cơ quan quản lý nhà nước, tiêu chuẩn và thông lệ
quốc tế.
Những yêu cầu nói trên đặt cho người phân tích, đánh giá dự án chẳng những qquan
tâm, xem xét, kiểm tra về mặt nội dung hồ sơ dự án, mà còn tìm các phương pháp, cách
thức đo lường, đánh giá để có được những kết luận giúp cho việc lựa chọn và ra quyết định
đầu tư một cách có căn cứ.
Để đáp ứng yêu cầu nói trên , người làm công tác thẩm định phải:
- Có nghiệpvụ thẩm định dự án ( có kiến thức và phương pháp ).
- Nắm vững luật pháp và các quy định cụ thể về quản lý đầu tư và xây dựng.
- Có đủ các thông tin cần thiết để phân tích, đánh giá theo các nội dung liên quan.
Ngoài những yêu cầu nói trên, người làm công tác thẩm định còn cần có hiểu biết và
kỹ năng nhất định về việc sử dụng các phương tiện tính toán và xử lý thông tin.
Để thực hiện được những nhiệm vụ nói trên, đồng thời tránh được một số thiên kiến
trongg công tác thẩm định dự án , cán bộ thẩm định cần phải có nghiệpvvụ pphân tích,
đấnh giá dự án như đã nói trên để có khả năng đưa ra kết luận chính xác tính khả thi của
dự án dựa treen các tiêu chuẩm đã được xác định. Đồng tthời, để công việc thẩm định dự
án giúp cho việc lập kế hoạch đầu tư va lựa chọn dự án, nhà nước cần có hệ thống thẩm
định dự án được tổ chức một cách chặt chẽ và hợplý.
3. Các bước thẩm định trong quá trình ra quyết định đầu tư:
Trong quá trình hình thành và phê duyệt dự án thường có 2 bước thẩm định:
3.1.Thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi:
Là bước thẩm định để phê duyệt nghiên cứu tiền khả thi và quyết định triển khai
nghiên cứu khả thi. Tuỳ theo từng dự án cụ thể mà có thể tổ chức công tác thẩm định thích
hợp. Đối với các dự án lớn, phức tạp (các dự án có vốn đầu tư lớn, có liên quan đến nhiều
ngành, có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, bảo vệ an ninh, quốc phòng.. .) cần phải tiến
hành thẩm định toàn diện, kỹ lưỡng trước khi quyết định triển khai tiếp bước nghiên cứu
khả thi .
Đối với các dự án thông thường, bước này thường được xem xét trên một số mặt cơ
bản về chủ trrương và các thông số chính của dự án. Nếu theo các vấn đề này cho thấy các
dấu hiệu khả quan thì có thể thông qua để triển khai bước tiếp theo.
Thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi là nỗ lực đầu tiên nhằm đánh giá triển
vọng chung của dự án. Để thực hiện giai đoạn thẩm định này, điều qquan trọng là phải
nhận thức được rằng mục đích của việc nghiên cứu tiền khả thi này là để có được những
ước tính phản ánh giá trị ccủa các biến số mà chúng sẽ cho thấy trước dự án có đủ hấp dẫn
hay đủ tin cậy không, trên cơ sở đó, hoặc là đình chỉ công việc hoặc tiến hành nghiên cứu
chi tiết hơn.
Trongg quả trìnhthẩm định, đặc biệt trrong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, các tính
toán được tthực hiện trên cơ sở trị số trung bình của các biến số mà chúng chỉ được biết
với mức độ không chắc chắn lắm. Vì vậy, trong phân tích tiền khả tthi, để tránh việc chấp
thuận những dự án dựa trên những ước tính quá lạc quan về chi phí và lợi ích, chúng ta nên
sử dụng những ước tính thiên về lệch hướng làm giảm bớt lợi ích của dự án trong khi làm
tăng cao mức ước tính về chi phí.Nếu dự án vẫn hấp dẫn sau khi đã tiến hành thẩmđịnh
như vậy, thì có rất nhiều khả năng dự án sẽ đứng vững khi được nghiên cứu và thẩm định
chính xác hơn.
Trong khi tiến hành nghiên cứu khả thi, có thể phải sử dụng việc nghiên cứu chuyên
đề nếu thấy cần thiết.Nghiên cứu chuyênđề bao gồm việc phân tích các tài liệu nghiên cứu
đã có trước đây về các vấn đề đang nghiên cứu thu thập thêm các thông tin có liên quan
tới công việc thẩm định dự án đầu tư. Phân lớn các vấn đề kỹ thuật và thị trường đều xảy
ra với các chủ đầu tư khác và đã được giải quyết do đó, chúng ta có thể thu thập được
nhiều loại thông tin một cách nhanh chóng và ít tốn kém nếu như những nguồn thông tin
hiện có được sử dụng một cách hiệu quả nhất.
3.2. Thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi :
Là công việc bắt buộc đối với mọi dự án để phê duyệt và ra quyết định đầu tư. Nội
dung và yêu cầu thẩm định đã nêu ở phần trên.
Sau khi đã hoàn tất xong các khâu phân tích trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi,
chúng ta cần nghiên cứu dự án để xem xét liệu nó có triển vọng đáp ứng được các tiêu
chuẩn về tài chính, kinh tế và xã hội cho các khoản đầu tư hay không?Giai đoạn nghiên
cứu khả thi của dự án là nhằm tăng cường mức độ chính xác của việc tính toán các yêú tố
chủ yếu. Nếu như dự án cho thấy nó có triển vọng thành công, chúng ta cũng cần phân tích
độ nhạy của dự án đối với các biến số chủ yếu có vai trò quyết định kết quả dự án để xác
định mức độ chắc chắn của dự án.
Chính vào cuối giai đoạn này là lúc mà quyết định quan trọng nhất phải được xác
định, đó là nên chấp nhận dự án hay không? Thẩm định cần phải chỉ ra rằng đó là một dự
án tồi hay tồi, khả năng thành công của nó như thế nào để người có thẩm quyền lựa chọn
và quyết định.
Trên cơ sở kết quả thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi , người có thẩm quyền sẽ
phê duyệt và ra quyết định đầu tư.
4. Nội dung thẩm định dự án đầu tư:
Bất cứ một dự án nào , yêu cầu thẩm định theo các bước sau:
4.1. Thẩm định các yếu tố về pháp lý.
- Đầu tiên phải xem xét tính hợp pháp của dự án nói chung theo quy định pháp luật.
- Sự phù hợp của các nội dung dự án với các quy chính hiện hành đã được thể hiện
trong các văn bản pháp luật, chế độ, chính sách áp dụng đối với dự án .
- Sự phù hợp về quy hoạch ( ngành và lãnh thổ )
- Quy định về khai thác và bảo vệ tài nguyên.
4.2.Thẩm định về nhu cầu thị trường và xác định quy mô hợp lý của dự án xem xét,
phân tích, đánh giá nhu cầu và thị trường trên một số mặt sau:
- Xem xét tính đầy đủ về nội dụng đánh giá nhu cầu và thị trường ( xác định quy mô,
phạm vi, mức độ tăng trưởng ).
- Đánh giá cơ sở dữ liệu và phương pháp phân tích và dự báo để xác định nhu cầu và
thị trường đối với dự án.
- Phân tích tích hợp lý về giá cả và mức biến động của giá cả của đầu ra, đầu ra của
dự án.
Phân tích, xác định quy mô hợp lý của dự án trong đó có xem xét tới sự hợp lý về
phân kỳ( giai đoạn ) đầu tư. Cơ sở, phương pháp so sánh lựa chọn các giải pháp hoặc
phương án về quy mô đầu tư.
4.3. Thẩm định các yếu tố về kinh tế- xã hội của dự án :
Đối với hoạt động đầu tư đều được xem xét từ hai góc độ: nhà đầu tư và nền kinh tế.
Trên góc độ nhà đầu tư, mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Tuy nhiên không phải mọi
dự án có khả năng sinh lợi cao đều tạo ra những ảnh hưởng tốt đối với nền kinh tế, xã hội.
Bởi vậy khi thẩm định dự án về khía cạnh kinh tế- xã hội, các chuyên viên nên xem
xét:
- Thực hiện dự án đầu tư có những tác động gì đối với việc thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế, có nghĩa là phải xem xét khía cạnh kinh tế- xã hội của dự án. Xem xét việc
thực hiện dự án sẽ đóng góp gì cho việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân.
- Thực hiện dự án đầu tư có phù hợp với chủ trương, chính sách của Nhà Nước.
- Thực hiện dự án này ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên, của cải vật chất., sức
lao động mà xã hội dành cho đầu tư thay vì việc sử dụng vào các công việc khác.
- Xem xét nếu dự án được đầu tư sẽ giải quyết được bao nhiêu lao động trên địa bàn,
góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
4.4.Thẩm định các yếu tố tác động đến môi trường:
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường: chất thải, tiếng ồn, cảnh quan, các
ảnh hưởng về mặt xã hội.
- Đánh giá các biện pháp bảo vệ môi trường: giải pháp, công nghệ, thiết bị, chi phí.
4.5.Thẩm định về sự cần thiết phải đầu tư của dự án:
Mỗi dự án đầu tư là một mắt xích quan trọng trong chương trình phát triển trung, dài
hạn của ngành hay vùng , lãnh thổ. Mặt khác, việc một dự án đầu tư sẽ có ảnh hưởng
không nhỏ đến thị trường, cụ thể là tác động đến cung cầu hàng hoá ( từ đó ảnh hưởng đến
thị trrường) cụ thể là tác động hoạt động xuất nhập khẩu. .. Vì vậy việc thẩm định cần thiết
của dự án là rất quan trọng.
- Trước hết cán bộ thẩm định dựa vào các đường lối, chính sách ưu tiên phát triển
của Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp, các địa phương đã đề ra để xem xét dự án có vị
trí ưu tiên như thế nào trong quy hoạch phát triển nói chung. Đương nhiên, các dự án nằm
trong phạm vi khuyến khích phát triển sẽ được ưu tiên hơn.
- Sau đó, cán bộ thẩm định xem xét: nếu được đầu tư, dự án có đóng góp và sẽ đóng
góp gì cho các mục tiêu của xã hội, ví dụ: dự án có làm gia tăng thu nhập cho nền kinh tế
quốc dân, cho doanh nghiệp hay không? Các nguồn tài nguyên và cơ sở vật chất sẵn có
được sử dụng hợp lý hay không? Dự án sẽ tạo thêm bao nhiêu công ăn việc làm để hạn chế
thất nghiệp?...
Biện pháp đánh giá cụ thể mà cán bộ thẩm định thường sử dụng trong bước tthẩm
định này là tìm và nắm được động lực thúc đẩy sự hình thành dự án đầu tư.
Cuối cùng cán bộ tín dụng sẽ đưa ra kết luận: dự án có và thực sự cần thiết được đầu
tư hay chưa?
4.6.Thẩm định về phương diện kỹ thuật.
Thẩm định dự án về phương diện kỹ thuật là việc kiểm tra, phân tích các yếu tố kỹ
thuật và công nghệ chủ yếu của dự án để đảm bảo tính khả thi cả về mặt thi công xây dựng
dự án lẫn việc vận hành dự án theo đúng các mục tiêu dự kiến. Các vấn đề kỹ thuật chính
cần kiểm tra bao gồm:
* Quy mô dự án:
Quy mô của dự án được xác định qua việc trả lời hai câu hỏi:
- Có phù hợp với khả năng tiêu thụ sản phẩm hay không?
- Có phù hợp với khả năng đáp ứng vốn, nguyên vật liệu, khả năng quản lý của doanh
nghiệp hay không?
* Công nghệ và trang thiết bị:
Dây truyền công nghệ và trang thiết bị là những vấn đề sống còn của dự án vì chúng
quyết định cả năng suất và chất lượng của sản phẩm. Dây chuyền công nghệ lệch lạc, thiết
bị quá cũ kỹ sẽ cho ra những sản phẩm kém chất lượng với năng suất thấp. Đồng thời quá
trình sản xuất hay bị gián đoạn không đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy
cần tiến hành các công việc sau:
- Những phương án để lựa chọn công nghệ, thiết bị. Ưu nhược điểm của từng loại
phương án.
- Lý do lựa chọn thiết bị hiện đại.
-Nếu là công nghệ mới và phức tạp thì có được đảm bảo bằng các hợp đồng chuyển
giao công nghệ hay khôngg?
Hợp đồng chuyển giao công nghệ gồm hai phần: Phần cứng và phần mềm.
- Thẩm định số lượng, công suất, quy cách, chủng loại, danh mục thiết bị, tính đồng
bộ của dây chuyền sản xuất,năng lực hiện có của doanh nghiệp so sánh với quy mô của dự
án.
-Đối với thiết bị nhập ngoại cần qua đấu thầu cạnh tranh quốc tế hoặc chọn thầu
nhằm đảm bảo chất lượng và giá cả. Kiểm tra các hợp đồng cung ứng, các bên chào hàng,
các điều kiện giao hàng, thời gian giao hàng, phương thức thanh toán.
* Thẩm định việc cung cấp nguyên liệu và các yếu tố đầu vào khác:
Nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào khác có một vai trò rất quan trọng trong quá
trình vận hành dự án. Dù vị trí xây dựng dự án là thuận lợi, các trang thiết bị có phù hợp và
hiện đại đến đâu mà các yếu tố đầu vào bị đình trệ thì quá trình sản xuất nhất định sẽ bị
gián đoạn, ảnh hưởng đến hoạch định của đầu ra. Cho nên , thẩm định việc cung cấp
nguyên vật liệu, năng lượng, lao động và các yếu tố đầu vào khác là cần thiết. Nó bao
gồm:
- Kiểm tra việc tính toán tổng nhu cầu về nguyên vật liệu chủ yếu, năng lượng điện,
nước... Trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật so sánh với mức tiêu hao thực tế.
- Đối với nguyên vật liệu thời vụ hoặc nhập khẩu cần tính toán mức dự trữ hợp lý để
đảm bảo cung cấp thường xuyên, tránh lãng phí.
- Đối với các dự án khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản phải kiểm tra tính đúng
đắn của các cấp có thẩm quyền để đảm bảo hoạt động lâu dài. Cần thăm dò, khảo sát, phân
tích, đánh giá về trữ lượng, hàm lượng, chất lượng tài nguyên.
* Thẩm định về lựa chọn địa điểm xây dựng dự án:
Yêu cầu của việc lựa chọn địa điểm:
- Tuân thủ các văn bản quy định của nhà nước về quy hoạch đất đai kiến trúc xây
dựng ( có giấy phép của cấp có thẩm quyền), chi phí đền bù, di dân, giải phóng mặt bằng...
- Gần nơi cung cấp nguyên vật liệu chủ yếu hoặc nơi tiêu thụ sản phẩm.
- Giao thông thuận lợi, chi phí bốc dỡ, vận chuyển hợp lý.
- Thuận tiện việc đị lại đối với công nhân viên nhà máy.
- Tận dụng cơ sở hạ tầng sẵn có: đường xá, bến cảng, điện nước...
- Mặt bằng phù hợp với quy mô hiện tại và dự phòng phát triển mở rộng trong tương
lai, đạt yêu cầu vệ sinh công nghiệp,xử lý ô nhiễm môi trường, phòng cháy, chữa cháy...
Tất cả các vấn đề trên cần được kiểm tra tính toán, lựa chọn phương án tối ưu.
* Thẩm định quy mô, giải pháp kiến trúc, kết cấu xây dựng:
- Xem xét các hạng mục kiến trúc hiện có để có thể tận dụng xây dựng các hạng mục
mới, đảm bảo cần thiết, phù hợp với công suất và quy mô dự án.
-Dựa trên cơ sở về yêu cầu kỹ thuậtđể tính toán nhu cầu vốn cho tưng hạng mục.
* Kiểm tra tính hợp lý về kế hoạch tiến độ thực hiện dự án:
Đây là yếu tố quan trọng liên quan tới ké hoạch sử dụng vốn, kế hoạch sản xuất và kế
hoạch rót vốn cho dự án.
* Thẩm định về tổ chức, quản lý, thực hiện dự án ( đặc biệt là vấn đề đền bù, giải
phóng mặt bằng).
- Tổ chức bộ máy quản lý, các điều kiện vận hành.
- Chuyển giao côngg ngghệ, đầo tạo.
4.7. Thẩm định tài chính dự án đầu tư:
Thẩm định phương diện tài chính của dự án là một nội dung qquan tronggj trong quá
trình soạn thảo dự án, nhằm đánh giá tính khả thi của dự án về mặt tài chính thông qua
viêc:
- Xem xét nhu cầu và sự đảm bảo các nguồn lực tài chính cho việc thực hiện có hiệu
quả dự án đầu tư ( xác định quy mô đầu tư , cơ cấu các loại vốn, các nguồn tài trợ cho dự
án).
-Xem xét tình hình, kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độ hạch toán
kinh tế của đơn vị thực hiện dự án.
Thực chất thẩm định dự án đầu tư là việc phân tích dự án đầu tư trên hai mặt:
- Đánh giá hiệu quả đầu tư.
- Phân tích tài chính dự án.
Hai mặt đó phải đi đôi với nhau chứ không thể thay thế cho nhau. Cả hai đều phải
được thực hiện bởi vì chúng liên quan đến các khía cạnh khác nhau của dự án đầu tư. Phân
tích hiệu quả đầu tư là xác định hiệu quả của các tiềm lực được đưa và dự án, nói rõ hơn
là xác định số tiền lãi thu được trên tổng số vốn bỏ ra chứ không phải vấn đề cho nguồn tài
trợ như thế nào? Như vậy phân tích hiệu quả đầu tư là đánh gá khả năng sinh lãi của các
tiềm lực được bỏ vào dự án mà không xem xét việc giải quyết tài chính phát sinh trong
thời gian thực hiện dự án. Ngược lại phân tích tài chính là xem xét các đặc điểm tài chính
của dự án nhằm đảm bảo rằng các nguồn tài chính sẵn có và huy động sẽ cho phép xây
dựng và vận hành dự án một cách trôi chảy.
Thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp cho người thẩm định trả lời một loạt các câu hỏi cơ
bản liên quan tới triển vọng tài chính và khả năng thành công của dự án. Bốn câu hỏi quan
trọng nhất được tóm tắt như sau:
* Chúng ta đặt một mức độ chắc chắn ttương đối như thế nào đối với mỗi hạng mục
thu và chi được đưa ra trong dự án? Những yếu tố nào được dự kiến ảnh hưởng trực tiếp
tới các biến số này như thế nào?
* Nguồn tài trợ nào được sử dụng để trả lời cho các chi phí của dự án? Phương án tài
chính này có những đặc điểm riêng biệt gì không? Chẳng hạn như lãi suất ưu đãi, vốn trợ
cấp, vốn cổ phần hoặc vay các tổ chức tài chính trong và ngoài nước.
* Dòng tài chính tối thiểu cần có là bao nhiêu để dự án có thể duy trì được hoạt động
mà không cần phải có yêu cầu ngoài kế hoạch xin vay thêm để tài trợ, bổ xung?
* Dự án có đạt được luồng tài chính ròng đủ lớn hay không? Nếu không thì những
nguồn vốn bổ xung nào có thể dùng và được cam kết tài trợ thêm cho dự án nếu dự án đạt
hiệu quả kinh tế- xã hội.
Nếu bất kỳ vấn đề nào trong số những vấn đề nêu trên cho thấy những khó khăn
trong tương lai, thì phải có những điều chỉnh cần thiết về thiết kế hay về tài chính của dự
án để tránh thất bại trong tương lai.
+ Quy trình thẩm định tài chính dự án đầu tư:
* Kiểm trra việc tính toán xác định vốn đầu tư và tiến độ bỏ vốn:
Vốn đầu tư được chia làm hai loại: vốn cố định và vo;ón lưu động, trong đó cần chú
ý đến vốn lưu động vì một số dự án trước đây do chỉ quan tâm đến vốn cố định khi lương
trả cho công nhân viên...
Vốn cố định ( hay đầu tư cơ bản ) gồm 3 bộ phận:
- Vốn đầu tư xây lắp: thường được ước tính trên cơ sở khối lượng công tác xây lắp và
suất vốn đầu tư ( đơn giá xây lắp ). Nội dung kiểm tra tập trung vào việc xác định nhu cầu
xây dựng hợp lý của dự án và mức độ hợp lý cuả suất vốn đầu tư trên cơ sở căn cứ vào
những kinh nghiệm đã tích luỹ được.
- Vốn thiết bị: được tính toán trên cơ sở kiểm tra giá mua thiết bị, chi phí vận chuyển,
bảo quản, chạy thử theo các quy định của nhà nước căn cứ vào danh mục các thiết bị. Đối
với thiết bị có chuyển giao công nghệ ( gồm chi phí mua bí quyết kỹ thuật, chi phí đào tạo,
huấn luyện, tiền thuê chuyên gia...).
- Vốn kiên thiết cơ bản khác: được biết như chi phí đền bù hoa màu, nhà cửa đất đai,
chi phí di chuyển các nghĩa trang để giải phóng mặt bằng, chi phí san lấp mặt bằng, xây
dựng lán trại cho công nhân...
Các khoản mục chi phí này cần được tính theo đúng các quy định hiện hành của Nhà
nước. Ngoài ra, đối với các dự án xây dựng mới hoặc những dự án mở rộng bổ sung thiết
bị đều cần có vốn lưu động. Tuỳ thuộc vào đặc điểm của chu kỳ sản xuất và lưu thông sản
phẩm, khả năng thực tế cung ứng vật tư, nguyên- nhiên vật liệu cũng như nhu cầu về hàng
tồn kho mà người ta xác định được nhu cầu vốn lưu động. Cầu về vốn xây dựng cơ bản và
cầu về vốn lưu động sẽ tạo thành tổng vốn đầu tư cần thiết. Xác định chính xác tổng cầu
vốn đầu tư là quan trọng. Nó giúp chúng ta tránh tình trạng lãng phí vốn ( Khi cầu vốn
đầu tư được xác định khá cao ) hoặc đầu tư sai lệch ( khi cầu vốn đầu tư bỏ vốn cũng cần
phải kiểm tra, đặc biệt là với các công trình đầu tư bằng hươg thức tính dụng sẽ được phân
bổ vốn theo từng quý. Tiến độ bỏ vốn sẽ được xác định sao cho luôn phù hợp tiến độ thực
hiện dự án.
* Đánh giá khả năng sinh lời của dự án:
Đối với một dự án đầu tư dài hạn thuộc lĩnh vực sản xuất- kinh doanh thì việc đánh
giá khả năng thu lợi nhuận là yếu tố được quan tâm hàng đầu. Lý do thật đơn giản, xét về
mặt dài hạn một dự án không thể tồn tài và phát triển nếu nó không tạo ra lợi tức cho chủ
đầu tư cũng như nguồn bảo đảm trả nợ đối tượng cho vay tài trợ.
Khi phân tích khả năng sinh lợi của dự án, chúng ta đều tính toán các chỉ tiêu trên cơ
sở các chi phí- giá thành dự báo. Có nghĩa là, sẽ có một độ chênh lệch nhất định giữa mức
dự báo và thực hiện khi dự án đi vào hoạt động. Chính vì thế, trong công tác thẩm định tín
dụng của Ngân hàng, nhiệm vụ quan trọng là phải xác định mức độ không xác định của dự
án.
Tức là phân tích ảnh hưởng của những nhân tố biến động với chỉ tiêu đánh giá để từ
đó xác định tính khả thi về mặt tài chính. Có hai cách tiếp cận trong phân tích mức không
xác định của dự án.
- Phân tích điểm hoà vốn: khi doanh số tại điểm hoà vốn càng thấp so với doanh số
tại mức 100% năng lực sản xuất thì dự án có mức thích ứng cao với những thay đổi trên thị
trường, khả năng chống rủi ro càng mạnh.
- Phân tích độ nhạy: Dự tính mức độ ảnh hưởng của những thay đổi trong những
nhân tố chủ yếu của dự án đối với các chỉ tiêu tài chính được đánh giá. Các nhân tố chủ
yếu thường là: mức sản lượng thực tế, giá cả sản phẩm, giá cả nguyên vật liệu chủ yếu.
* Phân tích khả năng thanh toán:
Khác với các phương pháp phân tích đề cập ở phần trên, chúng ta chỉ xem xét tới kết
quả cuối cùng của dự án qua các năm do đó không tính tới các khoản thu chi có thể tác
động tới sự cân bằng tiền mặt của dự án. Chính vì vậy việc phân tích khả năng thanh toán
sẽ cung cấp cho Ngân hàng những thông tin hữu ich về tình trạng tiền mặt trong suốt quá
trình hoạt động của dự án. Phân tích dòng tiền mặt được thực hiện trong từng năm của dự
án chính vì thế nó là cơ sở để Ngân hàng đánh giá nguồn bảo đảm thanh toán nợ đến hạn
của dự án trong mỗi thời kỳ ( năm ). Để phân tích khả năng thanh toán chúng ta có bảng
phân tích dòng tiền mặt bao gồm ba phần chính:
+ Dòng tiền mặt vào:
Doanh thu bán sản phẩm và dịch vụ của dự án là nguồn tạo tiền mặt lớn nhất. Tuy
nhiên, không phải mọi hàng hoá doanh nghiệp bán ra trong kỳ đều thu được ngay bằng tiền
mặt, do đó phải loại trừ khoản phải thu. Mặt khác, việc gia tăng doanh thu qua các năm
cũng sẽ dẫn tới tăng hàng tồn kho dự trữ cho sản xuất và bán hàng nên giá trị hàng tôn kho
cũng tăng, đồng thời các khoản phải trả cũng có thể tăng ( do tăng thêm việc mua hàng hoá
đảm bảo đầu vào cho sản xuất ) trong kỳ xem xét.
Chêng lệch của những khoản nói trên cùng các khoản mục jkhác trong tài snr có lưu
động và tài sản nợ lưu động hình thành nên chỉ tiêu tài sản lưu động ròng, giá trị của chi
tiêu này sẽ được khấu trừ vào doanh thu bán hàng. Trong nhiều trường hợp, để đơn giản
hoá người ta không tính tới khoản chênh lệch trên.
+Dòng tiền ra:
- Toàn bộ các chi phí sản xuất, vận hàng,bảo dưỡng, không tính chi phí khấu hao.
- Khoản thanh toán nợ và lãi vay ngân hàng.
- Mua sắm tài sản cố định trong kỳ.
- Nộp thuế.
- Trả cổ tức...
+ Số dư tiền mặt:
Là hiệu số giữa dòng tiền mặt vào và dòng tiền mặt ra. Nếu số dự án đầu tư tiền mặt
là dương thì ở trong tình trạng dự án đầu tư thừa tiền mặt, có khả năng thanh toán tốt.
Ngược lại, nếu số dư tiền mặt là âm trong một năm nào đó thì ngân hàng sẽ cùng với
doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch vay nợ dài hạn hoặc bổ xung các khoản tín dụng ngắn
hạn để đảm bảo khả năng thanh toán của dự án.
Phân tích dòng tiền:
Các chỉ tiêu 20... 20... 20...
1. Dòng tiền mặt vào:
Doanh thu
Trừ tài sản lưu động ròng
( có thể không tính tới khoản mục
này).
cộng :khấu hao
2. Dòng tiền mặt ra:
chi phí sản xuất.
Các loại chi phí bằng tiền mặt khác
Mua sắm tài sản cố định bằng tài
sản cố định mới
Thanh toán nợ vay.
Nộp thuế.